BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÂU CHUYỆN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÂU CHUYỆN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

TÔI ĐÃ BIẾT GÌ VỀ NHẤT LINH - Đông Hồ

                                       (Fb Thú chơi sách)
                        
                            Chân dung Nhất Linh của danh họa Nguyễn Gia Trí.
                                                   Bức họa chưa hoàn tất, bàn tay còn dang dở.

Anh Nguiễn-Ngu-Í,
Chắc rằng anh muốn hỏi tôi về Nhất-Linh; chớ không hỏi tôi về Nguyễn-Tường-Tam. Có như thế thì tôi mới trả lời anh được. Nói như vậy là tôi muốn nhận định phân minh hai lãnh vực trong một nhân-vật. Là tôi chỉ có biết về nhà văn - sĩ Nhất-Linh mà không được biết về nhà chính trị Nguyễn-Tường-Tam.
Tôi có cảm tình với Nhất - Linh, tôi có yêu mến Nhất-Linh, tôi có phán đoán về Nhất-Linh, là tôi nhìn Nhất-Linh ở trong địa hạt văn chương, vì bút hiệu đó xuất hiện như một ngôi sao chói lọi trên nền trời văn học.
Trừ ra hai tác phẩm đầu tay khi mới tập viết để vấn thế là Nho PhongNgười Quay Tơ, ký tên là Nguyễn-Tường-Tam, còn tất cả tác phẩm năm 1932-1933 trở về sau, đều ký bút hiệu là Nhất-Linh, trong sách cũng như trong báo, từ Phong-hóa Ngày-nay ở Hà-nội cho đến Văn-hóa Ngày-nay, tại Sài-gòn hồi gần đây.
Phán đoán về văn nghiệp Nhất-Linh, tôi có hai nhận định này:
1.- Văn trào phúng của báo Phong-hóa, Ngày-nay.
2.- Văn tiểu thuyết của Tự-lực văn-đoàn.
***

GIANG HỒ LÀ GÌ? – Bài viết của Tiểu Vũ


                                    Ảnh: Tác giả bài thơ Phạm Hữu Quang - Ông sinh 1952 mất năm 2000

Những ngày gần đây, những cái tên như Huấn Hoa Hồng, Khánh Sky lại được nhắc nhiều trên mạng xã hội, thường đi kèm một danh xưng đã trở nên quen thuộc: “giang hồ mạng”.
 
Nhưng nếu trở về với nghĩa gốc của hai chữ “giang hồ”, có lẽ phải đặt một câu hỏi khác: những người được gọi như vậy hôm nay có thật sự xứng đáng với hai chữ “giang hồ”?
 
“Giang hồ” là một từ Hán - Việt, viết bằng chữ Hán là 江湖. Trong đó, (giang) nghĩa là sông lớn, còn (hồ) nghĩa là hồ nước. Theo nghĩa gốc, giang hồ là sông và hồ, dùng để chỉ không gian sông nước rộng lớn. Từ hình ảnh địa lý này, về sau “giang hồ” mới được mở rộng thành một khái niệm văn hóa, chỉ thế giới bên ngoài chốn quan trường và đời sống quyền lực.
 

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

THƯ GỞI VỢ CỦA CỐ NHÀ VĂN DUYÊN ANH – Đinh Tiến Luyện, Vũ Phan Anh sưu tầm

Thuở thiếu thời, tôi mê mẩn những tác phẩm của Duyên Anh, đọc hầu như ko thiếu cuốn nào của ông ấy, từ Dũng Đa kao cho tới Điệu ru nước mắt và Sa mạc tuổi trẻ. Sau 30/4/1975, văn tài ảnh hưởng khá nhiều đến thanh thiếu niên miền Nam này phải xách gói vào trại cải tạo rồi sau đó sống lưu vong trong đau khổ. Dưới đây là thư ông viết gởi cho vợ mình năm 1969. Tôi dẫn lại từ Fb của nhà văn Đinh Tiến Luyện ngày 21/4/2020 - như một nén tâm nhang thắp cho ông.

                                                                                       Vũ PhanAnh

Hình ông bà Duyên Anh chụp năm 1982 trước vài ngày bà Duyên Anh cùng con lên đường sang Pháp định cư
 
Thư viết cho vợ
Nhà mình.. Nửa đêm…
 Phượng yêu dấu!
Đêm nay, anh cố ý thức thật khuya để khởi viết cuốn thứ ba trong bộ truyện dài sáu cuốn của anh. Đời anh sẽ chỉ loay hoay ở bộ truyện này. Bởi vì, bộ truyện này anh viết tặng con chúng ta. Bởi vì, khi anh viết bộ truyện này tâm hồn anh không phải là tâm hồn của anh hiện tại, thứ tâm hồn què quặt, xảo trá, thủ đoạn của người sớm bước xuống cuộc đời, sớm biết cuộc đời để sớm ghê tởm cuộc đời. Tâm hồn anh, khi viết truyện tặng con chúng ta là tâm hồn của ngày xưa còn bé. Tâm hồn ấy đã ngập ứ kỷ niệm hoa bướm, trong suốt pha lê. Cho nên, hễ anh viết, ý tưởng từ óc chảy xuống tim chảy ra năm đầu ngón tay anh. Và anh viết rất nắn nót. Viết cả đêm chỉ được ba trang giấy. Như lần khởi sự viết cuốn thứ nhất. Phượng ạ, anh đốt hết nửa gói thuốc lá, uống cạn một chai nước lọc mà vẫn chưa “đẻ” được dòng nào. Thế mới biết thực hiện đúng ý muốn của mình bao giờ cũng khó.

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

LỪNG LẪY MỘT THỜI: NGUYỄN TẤT NHIÊN, THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH – Phạm Chu Sa


         Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên(thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm.
Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài "Vì tôi là linh mục" tuyệt hay: 

“Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”
 
Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

BÀI THƠ “VIẾNG BẠN” CỦA HOÀNG LỘC ĐÃ TỪNG BỊ PHÊ PHÁN THẾ NÀO - Bảo Thư



“Viếng bạn” được được Hoàng Lộc viết năm 1947 và in trong tập bút ký “Chặt gọng kìm Đường số 4”. Bài thơ viết về sự hy sinh anh dũng của một chiến sĩ tên tên là Th vào ngày 8-1-1948 trong trận Bố Củng. Vì lúc rút lui còn phải khiêng mấy đồng chí bị thương, nên đồng đội đành phải đào một cái huyệt nhỏ để chôn Th. Nhìn thi thể đồng đội không có áo quan, ai cũng khóc.
 
Năm 1949, tạp chí Văn Nghệ đăng bài thơ này và gây sự xúc động mạnh trong giới văn nghệ sