BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI CANH TÝ 2020 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

ĐI TÌM ĐỊA DANH BÌNH TUY - Phan Chính


             

            ĐI TÌM ĐỊA DANH BÌNH TUY

Có đến hai mươi năm địa danh tỉnh Bình Tuy là một phần đất rộng lớn phía tây nam của tỉnh Bình Thuận ngày nay. Dưới chế độ Việt Nam cộng hoà, từ một sắc lệnh ký ngày 25.10.1956 tỉnh Bình Tuy được thành lập gồm một phần đất của hai huyện Hàm Thuận,Tánh Linh và một phần đất của hai tỉnh Long Khánh, Lâm Đồng cùng lúc với 22 tỉnh miền Nam. Đến năm 1976, khi thành lập tỉnh Thuận Hải thì không còn nữa. Nhiều câu hỏi địa danh tỉnh mới này tại sao là Bình Tuy 平綏, mang ý nghĩa gì? Đối với Ngô Đình Diệm - Tổng thống đệ nhất VNCH vốn là người được hấp thụ nhiều Tây học nhưng cũng chịu ảnh hưởng nền giáo dục Nho giáo của gia đình, cho nên quyết định một tên tỉnh mới phải có lý do nào đó.

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2020

DẤU XƯA TUY PHONG, BÌNH THUẬN - Phan Chính


           


DẤU XƯA TUY PHONG, BÌNH THUẬN

Qua ngữ liệu, nguồn gốc địa danh của một vùng đất người ta có thể hình dung được một phần nào quá trình hình thành và những dấu tích có giá trị lịch sử mà thời gian đã dần dần đánh mất. Tuy Phong ngày nay được biết đến là một nơi địa đầu của tỉnh Bình Thuận, khắc nghiệt của nắng gió nhưng được thiên nhiên bù đắp lại bằng nhiều di tích, danh thắng luôn là những dấu ấn vừa lôi cuốn vừa lạ lùng. Thời gian từ phủ nâng thành tỉnh Bình Thuận vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832), chia làm hai phủ Ninh Thuận và phủ Hàm Thuận, cùng lúc lập thêm 2 huyện Tuy Phong và Tuy Định (theo tổ chức hành chính bấy giờ huyện trực thuộc phủ). Năm 1836, phủ Ninh Thuận (thuộc tỉnh Bình Thuận) có 2 huyện An Phước, Tuy Phong. Huyện Tuy Phong có 4 tổng Bình An, Nghĩa Lập, Tuy Tịnh và tổng đảo Phú Quý (Thuận Tĩnh) gồm 10 đảo lớn nhỏ.

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2020

DẤU XƯA: BÌNH THUẬN - ĐÀ LẠT VÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG / Phan Chính


             


        BÌNH THUẬN - ĐÀ LẠT VÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG
                                                                                  Phan Chính

Đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn mới nối tiếp con đường cái quan (thiên lý, quan lộ, quan báo) đã có, bắt đầu từ Quảng Nam vào tỉnh Bình Thuận và giáp địa giới Biên Hòa. Các con đường sơn lộ tuy có nhưng không mấy thuận lợi do bị cắt khúc, địa hình núi sông hiểm trở, thú dữ hoành hành. Cho nên đường quan lộ được mở rộng theo hướng ven biển và thời này đã hình thành nhiều xóm làng từ những đợt lưu dân phiêu tán bằng đường biển dọc dài từ bắc vào nam. Điểm đặt các dịch trạm cũng là nơi có làng chài, cửa sông và dân cư sống bằng nghề nông ổn định. Đến năm 1822 dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huỳnh Đức mới tiếp tục con đường quan lộ từ kinh đô Huế vào, trong đó trên phần đất trấn Biên Hòa có 6 trạm dịch theo hướng mở ngược ra miền ngoài từ Bình Trước (Biên Hòa) qua ngã ba Vũng Tàu.

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2020

TÍN NGƯỠNG THẦN LINH XỨ BIỂN BÌNH THUẬN - Phan Chính


         


         TÍN NGƯỠNG THẦN LINH XỨ BIỂN BÌNH THUẬN
                                                                                    Phan Chính

Dải đất bờ biển Nam Trung bộ có địa hình phù hợp cho nhiều bến đỗ với làn sóng lưu dân, nhất là từ thời tiểu vương quốc Phanduranga cuối cùng, trở thành Thuận Thành trấn rồi tiếp đó là Bình Thuận phủ (1697). Cho nên đặc trưng về tín ngưỡng ở vùng đất duyên hải Bình Thuận trải dài gần 200 km bờ biển rải rác nhiều di tích đền chùa, miếu mạo, dinh vạn của dân bản địa Chăm - Việt, dân lưu vong Trung Hoa…

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2020

PHIẾM LUẬN: HỎA LÀ LỬA - Đỗ Chiêu Đức


                Ã„á»— Chiêu Đức
                            Tác giả Đỗ Chiêu Đức


              PHIẾM LUẬN: HỎA LÀ LỬA 
                                                                            Đỗ Chiêu Đức

Theo Phật giáo, cơ thể con người là do Tứ Đại : Phong Thủy Hỏa Thổ, tức là Đất Nước Gió Lửa kết hợp lại mà thành, nên bản thân con người đã có một phần tư là lửa ở trong đó rồi, ngọn lửa đó cứ âm ỉ mãi trong ngũ tạng lục phủ tạo nên sự ham muốn mãnh liệt mà ta gọi là Lửa Dục Vọng. Trong văn chương Phật giáo thì gọi nhẹ nhàng hơn : Lửa Lòng. Như cụ Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều khi tu ở Quan Âm Các:

Cho hay giọt nước cành dương                        
Lửa Lòng tưới tắt mọi đường trần duyên…

và như lời của Thúy Kiều đã phân bua với Vương Viên Ngoại khi ông muốn nàng từ giả sư Giác Duyên để theo mọi người về nhà đoàn tụ:                                

Sự đời đã tắt Lửa Lòng,                        
Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?!

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

VỀ “NGƯỜI TÌNH THÔN VỸ ” CỦA HÀN MẶC TỬ: HOÀNG THỊ KIM CÚC - Phan Thanh Tâm

Nguồn:
https://kontumquetoi.com/2015/02/17/ve-nguoi-tinh-thon-vy-cua-han-mac-tuhoang-thi-kim-cuc/


      Hoang-Thi-Kim-Cuc-11230
                         Cô Hoàng Thị Kim Cúc (1913-1989)


        CÔ GÁI HUẾ THỜI TIỀN CHIẾN
                                                Phan Thanh Tâm

Huế đâu chỉ có sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền mà còn có Thôn Vỹ. Thôn này có bóng dáng một cô gái Huế thời tiền chiến: Cô Hoàng Thị Kim Cúc (1913-1989), người tình trong mộng của thi sĩ Hàn Mạc Tử. Cô còn là “Chị Cả” của tất cả anh chị em gia đình Phật tử  ba miền đất nước và Cô còn để lại một di sản văn hóa cho thế hệ mai sau: hai bộ sách nổi tiếng "Những Món Ăn Nấu Lối Huế"; "Cách Nấu Chay".


  


     

Bài thơ "Ở Đây Thôn Vỹ Dạ", được Hàn Mạc Tử viết từ năm 1939, đã đưa địa danh Vỹ Dạ và mối tình đầu của một thi sĩ tài hoa nhưng mệnh yểu vào văn học sử. Đó là một kỷ niệm của một mối tình trong trắng, thanh cao và bất diệt giữa hai tâm hồn khác tôn giáo. Cô Hoàng Thị Kim Cúc, người đẹp trong cuộc, đã xác nhận như vậy. Tuy thế, vẫn có nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuổi trong hơn nửa thế kỷ qua đã viết về chuyện tình Hàn Mạc Tử + Kim Cúc không trung thực, “có khuynh hướng liêu trai hóa”. Vì vậy, gần đây mới có cuốn "Lá Trúc Che Ngang Chuyện Tình Của Cô Tôi " ra đời ở Huế.
Tác giả Hoàng Thị Quỳnh Hoa, cựu Giáo sư Anh Văn trường Nữ Trung Học Gia Long ở Sài Gòn trước 1975, hiện định cư ở Maryland, năm 2013 đã cho xuất bản cuốn sách dày 198 trang nhân 100 năm sinh nhật của cô mình, để phản bác các sai trái. Sách còn cho thấy chân dung của cô Kim Cúc. Tác giả Quỳnh Hoa đã mất 10 năm tra cứu tài liệu sách báo; đã về Huế nhiều lần để tham khảo thư từ mà cô mình để lại. Cô Kim Cúc bị hôn mê sau một tai nạn giao thông ở Saigon và qua đời ở Thôn Vỹ. Đám tang của cô ở Huế, ngày 15 tháng 2 năm 1989, được xem như  một trong vài đám tang lớn nhất từ trước tới nay.

han-mac-tu-6

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

SỬ VIỆT CHO CHÁU - Lê Nghị

Để định hướng vấn đề nguồn gốc người Việt và tiếng Việt theo tiêu chí : trung thực- dân tộc - nhân văn, bổ sung cho bài số 1 mở đầu, chúng tôi xin trích một đoạn biên khảo khá dài, nhưng thiễn nghĩ cần thiết truyền đạt cho trẻ em khi giảng sử.

           
                          Tác giả Lê Nghị 


           SỬ VIỆT CHO CHÁU

Theo luận thuyết thiên di chủng tộc tự nhiên (out of Africa: rời khỏi châu Phi) và di dân nhân tạo kéo theo biến đổi ngôn ngữ thì:
- Chủng tộc Việt là hậu duệ của Nam Á.
- Chủng tộc Hoa nam ( M122) là hậu duệ người Việt cổ (M175)
- Chủng tộc Hạ là hậu duệ của chủng Việt Hoa nam và chủng Mongoloid. (M122+M174)

Dẫn tới:

 - Tiếng Hoa Nam là hậu duệ của tiếng Việt bao gồm cả lời nói và chữ viết.
 - Tiếng Trung ngày nay là hậu duệ của tiếng Việt Hoa Nam và tiếng của tộc Hạ. Trong đó tiếng Việt Hoa Nam chiếm đến 80%
- Tiếng Việt ngày nay bao gồm cổ ngữ và kim ngữ. Kim ngữ, tiếng Nôm hay thuần Việt là bộ phận tiếng Trung ngày nay không sử dụng.
- Cổ ngữ Việt là tập hợp giao của tiếng Việt và tiếng Trung (tức ngày nay ta gọi Hán- Việt, bị hiểu lầm là gốc từ Hán. Sự thật thì đa phần là ngược lại). Nói cách khác tiếng Việt ngày nay có cổ ngữ, kim ngữ và một phần rất nhỏ Hoa ngữ. Quá trình ngàn năm nô lệ và giao lưu văn hoá người Việt cũng có sử dụng một ít Hoa ngữ có nguồn gốc người Hạ là không thể chối cãi.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

ĐƯỜNG CÁI QUAN QUA ĐẤT BÌNH THUẬN THUỞ XƯA - Phan Chính


         


Lịch sử con đường thiên lý nối từ Bắc vào Nam, đi ngang qua đất Bình Thuận từ buổi đầu hình thành vẫn còn là những điều thật kỳ thú đối với thế hệ sau này. Qua các thời kỳ có nhiều tên gọi khác nhau, đường quan lộ, đường hạ đạo, đường quan báo, đường cái quan… có một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển, mở mang đất nước từ giữa thế kỷ XI thời Lý Thái Tông (1028 -1054). Trên lãnh thổ Bình Thuận, phải liên hệ lại từ giữa thế kỷ XVII, người Chăm đã biết mở đường mòn, sử dụng voi làm phương tiện vận chuyển trong khai thác tài nguyên vùng rừng và biển miền Trung.

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2020

BÌNH THUẬN TRONG HÀNH TRÌNH MỞ ĐẤT - Phan Chính


          


      BÌNH THUẬN TRONG HÀNH TRÌNH MỞ ĐẤT
                                                                                  Phan Chính

Có lẽ địa danh Bình Thuận xuất hiện sớm nhất vào năm Đinh Sửu (1697), lúc ấy là một phủ của trấn Thuận Thành, sau khi Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính dẹp được nạn loạn vua Chiêm Bà Tranh và chiếm được phần đất cuối cùng của Champa từ Phan Rang đến xứ Chân Lạp. Thời vua Gia Long đặt dinh Bình Thuận, rồi đến Minh Mạng thứ 4 (1823) đặt lại phủ Bình Thuận có 2 huyện An Phước và Hòa Đa. Trong quảng thời gian gần 130 năm đó, Bình Thuận qua nhiều lần thay đổi cấp hành chính dinh, trấn, phủ bao gồm một phần đất của Ninh Thuận, Lâm Đồng và phía nam Tây nguyên.

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2020

LA GI, ĐỘNG TRẮNG BÊN CỬA BIỂN BA ĐĂNG - Phan Chính


           


           LA GI, ĐỘNG TRẮNG BÊN CỬA BIỂN BA ĐĂNG

         Dọc dài 28 km bờ biển thị xã La Gi còn lạc lõng một phần đất rộng khoảng năm mươi mẫu nhưng được thiên nhiên ban tặng cho một cảnh quan lạ lẫm và thơ mộng. Ba phía là bờ biển hoang sơ và đồi cát cao nghiêng bóng xuống dòng sông đầy cây xanh quyến rũ. Đó là Động Trắng, một địa danh gắn liền với bao truyền thuyết và lưu dấu cư dân ngày xưa, nằm bên bờ tả ngạn cửa tấn Ma Ly (Sông Phan) và phía hữu ngạn là làng chài Ba Đăng (thôn Hiệp Thành, xã Tân Hải). 

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2020

BÌNH THUẬN, MỘT THỜI CÁC LÁI GHE BẦU ! - Phan Chính





       BÌNH THUẬN, MỘT THỜI CÁC LÁI GHE BẦU !
                                                                                   Phan Chính

        Đất nước ta có lợi thế bờ biển dọc dài từ Bắc vào Nam. Trong đó Bình Thuận cũng có chiều dài 192km. Lịch sử hình thành cư dân, khai khẩn đất hoang cũng khởi đầu từ đầu thế kỷ 18 với những chiếc ghe bầu đưa lưu dân xuôi nam làm nên xóm làng và ngược lại cung cấp hàng hóa, thực phẩm cho đất kinh đô. Nhưng được biết đến vai trò ghe bầu đắc dụng hơn là dưới thời Nguyễn Ánh đã có trong tay 235 ghe bầu và khoảng 500 chiến thuyền, lập ra những đội “trường đà” hùng hậu có mặt trên biển đông giáp với Hoàng Sa, Trường Sa và hoạt động chài lưới xa bờ dài ngày. Không những riêng cho khả năng quân sự mà trong thương mại ghe bầu còn là phương tiện vận chuyển, chuyên chở hàng hóa, lương thực hiệu quả nhất. Ghe bầu ở nước ta có lai lịch của thuyền buồm gốc Chăm- Mã Lai, cách đọc do biến âm từ “gay” (ghe thuyền) và “prau” (thuyền buồm), rồi người Việt đọc từ pràu thành bầu. Người dân miền Trung thiết kế ghe bầu theo kiểu dáng ghe prau với loại lâm đặc sản thích hợp và nguyên liệu mủ chai, dầu rái… khá phổ biến ở địa phương. Bởi ảnh hưởng đó mà dễ phân biệt thuyền miền Bắc khác với ghe phía Nam qua cánh buồm.



Thứ Bảy, 29 tháng 2, 2020

THUYỀN THÚNG TRÊN BỜ BIỂN LA GI - Phan Chính


                


        THUYỀN THÚNG TRÊN BỜ BIỂN LA GI
                                                                        Phan Chính

        Dọc dài bờ biển 28 km của thị xã La Gi (Bình Thuận) vẫn tồn tại các bến thuyền thúng nằm trên bãi ngang ở Cam Bình, Hồ Tôm, Tân Long, Bàu Dòi, Ba Đăng… Nhưng tập trung nhiều nhất là bến Bàu Dòi (Tân Tiến) và Cam Bình (Tân Phước) với gần 600 chiếc. Mùa bấc rồi chuyển sang giêng, biển động mạnh, thuyền máy đánh khơi xa phải nằm chờ, thì nghề thuyền thúng lại đắc dụng với mặt nước biển gần bờ bằng lưới nậu, lưới rê vài sải tay. Với mùa giêng này loài cá nhiều nhất chạy ngoài chân sóng là cá ve, cá trích, cá đục, cá hanh, cá đối… Riêng ở Tam Tân thì có giống tôm bạc với chất thịt chắc đậm nhưng nay gần như biệt dạng. Thời gian thuyền thúng tung lưới vào buổi chập sáng đến khi mặt trời lên thì kéo thúng lên bờ. Ở bãi Cam Bình khác hơn các nơi là dùng xe bò một con ra bãi biển, tháo dây ách bò, hạ thùng xe để đẩy thúng lên đưa vào mô cát cao. Nhiều con bò quanh năm quen với đất ruộng vậy mà tỏ ra thành thạo, chỉ một thao tác hất sừng cho càng xe đặt vào cổ rất nhẹ nhàng. Cái cảnh thường thấy trước đây là phải bốn năm ngư phủ ra sức hì hục choàng dây đai nhấc bổng thúng chuyển lên bờ xa hàng trăm bước.


Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2020

SỰ KỲ BÍ TRỐNG ĐỒNG LẠC VIỆT ẨN CHỨA KINH DỊCH ĐÃ ĐƯỢC KHÁM PHÁ - Nguyễn Xuân Đài

Nguồn:
https://healthplus.vn/su-ky-bi-trong-dong-lac-viet-an-chua-kinh-dich-da-duoc-kham-pha-d69298.html


           
                   Trống đồng Hoàng Hạ của nền văn hóa Đông Sơn

HEALTH+ | LTS: Sau một buổi hội thảo cũng như giới thiệu sách của một nhà nghiên cứu người Pháp gốc Việt về Kinh dịch và những bí ẩn của trống đồng cổ nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài đã gọi điện và chia sẻ về những bí ẩn thú vị về kinh dịch cũng như trống đồng cổ mà ông vừa được nghe trình bày tại hội thảo cũng như những trao đổi trực tiếp từ diễn giả tại nhà ông. Và đúng như ông nói, ông đã chia sẻ kỹ hơn về những bí ẩn nguồn gốc của trống đồng Việt cổ và nguồn gốc 64 quẻ kinh dịch trong bài viết này với độc giả Health+. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

SỰ KỲ BÍ TRỐNG ĐỒNG LẠC VIỆT ẨN CHỨA KINH DỊCH ĐÃ ĐƯỢC KHÁM PHÁ

Năm 2017, Trung tâm Văn hóa Pháp - L’Espace đã tổ chức một buổi hội thảo khá lý thú nhằm chia sẻ về Kinh Dịch và những bí ẩn trên mặt trống đồng Đông Sơn - Bảo vật quốc gia của Việt Nam, và một số trống đồng khác do bác sỹ Lê Trọng Tước - Giáo sư Kinh Dịch, Chủ tịch Hội đồng cao cấp quốc tế Kinh Dịch, Chủ tịch Hội Phong thủy Châu Á, Chủ tịch Hội Phát triển kỹ thuật Y-Khoa nước Pháp ra ngoại quốc, làm diễn giả chính. Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước.
Năm 2018, một lần nữa bác sỹ Lê Trọng Tước lại chia sẻ về những nghiên cứu của ông trong một buổi nói chuyện với các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian của tỉnh Phú Thọ, trong lần thăm Đất Tổ Đền Hùng, mà ông đã viết rõ trong cuốn sách của mình. Lần đầu tiên trên thế giới, tác giả đưa ra những giải thích rõ ràng và không thể phản bác về cấu trúc liên tiếp của 64 quẻ Kinh Dịch. Dựa trên quá trình nghiên cứu về trống đồng, ông đã tìm được bí ẩn mà các tác giả Kinh Dịch của thời đại các Vua Hùng đã cất giấu trên mặt các trống và mặt trong các trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ và mặt trống đồng Quảng Xương họa đồ Trung Thiên Đồ Lạc Việt (Hay Trung Thiên Bát Quái) và Hậu Thiên Đồ Lạc Việt (Hậu Thiên Bát Quái).
Thực tế, trống đồng và Kinh dịch đều ẩn chứ vô vàn bí mật. Vén màn những bí mật đó sẽ cho con người có cái nhìn thấu đáo hơn về những bí mật của lịch sử thế giới hàng nghìn hàng vạn năm. Trong phạm vi bài viết này, người viết sẽ ghi lại những nhận định về các “bí mật” mà mình đã từng được nghe, được thấy và được chiêm nghiệm.

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2020

SÔNG DINH, DÒNG SÔNG MUÔN THUỞ - Phan Chính


          

          SÔNG DINH, DÒNG SÔNG MUÔN THUỞ
                                                                            Phan Chính

          Sông Dinh ở La Gi xuất phát từ Núi Ông thuộc huyện Tánh Linh, chảy qua huyện Hàm Tân, nhưng đoạn ngang qua phần đất thị xã La Gi khoảng 6 km rồi trổ ra cửa biển để hòa vào đại dương mênh mông. Sách xưa mô tả sông La Di phát nguồn từ phía tây huyện Tuy Lý 70 dặm, đầu nguồn từ động Mọi và hợp lưu các khe suối núi Chà Cố chảy đến xứ Bồn Bồn rồi tuôn ra cửa biển La Di/La Gi. Thực ra tên gọi Sông Dinh không những ở La Gi, Bình Thuận mà còn có ở nhiều nơi như Phú Yên, Ninh Thuận, Quảng Bình, Bà Rịa-Vũng Tàu… lại gắn với truyền thuyết rất riêng. Qua các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, cho rằng đối với người Chăm xưa thường gọi những đoạn sông chảy ngang hoặc hướng về khu cư dân đông đảo, nơi có thờ các thần linh với nguyên từ là “nau-ding”, từ chữ Ding phát âm là “Tìng”, người Việt phiên âm thành Dinh, để tương ứng với nghĩa là nơi thờ thần linh ở những địa bàn cư dân tập trung. Sông Dinh ở La Gi còn gọi là sông La Di như trong sách Đại Nam nhất thống chí triều Nguyễn có ghi chép.

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2019

“BINH THƯ YẾU LƯỢC” CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO BÀN VỀ PHÉP HÀNH QUÂN - Trịnh Sinh


                   Đền thờ Trần Hưng Đạo tại Kiếp Bạc, Hải Dương. Ảnh: Trịnh  Sinh


“BINH THƯ YẾU LƯỢC” CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO BÀN VỀ PHÉP HÀNH QUÂN 
                                                                                    Trịnh Sinh

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị tướng đại tài trong lịch sử dân tộc. Ông không những có công đuổi giặc Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi nước ta, mà còn là một nhà văn kiệt xuất với áng văn bất hủ “Hịch tướng sĩ” (nguyên văn chữ Hán là Dụ Chư Tỳ tướng hịch văn) làm nức lòng quân dân Đại Việt trong lúc thế giặc mạnh như chẻ tre.

Vào năm 1284, Thoát Hoan chỉ huy quân Nguyên Mông xâm lược nước ta đã chiếm được ải Chi Lăng, quân ta phải lui binh về Vạn Kiếp. Vua Trần Nhân Tông đã phải mời Trần Hưng Đạo đến để hỏi ý kiến nên đánh hay nên hàng: “Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?”. Trần Hưng Đạo đã quyết tâm chiến đấu: “Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng”. Nhờ đó mà Trần Nhân Tông cũng quyết tâm cùng quân dân đi đến cùng của cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thắng lợi. Cũng một phần nhờ tài năng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mà quần tụ được 20 vạn quân sĩ ở Vạn Kiếp và khích lệ quân sĩ bằng “Hịch tướng sĩ”. Trong dịp này, Trần Hưng Đạo cũng viết sách “Binh thư yếu lược” để cho quân tướng của mình biết các binh pháp đối phó với giặc. Cuối cùng, quân ta đã đại thắng trong cuộc chiến lần thứ hai.

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2019

NÔM NA LÀ CHA MÁCH QUÉ - Tuệ Chương Hoàng Long Hải


            
                  Tác giả Tuệ Chương Hoàng Long Hải


           NÔM NA LÀ CHA MÁCH QUÉ

Nhân dịp“Viện Việt Học” vừa cho xuất bản “Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn”
                                                         
Lời nói đầu:

Khi còn ở trong nước, tôi có định kiến với những người trẻ lớn lên ở hải ngoại. Họ học ở nhà trường Âu Mỹ, nơi có bết bao nhiêu cái hay cái đẹp để tìm hiểu. Chỉ nói riêng các nhà văn Pháp trong “Thế Kỷ Ánh Sáng” cũng quá đủ cho những ai muốn tìm hiểu về dân chủ, tự do, nhân quyền, cũng như học thuật, tư tưởng hiện đại. Ở Mỹ, đọc Jack London, ai không say mê. Còn nói tới John Steinbeck hay William Faulkner, Hernest Hemingway, những nhà văn lớn được giải Nobel, với bao nhiêu tác phẩm của họ, chỉ mới đọc thôi, cũng đủ “mệt”, nói chi tới những công trình nghiên cứu về họ, bỏ thì giờ học và nghiên cứu về họ thì coi như mất hết cả một thời mê đọc sách, nói sao cho hết. Vậy mà khi tới trại tỵ nạn, tôi suýt giật mình vì một bản tin nhỏ đăng trên tời “Diễn Đàn Tự Do” xuất bản ở Virginia, về một cô sinh viên đang chuẩn bị luận án tiến sĩ . Cô ta dự tính về Việt Nam để nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm cho luận án ấy. Dưới con mắt của Công An [], có thể họ cho rằng cô nầy chẳng nghiên cứu gì hết, chỉ là nại cái cớ để về Việt Nam với sứ mạng nào đó do CIA giao phó.
Tôi không nghĩ như vậy. Văn học cổ Việt Nam, tuy chịu ảnh hưởng văn học Tầu khá đậm nhưng không phải là không có những cái đặc sắc của nó. Thậm chí còn hay hơn cái gốc mà nó chịu ảnh hưởng.
Người Việt Nam học cổ văn, ít ra, người ấy cũng có đọc truyện Kiều. Có người mê Kiều là đằng khác. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm chữ Nôm có nguồn gốc bên Tầu viết bằng chữ Hán, nhưng truyện Kiều của tay hay quá, hay hơn truyện Kiều của Tầu nhiều lắm, coi như một biểu tượng đặc sắc của văn học Việt Nam, có thể góp mặt với các tác phẩm nổi tiếng khắp năm châu bốn biển. Trong khi đó truyện Kiều của Dư Hoài bên Tầu thì chẳng ai đánh giá cao. Tỳ Bà Hành cũng vậy. Không thiếu người “mê” Tỳ Bà Hành. Theo nhiều nhà Nho thì Tỳ Bà Hành chữ Nôm của Phan Huy Vịnh hay hơn Tỳ Bà Hành chữ Hán của Bạch Cư Dị khá xa. Thế hệ ngày nay chịu ảnh hưởng văn học Âu Mỹ khá đậm,, nhứt là văn học Pháp, không thiếu người bắt chước, mô phỏng, dịch hay “chạy” theo, cũng “dịch hạch”, cũng “nôn mửa”, cũng “phi lý” nhưng xem ra các “đệ tử” bên ta thua “sư phụ” bên Tây nhiều lắm, không như người xưa, có theo đó mà vượt qua đó. Đủ biết chúng ta cần học tổ tiên ta thêm nhiều hơn nữa, làm sao để như người xưa, vượt qua những khuôn vàng thước ngọc do người đi trước đã bày ra.
Tôi từng có cái may mắn mười năm dạy cho học trò những tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Thánh Tôn, Đoàn Thị Điểm, Ôn Như Hầu ở các lớp Đệ Ngũ và Đệ Tam, nên vì chén cơm mà cố tìm hiểu các tác giả nầy.
Cái đặc sác bậc nhứt trong thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm là “vô vi” của Lão. “Vô vi” là không làm cái gì trái với đạo Trời, với thiên nhiên: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.” Về ăn thì, mùa nào, trời cho cái gì, ăn cái đó, không bày biện phức tạp, cầu kỳ. Về chơi “Xuân tắm hồ sen hạ tám ao” thì chính là điều tự nhiên theo thiên nhiên vậy. Nguyễn Bỉnh Khiên là bậc “đạt nhân quân tử”, khi gặp thời thì giúp vua trị nước, gặp lúc nịnh thần lông hành thì cáo quan về “ngao du sơn thủy”, không vì cái công danh mà ràng buộc thân mình. Chưa kể khi nói tới Trạng Trình mà không nói tới “Sấm Trạnh Trình” thì sự thú vị mất đi nhiều lắm.
Bản tin trên tờ “Diễn Đàn Tự Do” ám ảnh tôi 15 năm, nhất là bây giờ xuất hiện nhều bài viết bàn về chữ Nôm trên các trang Web. Chữ Nôm là chữ của người Việt Nam, nhưng từ khi có chữ Quốc ngữ, các tác phẩm chữ Nôm được viết lại bằng chữ Quốc ngữ, khiến có người quên mất, tưởng như không có sự xuất hiện của chữ Nôm một thời gian dài trong lịch sử văn học nước ta. Do vậy, tôi thấy việc nghiên cứu chữ Nôm là cần thiết. Văn học chữ Nôm là một nền văn học lớn của người Việt Nam, cần tìm hiểu lại từ đầu. Đọc nó, những bài thơ như “Vua dụ Vương Tường gả cho chúa Thuyền Vu”, “Vua Trần Trùng Quang tiễn Nguyễn Biểu đi sứ” hay bài văn Nôm đầu tiên, bài “Văn Tế Cá Sấu của Nguyễn Thuyên”… sẽ thấy rằng, cách nay cả ngàn năm mà sao văn thơ chữ Nôm hồi ấy hay như thế!!!!
                                              Tác giả Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

HAI ĐỘNG TỪ “VÀO/RA” TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI - Nguyễn Tài Cẩn

Nguồn:
http://www.vusta.vn/vi/news/Thong-tin-Su-kien-Thanh-tuu-KH-CN/Hai-dong-tu-Vao-Ra-trong-tieng-Viet-hien-dai-48808.html

            
                     

GS.TS, NGND Nguyễn Tài Cẩn, sinh ngày 22/5/1926, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ học, khoa Ngữ Văn, trường Đại học tổng hợp Hà Nội, nguyên giáo sư kiêm nhiệm khoa Ngôn ngữ học, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN. Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ năm 2000, đã từ trần hồi 19h04’, ngày 25/02/2011 tại nhà riêng ở Matxcơva, Cộng hòa liên bang Nga, thọ 85 tuổi.


