BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI GIÁP THÌN 2024 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2020

VĂN TẾ NAM PHONG PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Tiểu dẫn:
Cụ Phạm Quỳnh là một trong bộ tứ "Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố", những người đã góp công sức rất nhiều cho việc truyền bá chữ quốc ngữ trong thời kỳ đầu. Văn nghiệp của cụ rất đồ sộ. Bài văn tế này chỉ phác họa sơ chân dung một học giả đáng kính của nền văn học nước ta trong thế kỷ 20. (Bài này viết cách đây 10 năm rồi).

             
                                       Cụ Phạm Quỳnh


VĂN TẾ NAM PHONG PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

Hỡi ơi!

Trời còn nổi gió hướng Nam, (1)
Đất đã khóc người xứ Bắc. (2)
Những tưởng xông xáo trường văn trận bút, cho thoả lòng mong muôn thuở: Tiếng ta còn, (3)
Ai hay vắng hoe gò trống đồi hoang, mà thắt ruột đau một đời: Tiên sinh mất. (4)
Con trẻ Tạo sao quá đành hanh?
Lão già Thiên nỡ nào quá quắt!

Nhớ tiên sinh xưa,

U oa khóc, tấm dư đồ đà ba mảnh bốn nơi, (5)
Chập chững đi, đoàn dân tộc thì chín người mười tật.
Buổi li loạn can qua trùm sông núi, người chém giặc bắn tây, kẻ trừ gian giết đạo, mối hận thù ngun ngút mấy tầng mây,
Thời nhiễu nhương quan cách ép lương dân, đứa ăn gan hút máu, thằng bóp cổ đè đầu, nỗi bần khổ âm thầm bao tấm cật.
Xếp cẩm, xếp tù múa roi da súng lục, ôi thôi thì bạch quỉ tung hoành,
Quan văn, quan võ mang áo thụng bài ngà, ngao ngán nỗi hoàng triều bất nhất.
Sóng Duy Tân đẩy cao dân trí, ơi ngắn ngủi ơi Đông Kinh Nghĩa Thục, Phan Chu Trinh gánh đứt nửa đường, (6)
Lửa Cách Mạng đòi lại nhân quyền, hỡi thảm thiết hỡi Yên Bái Đầu Đài, Nguyễn Thái Học đầu rơi mặt đất. (7)
Đau đớn nhìn sơn hà gấm vóc, ngày lại ngày xương máu tuôn tràn,
Xót xa thương bách tính dế giun, tháng nối tháng thuế sưu cao chất.
Có phải chăng quốc vận đến hồi cùng?
Hay có lẽ tiền đồ không lối thoát?

Thôi đành,

Phận dại nương phép thi thư,
Tuổi thơ theo đòi nghiên bút.
Giữ nếp nhà gia giáo, bền chí dùi mài kinh sử, trường Thông Ngôn tốt nghiệp lộ tài hoa,
Tiếp dòng dõi trâm anh, quyết tâm rèn luyện văn chương, viện Bác Cổ tiếp thu thêm kiến thức.
Đạo học xưa Khổng Trang Lão Phật, với dân ta bao đời gắn bó, hiểu cho tường để thấy được tinh hoa,
Văn minh nay Mỹ Pháp Anh Nga, cùng thế giới từng ngày đổi thay, học phải rõ mà tiếp thêm sinh lực
Chí đã quyết nâng cao văn hoá, Thổ Nạp Á Âu ấy đúng phương châm,
Lòng toan mưu lập lại thái bình, Lập hiến Hoàng triều chọn làm chiến lược.
Yêu quốc gia phải lo quốc sự, trước tiên là xây nền quốc học, mới toan cầu độc lập hùng cường
Nâng dân trí tất trọng dân quyền, kế tiếp phải cải tạo dân sinh, hầu sớm đạt an bang tự lực.
Tài nào đợi tuổi, biên tu khảo cứu, bài nối bài trau chuốt tiếng dân ta,
Lực giúp cho tâm, diễn thuyết đăng đàn, buổi rồi buổi phục hồi hồn Tổ quốc.
Khai Trí Tiến Đức, với đồng môn miệt mài bàn thảo: sưu tầm, sáng tác, biên tu, khảo luận lắm môn,
Tạp Chí Nam Phong, cùng văn hữu ra sức tuyên truyền: khoa học, văn chương, chính trị, canh nông đủ thức
Mực đen giấy bản, nơi Hà Nội lắm lần diễn thuyết, Ta da vàng gan lớn lớn gan,
Khăn đóng áo dài, giữa Ba Lê cao tiếng luận đàm, Tây mũi lõ mắt xanh xanh mắt.
Mộng Vị Thuỷ (8) phò trợ minh vương,
Giấc Nam Kha (9) viễn trình bắc khuyết.
Rời Nam Phong Tạp Chí, bút nghiên đành xếp lại, mà tính toan tế thế kinh bang
Nhận Lại bộ Thượng Thư, tâm huyết quyết đem ra, để mưu cầu chấn hưng Tổ quốc.
Minh quân lương tướng, biết bao lần cải cách duy tân
Bản quốc ngoại bang, đã lắm cuộc nghị hoà thương thuyết.
Ý chí ấy, nhân cách ấy, đời trăm năm dễ có được ru!
Công lao này, sự nghiệp này, sách vạn chữ khó mà kể xiết!

Hay đâu,

Chí bình sinh sớm tắt, đành dở dang sự nghiệp văn chương;
Bầu tráng chí vụt tan, vèo ngắn ngủi một đời quan chức.
Rừng cờ thắm tung bay toàn thôn phố, bao mừng vui được sức thổi bùng lên
Vành khăn tang trùm kín một gia đình, nỗi đau xót thôi đành ghìm nén chặt
Uy vũ bất năng khuất (10), bút Nam Phong nay hết quét ngang trời,
Lương mộc kỳ hoại hồ (11), gươm Văn Khúc (12) cam đành chôn dưới đất.

Ôi thôi,
Lắm đắng cay, những tưởng chỉ là mơ
Nhiều nuối tiếc, hoá ra toàn có thật.
Ngậm ngùi nhớ bậc hùng tài,
Xót xa khóc người đã khuất.

Hỡi ơi!
Hồn có linh thiêng,
Niệm tình thượng hưởng -

Tháng 3.2009
Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

….....

Chú thích:

1. Gió hướng Nam: Nam Phong, tên tạp chí do ông sáng lập và làm chủ bút từ 1917 - 1934. Khi thôi tham chính năm 1945, ông Phạm Quỳnh có ý trở lại với sự nghiệp văn chương nghiên cứu đang dang dở của mình.
2. Ông Phạm Quỳnh quê tỉnh Hải Dương, miền Bắc nước ta.
3. Trích từ câu nói thời danh của Phạm tiên sinh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn.”
4. Ông mất tại một vùng hoang vắng tại làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên.
5. Phạm tiên sinh sinh năm 1892, lúc bấy giờ sau Hiệp ước Patenôtre, Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc kỳ là vùng bảo hộ, còn Trung kỳ thuộc Hoàng triều Nguyễn nhưng dưới sự giám sát của Khâm sứ Pháp.
6. Ông Phan Châu Trinh chủ trương phong trào Duy Tân nhưng mất sớm vào năm 1926.
7. Ông Nguyễn Thái Học bị xử tử tại Yên Bái năm 1930 sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại.
8. Xưa Khương Tử Nha câu cá ở sông Vị, chờ thời cơ giúp nhà Châu diệt Trụ vương.
9. Giấc mộng Nam Kha là giấc mộng của một người học trò nghèo mơ thấy mình đỗ đạt giúp vua.
10. Trích từ câu: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Sống trong giàu có không mê đắm, trong nghèo khó không đổi thay, dưới cường quyền không khuất phục) nhằm ca tụng khí tiết của người quân tử.
11. Trích từ câu: “Thái sơn kỳ đồi hồ, lương mộc kỳ hoại hồ, thánh nhân kỳ suy hồ!” (Núi Thái đổ sụp sao, cây gỗ tốt mục nát sao, bậc thánh nhân suy tàn sao!), lời than của Khổng phu tử khi lời giảng của ông không được mọi người tin theo.
12. Ngôi sao trong Tử vi ứng với người có tài về văn học. Gươm Văn Khúc: Sức mạnh của văn hoá

Không có nhận xét nào: