BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khánh Ly. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khánh Ly. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC 洞房花燭 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the

Hình ảnh: Động phòng hoa chúc, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Động phòng hoa chúc 洞房花燭 là một thành ngữ gốc Hán, miêu tả quang cảnh của đám cưới truyền thống, nay chỉ đêm tân hôn. Thành ngữ này xuất hiện nhiều trong văn chương cổ.

Động phòng hoa chúc xuất phát từ bài thơ Hòa Vịnh Vũ của Dữu Tín thời Nam Bắc Triều. Trong đó có câu “Động phòng hoa chúc minh, yến dư song vũ khinh”, tạm dịch là: Phòng sâu nến hoa sáng, đôi én lượn nhẹ nhàng.

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the.

Hoa chúc 花燭 có nghĩa là nến hoa. Đây là tập tục truyền thống không thể thiếu trong nghi lễ cưới xin của người Hán. Thông thường, người xưa sẽ thắp một đôi nến lớn ở đại sảnh và phòng tân hôn. Vì trên thân nến có chạm khắc hoa văn rồng phượng bằng vàng bạc nên gọi là hoa chúc. 

MẸ 媄 (CHỮ NÔM) - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

MẸ, chữ Nôm được ghi là . Cấu tạo của chữ gồm có hai phần: Bên trái là bộ nữ và bên phải là chữ mỹ .
MẸ là một chữ Nôm thuộc nhóm chữ Nôm sáng tạo của người Việt, thông qua việc kết hợp giữa thành tố biểu âm và biểu ý. Nghĩa là trong chữ mẹ , nữ là bộ thủ biểu ý chỉ chung cho người nữ, còn mỹ là thành tố biểu âm, cho âm đọc Nôm là mẹ.
Theo nguyên tắc chỉnh vần của chữ Nôm mà thực tế là chỉnh nguyên âm, ta có nguyên tắc: Nguyên âm dòng nào thì chỉnh theo nguyên âm dòng ấy. Chữ mẹ được chỉnh theo nguyên tắc nguyên âm dòng trước là i, iê (ia), ê, e. Cụ thể ở đây là chỉnh từ i → e, từ mỹ → mẹ.
 
Hình ảnh: Chữ Mẹ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.”
(Con cò - Chế Lan Viên)

Lúc chưa biết gì về thế giới, người đầu tiên ta gọi là mẹ. Đến lúc tưởng như đã hiểu hết về đời, tiếng mẹ vẫn là lời còn đó, đôi khi cả đời người cũng chưa thể học xong.
Tiếng “mẹ” bật ra từ môi như một phản xạ, là tiếng gọi phổ thông nhất nằm giữa rất nhiều những tiếng gọi khác trong tiếng Việt như má, u, bu, bầm, mệ, mế, mụ, mạ… Nhóm phụ âm môi (b-ph-v-m) là thứ âm thanh trẻ con dễ bắt chước nhất khi học nói. Vì vậy những từ để gọi người thân như mẹ, bà, ba, bố... đều khởi đầu bằng những âm này.
 

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

CỨU CÁNH 究竟 - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮



“Cứu cánh”, theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, được giảng là: “mục đích cuối cùng.” Đây là cách hiểu quen thuộc trong tiếng Việt hiện đại, thường dùng để chỉ đích đến sau hết của một hành động hay một quá trình.
 
Cứu cánh, chữ Hán viết 究竟, vốn có nghĩa cơ bản là tận cùng, đến mức rốt ráo, từ đó phát triển thành các nghĩa như kết cục, chân tướng của sự việc hoặc dùng như phó từ với nghĩa rốt cục, xét cho cùng.
 
Trong đó:
Cứu nghĩa là đi đến tận nơi theo sách Thuyết Văn Giải Tự. Chữ này về sau còn được dùng với nghĩa truy cứu, khảo sát, tìm cho ra lẽ như trong các từ tra cứu, khảo cứu, nghiên cứu,... Cánh là kết thúc, chỗ dừng sau cùng.
 
Trong cổ văn, cứu cánh thường được dùng với nghĩa truy đến nơi đến chốn hoặc hiểu thấu tận cùng. Ví như trong Sử ký có câu: Phi bác văn cường ký quân tử giả sở bất năng cứu cánh kỳ ý 非博闻彊记君子者所不能究竟其意, tạm dịch là: Nếu không phải là bậc học rộng nhớ nhiều thì không thể hiểu thấu đến cùng ý ấy. Ngoài ra từ này cũng có nghĩa cảnh giới tối hậu, chí cực, cõi Phật như "cứu cánh Niết bàn" trong thuật ngữ Phật giáo.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, từ này được ghi nhận với nghĩa "mục đích cuối cùng". Nghĩa này thực chất là một cách hiểu triển khai từ nghĩa gốc “đi đến tận cùng”, thiên về điểm kết thúc hay đích đến sau cùng của một quá trình.
 
Tuy nhiên do hiện tượng đồng âm, chữ "cứu" trong cứu cánh lại thường bị nhầm với chữ "cứu" trong cứu giúp. Bởi lẽ đây là một từ xuất hiện với tần suất rất cao trong tiếng Việt như trong các từ cứu nạn, cứu trợ, cấp cứu, cứu hộ, cứu hỏa, cứu nguy,... nên không ít người vô thức gán nghĩa "cứu vớt" vào "cứu cánh".
 
三生倏忽真風燭,
九界循環是蟻磨。
或問如何為究竟,
摩訶般若薩婆訶。
 
Tam sinh thúc hốt chân phong chúc,
Cửu giới tuần hoàn thị nghĩ ma.
Hoặc vấn như hà vi cứu cánh,
Ma-ha bát nhã tát-bà-ha.
 
Ba sinh: gió thổi, đuốc loè tắt,
Chín cõi: cối vần, kiến nhẩn nha.
Muốn hỏi thế nào là cứu cánh,
Ma-ha bát nhã, tát-bà-ha!
(Tuệ Trung Thượng sĩ, bản dịch thơ Huệ Chi)
 
Xếp hàng ngang cùng lách
Hiện đại và thô sơ
Xếp hàng dọc mà len
Vượt lên là cứu cánh
Còi xe dồn lanh lảnh
Mồ hôi tháo đầm đìa
Có kế gì phù phép
Sang được đường bên kia!”
                       (Bằng Việt)
 
Xin em nỗi buồn, dừng lại
Anh đang cháy cạn đời mình
Van em, van em… cúi xuống
Nỗi buồn - cứu cánh - hồi sinh.”
               (Nguyễn Minh Dũng)
 
                                                                Bài viết của Khánh Ly
                                                         Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

ĐỒNG ÂM “BÍCH” TRONG TỪ HÁN VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮

Tiếng Việt có Bích, một âm đọc quen thuộc, đặc biệt phổ biến trong tên người và văn chương dân tộc, thường gợi vẻ đẹp trong trẻo, thanh cao và có phần quý giá. Thế nhưng trong hệ thống chữ Hán, đây là tập hợp của nhiều tự dạng khác nhau, với mỗi chữ đều có nguồn gốc và trường nghĩa bất đồng, góp phần tạo nên những sắc thái phong phú cho âm đọc này khi đi vào tiếng Việt.
 
Chúng là những chữ Bích nào?

Bích nghĩa gốc là một loại ngọc quý hình tròn, ở giữa có lỗ, thường dùng làm lễ khí trong thời cổ. Chữ này thuộc kiểu hình thanh, gồm bộ Ngọc () chỉ ý và chữ Bách làm thanh phù. Theo quan niệm xưa, ngọc bích tượng trưng cho trời, sự viên mãn và hài hòa với hình dạng “ngoài tròn, trong rỗng”. Vì lẽ đó, Bích dần được dùng để chỉ ngọc nói chung, đặc biệt là loại ngọc quý, sau mở rộng sang nghĩa vẻ đẹp trọn vẹn, không tì vết, tốt đẹp, tròn đầy,...
 
                 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Khi đi vào tiếng Việt, chữ Bích này trỏ cho vẻ đẹp tinh khiết và quý giá, cho nên những từ mà ta thường gặp trong tiếng Việt như toàn bích, hoàn bích, ngọc bích, bích nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Bích này. Trong tên người, đây cũng là một chữ được ưa chuộng, hàm ý vẻ đẹp thanh cao, hoàn hảo và không chút khuyết điểm.
 
一朝大運有時至,
六印纏腰鳴得意。
黄金百鎰璧百雙,
從車千乘來鄉里。
 
Nhất triêu đại vận hữu thì chí,
Lục ấn triền yêu minh đắc ý.
Hoàng kim bách dật bích bách song,
Tòng xa thiên thặng lai hương lý.
Một mai vận đến công thành,
Tướng công sáu nước ấn vàng ý khoe.
Về làng nghìn chiếc cỗ xe
Trăm đôi ngọc bích trăm bè vàng y.
(Nguyễn Du, bản dịch thơ Lương Trọng Nhàn)
 
璧月高,宵煙裊裊,
銀河轉,漏鼓沈沈。
 
Bích nguyệt cao, tiêu yên niểu niểu,
Ngân hà chuyển, lậu cổ trầm trầm.
Nguyệt biếc cao, mây đêm lãng đãng
Ngân hà chuyển, trống điểm trầm trầm
(Tùng Thiện Vương, bản dịch thơ Phan Văn Các)
 
“Ngựa tuấn nọ còn để xương thiên lý, ngàn vàng chưa dễ mấy ai mua!
Ngọc bích kia chưa tỏ giá liên thành, giọt luỵ chớ hoài riêng kẻ khóc!”
                (Tản Đà)
 
Bích có nghĩa là tường vách.

Đây là loại chữ hình thanh, gồm bộ Thổ biểu ý và chữ Bách biểu âm. Về sau chữ Bích này dần mở rộng ra nhiều tầng nghĩa khác liên quan, ví như chỉ các lớp bao bọc của sự vật như thành lũy trong quân sự, hay các cấu trúc bảo vệ của cơ thể,... Đồng thời chữ này cũng được dùng để chỉ vách núi dựng đứng, gợi cảm giác hiểm trở và hùng vĩ.
 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt, nghĩa này xuất hiện khá rõ qua một số từ quen thuộc ví như tường bích, thạch bích, bích họa, bích báo, xích bích,... Ngoài ra, Bích còn là tên của một vì sao trong hệ Nhị thập bát tú.
 
動如雲鶴,
靜如牆壁。
其輕如毛,
其重如石。
 
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
(Trần Thánh Tông, bản dịch thơ Phạm Tú Châu)
 
Sông Xích Bích luống thương người khốn quẫn,
Bến Tầm Dương còn nhớ khúc Ly tao,
Ngại ngùng thay trong lúc ba đào,
Ai đứng mũi chịu sào cho đáng mặt?”
                             (Trần Tuấn Khải)
 
Nghìn lẻ một đêm mộng thắp đèn
Hồn đi vào giấc ngủ hoa sen
Nền mây bích họa sương vờn bóng
Điên đảo trời sao mắt lượn thuyền.”
                                  (Đinh Hùng)
 
Bích có nghĩa là xanh biếc.

                  
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Phàm những gì mang sắc xanh trong trẻo đều có thể gọi là Bích. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng rằng Bích là loại đá có màu xanh đẹp, gần giống với ngọc. Trong cách nhìn của người xưa, chữ Bích này chính là sắc xanh tinh khiết và sáng trong, thường gắn với những vật quý hoặc cảnh sắc thanh sạch, không nhiễm bụi trần.
Từ đó, chữ Bích xuất hiện nhiều trong tiếng Việt như ngọc bích, bích câu, Bích Câu kỳ ngộ,... thường được dùng rộng để chỉ màu xanh, đặc biệt là trong những hình ảnh trời xanh nước biếc. Đồng thời trong văn chương, Bích còn mang sắc thái thẩm mỹ rõ rệt, được dùng để khắc họa những không gian cao rộng, trong lành và có phần thoát tục.
 
庭舞胎禽雲掩關,
露華嚥罷覺清寬。
碧桃華下渾無事,
時倩東風掃石壇。
 
Đình vũ thai cầm vân yểm quan,
Lộ hoa yến bãi giác thanh khoan.
Bích đào hoa hạ hồn vô sự,
Thời thiến đông phong tảo thạch đàn.
Lân múa thai cầm mây đóng quan
Yên tan hoa lộ tiếng chuông khoan
Dưới hoa đào biếc rành vô sự
Sẽ mượn gió đông quét thạch đàn.
(Chu Văn An, bản dịch thơ Nguyễn Bích Ngô)
 
“Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay.”
                (Hồ Xuân Hương)
 
“Thành tây có cảnh Bích Câu
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.”
                                  (Bích Câu kỳ ngộ)
 
                                                                      Bài viết của Khánh Ly
                                                                       Trích từ Tri thư đạt lễ

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

TỤC HUYỀN 續弦 - Bài viết: Khánh Ly, Tri thư đạt lễ - 知書達禮


 
“Dạy rằng hương lửa ba sinh,
 Dây loan xin nối cầm lành cho ai.”
                               (Truyện Kiều)

Loan huyền, chữ Hán viết 鸞弦, nghĩa là dây đàn đã đứt được nối lại bằng keo loan. Đây là một điển cố trong thần thoại Trung Hoa. Theo Hải nội thập châu ký - Phụng lân châu chép rằng ở châu Phụng Lân Tây Hải có nhiều tiên nhân. Tiên nhân dùng mỏ chim phụng và sừng kỳ lân nấu thành một loại keo thần, có thể nối dính dây cung hoặc dây đàn bị đứt, khiến dây liền lại như cũ. Loại keo ấy gọi là Tục huyền giao 續弦膠 hoặc Loan giao 鸞膠.

Từ điển cố này, hành động nối dây đàn trong văn chương cổ thường được dùng để chỉ việc tái kết duyên vợ chồng, nhất là trường hợp người đàn ông góa vợ lấy vợ kế. Các thành ngữ như Loan giao tái tục 鸞膠再續 hay Loan giao phụng ti 鸞膠鳳絲 cũng đều mang ý nghĩa nối lại mối duyên cầm sắt.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

CHỮ “MINH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Đồng âm Minh, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Tiếng Việt có Minh - một chữ xuất hiện nhiều trong tên người Việt mà ta thường nghĩ ngay tới nét nghĩa sáng sủa, rõ ràng như bình minh, thông minh, minh bạch, v.v..

Nhưng Minh là một chữ khá đặc biệt, bởi vì nó không chỉ mang nghĩa tỏ tường mà ngược lại, Minh còn có cả nét nghĩa tương phản.
Minh có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, trí tuệ. Trong Lục Thư, Minh thuộc loại chữ hội ý. Nó được kết hợp từ hai chữ tượng hình là nhật và nguyệt , mang ý nghĩa liên quan đến ánh sáng. Vì mặt trời và mặt trăng đều là những thiên thể phát sáng trong tự nhiên, sự tồn tại của chúng làm cho thế giới trở nên rực rỡ nên khi ghép hai chữ này lại với nhau, ta có Minh với ý nghĩa sáng sủa. Đây cũng chính là nét nghĩa thường gặp trong tiếng Việt.

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

“THỌ” (壽) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Thọ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Sau Phú và Quý, Ngũ phúc bàn đến Thọ. Thọ, chữ Hán viết .
Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Thọ được giảng là lâu dài. Chữ này cấu tạo từ bộ Lão tỉnh lược biểu ý và chữ Thọ 𠷎 biểu âm. Buổi đầu, Thọ được dùng với nghĩa tuổi thọ và sinh mệnh con người, gắn với khái niệm về thời gian tồn tại chứ vẫn chưa mang ý chúc tụng hay lễ nghi. Càng về sau, chữ Thọ mới dần phái sinh ra nhiều lớp nghĩa, ví như:

“QUÝ” (貴) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Quý, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Quý, chữ Hán viết , là chữ thứ hai trong Ngũ phúc. Thật ra thứ tự ấy không phải ngẫu nhiên. Khi đời sống đã đủ đầy về vật chất, con người bắt đầu để ý đến những giá trị trong cách người xưa nhìn đời, và vì mối quan tâm ấy nên Quý mới xuất hiện sau Phúc.
Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Quý có nghĩa là vật không bị coi rẻ. Chữ này cấu tạo từ bộ Bối , được xác lập khái niệm từ sự đối lập với Tiện , tức cái bị coi rẻ, xem thường.

“PHÚ” (富) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Phú, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 

“Trong nhà có một miệng ăn
Ruộng vườn một khoảnh, quanh năm dư thừa”.
                                                           (Ca dao)
 
Người Việt xưa rất khéo học chữ Hán qua những câu ca dao gần gũi đời thường. Câu ca dao này chính là mẹo vặt để ghi nhớ chữ Phú của ông bà ta.

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

BÀI KỆ “CÁO TẬT THỊ CHÚNG” CỦA MÃN GIÁC THIỀN SƯ - Bài viết của Khánh Ly



Mãn Giác (滿覺, 1052-1096) là một thiền sư thuộc đời thứ tám của dòng thiền Vô Ngôn Thông, từng được vua Lý Nhân Tông trọng đãi và thỉnh làm trụ trì chùa Giáo Nguyên. Trong lịch sử văn học Phật giáo thời Lý, Mãn Giác được nhắc đến nhiều nhất qua bài kệ Cáo tật thị chúng, đọc vào lúc cuối đời và cũng là tác phẩm duy nhất còn lại của Sư.
 
Cáo tật thị chúng, chữ Hán viết 告疾示眾, nghĩa là "báo bệnh cho mọi người biết". Đây là một bài kệ ngắn được Mãn Giác đọc vào cuối tháng 11 năm Hội Phong thứ năm (1096), khi Sư lâm bệnh nặng. Tuy nhiên nhan đề này không phải do chính Mãn Giác đặt. Trong Thiền Uyển Tập Anh chỉ có lời ghi chú hoàn cảnh đọc kệ, vì Lê Quý Đôn đặt tiêu đề cho bài kệ nên sau này bài kệ mới dần được đọc như một bài thơ độc lập, song thực chất nó nằm trong mạch ngữ lục của Mãn Giác Thiền Sư.

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

TÁO QUÂN 竈君 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Táo Quân, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Táo Quân, chữ Hán viết 竈君, trong đó Táo là bếp, Quân là chủ, người đứng đầu. Táo Quân nghĩa là “Ông táo (thần bếp)” theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê).
Trong văn hoá Việt, Táo Quân thường được gọi thân thương là ông Táo hay Táo công. Đây là vị thần trông coi gian bếp, cũng là người giữ sổ sinh hoạt của mỗi gia đình, còn được gọi bằng nhiều tên khác như Táo Thần, Táo Vương, Táo Công Táo Mẫu (Táo Ông Táo Bà), v.v.. Chỉ riêng hệ thống tên gọi đã cho thấy vị thần này luôn biến đổi theo thời đại, theo nhu cầu tín ngưỡng chứ không cố định trong một hình dung duy nhất nào.

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2025

HUYẾT DỤ - Bài viết của Khánh Ly, Tri Thư Đạt Lễ



“Khóm lăng khóm huệ nên hàng
 Cúc hoa nấu hoàng lễ khắp ngoài sân
 Màn trướng tán lục tần vần
 Huyết dụ áo lía để chân đứng bầy.”
                        (Phùng Khắc Khoan)
 
Huyết dụ, hay còn gọi là phát dụ, thiết thụ, long huyết,... tên khoa học Cordyline Terminalis Kunth, vốn là cây thân thảo lâu năm, cao chừng một đến hai thước, thân mảnh có nhiều vết sẹo lá rụng. Lá mọc tập trung ở ngọn, hình lưỡi kiếm, dày và dài, có loại đỏ tía cả hai mặt, cũng có loại một mặt đỏ, một mặt xanh. Hoa màu trắng pha tím, nhỏ li ti, quả tròn và mọng. Cây huyết dụ thường mọc hoang khắp các vùng quê Việt Nam.
 

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

“THANH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết: Khánh Ly, trích Tri thư đạt lễ - 知書達禮



Tiếng Việt có Thanh, một chữ thường gặp trong tên người Việt mà ta nghe qua liền nghĩ đến sắc xanh của tự nhiên, sự trong trẻo của dòng suối hay tiếng tiếng gió ngân khẽ khàng. Ấy vậy nhưng trong kho tàng chữ Hán, Thanh lại mang nhiều dáng vẻ, với mỗi nét nghĩa thi vị đều ứng với một tự hình riêng biệt.
 

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2025

QUẢN HUYỀN 管絃 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ


Hình ảnh: Quản huyền, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ


“Kiệu hoa đâu đã đến ngoài
Quản huyền đâu đã giục người sinh ly.”
                                      (Truyện Kiều)
 
Quản huyền, chữ Hán viết 管絃, nghĩa là ống sáo và dây đàn. Đây là từ ghép đẳng lập, gồm hai thành tố đều có nghĩa. Trong đó, Quản bao gồm các loại nhạc cụ bằng ống, thổi hơi được như sáo, tiêu, sênh, địch,... Huyền là các nhạc cụ gảy dây được như cầm, sắt, tỳ bà,... Quản huyền thường đi đôi với ti trúc 丝竹 (đàn sáo) mà ta quen gọi tơ trúc, để tạo nên bộ đôi điển hình trong âm nhạc cổ đại.
 

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2025

SẢ 𦲺 - Bài viết của Khánh Ly


Hình ảnh: Sả, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Mạ thường về trong giấc mơ con
Cơm muối sả, tập tàng, rau đắng…”
                                    (Mạ, Võ Quê)
 
Sả, chữ Nôm viết 𦲺. Nó còn có nhiều tên gọi khác như sả chanh, hương mao, cỏ sả,... với tên khoa học là Cymbopogon citratus, thuộc họ lúa, mọc nhiều ở vùng nhiệt đới. Ở nước ta, từ đồng bằng đến miền núi, hầu như gia đình nào cũng trồng vài bụi sả quanh vườn. Cây sả mọc thành bụi, cao khoảng 0,8 đến hơn 1,5m. Các bẹ lá ôm khít tạo thành “tép sả”. Lá sả hẹp như lá lúa, bề mặt có lông nhám, toàn thân tỏa hương tinh dầu vừa mát vừa nồng, rất dễ nhận ra, từ lâu đã in sâu vào ký ức bếp Việt.
 

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2025

RAU MÁ (蔞䔍) - Bài viết của Khánh Ly


Hình ảnh: Rau má, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Mình về ta chẳng cho về
Nắm tay kéo lại, mình thì ở đây
Rau má là lá lan dây
Đã trót dan díu, ở đây đừng về
Rau má là lá lan thề
Đã trót dan díu đừng về ở đây.”
                                   (Ca dao)

Rau má, chữ Nôm viết 蔞䔍, còn gọi là tích tuyết thảo hay lôi công thảo, danh pháp khoa học là Centella asiatica, thuộc họ Hoa tán (Apiaceae). Loại cây này dễ sống, thường thấy ở những nơi ẩm ướt, râm mát như bờ mương, thung lũng hay đất tơi xốp, phổ biến ở các vùng nhiệt đới châu Á, Australia và đảo Thái Bình Dương.

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN VÀ CA SĨ KHÁNH LY - Long Phạm

Trịnh Công Sơn và người định mệnh một đĩa cơm chia hai, cùng ngủ trên tờ báo cũ nhàu nát
 

Vừa cách đây ít hôm, danh ca Khánh Ly kỷ niệm sinh nhật tròn 80 tuổi. Tới hôm nay cũng là kỷ niệm 24 năm ngày mất cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đây là cặp đôi huyền thoại đi cùng lịch sử âm nhạc Việt Nam mà hơn nửa thế kỷ qua chưa một ai thay thế được.
 
Cuộc tái ngộ định mệnh tại đường hoa Nguyễn Huệ
 
Đối với Trịnh Công Sơn, Khánh Ly là một cơ duyên kỳ lạ, một phần không thể tách rời với âm nhạc của mình. Bởi thế, tự tay ông đã viết những ca khúc dành riêng cho giọng hát Khánh Ly.
Thực tế đã chứng minh, trong suốt nửa thế kỷ qua, đã có hàng trăm ca sĩ hát nhạc Trịnh, từ bậc danh ca lớn như Thái Thanh, Thanh Thúy, Lệ Thu, Ngọc Lan, Tuấn Ngọc, Khánh Hà… tới hàng diva như Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Hà Trần hay những ca sĩ danh tiếng như Mỹ Tâm, Lệ Quyên, Đàm Vĩnh Hưng, Hồ Ngọc Hà… Thế nhưng, chưa một tiếng hát nào gây tiếng vang rộng lớn, vươn ra nước ngoài và gắn chặt như hình với bóng cùng nhạc Trịnh như Khánh Ly.

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

DANH CA KHÁNH LY KỶ NIỆM SINH NHẬT 80 TUỔI



Danh ca Khánh Ly nói con gái: “Con ở đây với mẹ, mẹ có thể đi bất cứ lúc nào”
Mới đây, kênh Jimmy TV đã chia sẻ một đoạn clip quay lại live show kỷ niệm sinh nhật danh ca Khánh Ly tròn 80 tuổi mới diễn ra cách đây ít hôm.
Được biết, danh ca Khánh Ly vừa trải qua trận đột quỵ, phải nằm viện và sức khỏe khá yếu. Nhưng bà vẫn cố đến sân khấu để giao lưu cùng khán giả.