HAI ĐỘNG TỪ “VÀO/RA” TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
                                                                                  Nguyễn Tài Cẩn

Bài này vốn là lá thư GS. Nguyễn Tài Cẩn gửi cho ông Nguyên Thanh, sau khi đọc bài của ông đăng trên báo Đoàn Kết số 410 (tháng 2-1989, tập san của Hội người Việt Nam tại Pháp) thử cắt nghĩa nguồn gốc của thành ngữ ra Bắc vào Nam (mà theo tác giả chỉ là một bài bàn chuyện phiếm). Đây cũng là bài mà giáo sư đã viết trước đó một năm để trả lời cho nhà nghiên cứu Tiệp Khắc Ivo Vatxiliep về vấn đề này. Nhận thấy giá trị của bài này, mãi đến năm 2006, ông Nguyên Thanh mới cho đăng lên mạng diễn đàn ở Pháp. Đây không chỉ là vấn đề ngôn ngữ, mà còn liên quan đến nhiều khái niệm về lịch sử, nên chúng tôi xin giới thiệu lại với bạn đọc, để tưởng nhớ đến nhà ngôn ngữ học tài ba vừa qua đời cách đây ít lâu.

VÌ SAO GỌI “TRONG NAM, NGOÀI BẮC”, “VÀO NAM, RA BẮC”? - Nguyễn Chương


     


VÌ SAO GỌI “TRONG NAM, NGOÀI BẮC”, “VÀO NAM, RA BẮC”?

                                                                            Nguyễn Chương

1/ Cách gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô/vào Nam, ra Bắc” bắt nguồn từ danh xưng Đàng Trong/Đàng Ngoài vào thế kỷ 17 & 18.
Tiếng Việt chúng ta khi nói “trong” tức là trung tâm so với “ngoài”; bao giờ “trong” cũng có vai vế hơn (về mặt thực tiễn) so với “ngoài”. Ta nói “trong kinh thành, ngoài biên ải”, chớ không ai đi phân định “trong biên ải, ngoài kinh thành” hết.

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 38: CỬU - Đỗ Chiêu Đức


               Ã„á»— Chiêu Đức
                                     Tác giả Đỗ Chiêu Đức


               THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 38: CỬU
                                                              Đỗ Chiêu Đức
                            
CỬU NGŨ CHÍ TÔN
                                  
   Theo quan niệm bình dân, Trung Hoa xưa chia các chữ số thành hai loại : Số Lẻ là DƯƠNG; Số Chẵn là ÂM. Trong các số DƯƠNG, số 9 (Cửu) là số cao nhất; số 5 (ngũ) là số ở giữa, nên mới lấy số 9 và số 5 tượng trưng cho uy quyền của một đế vương, gọi là CỬU NGŨ CHÍ TÔN 九五至尊.

           
                                           Cửu Ngũ Chí Tôn                                                                                                                                                                   

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2019

VĂN HỌC SỬ: MỘT GÓC NHÌN MỚI VỀ NGUỒN GỐC CHÂN THỰC CỦA TRUYỆN KIỀU (tiếp theo) - Lê Nghị


         
                            Tác giả Lê Nghị


VĂN HỌC SỬ: MỘT GÓC NHÌN MỚI VỀ NGUỒN GỐC CHÂN THỰC CỦA TRUYỆN KIỀU (tiếp theo)
                                                                                               Lê Nghị

Nhiều người nghĩ rằng tôi bài Tàu nên đưa ra tư tưởng cực đoan: Nguyễn Du tự vẽ nên truyện Kiều! Thực ra các vị đó chưa đọc hết những gì tôi đã viết. Có tích mới dịch ra tuồng. Đó là kinh nghiệm lâu đời cha ông truyền lại, tôi làm sao quên!?
Khảo sát của tôi là xác định phần nào Nguyễn Du đã mượn để chế biến, phần nào là sáng tạo.

                                           Các bản in Truyện Kiều thời Tự Đức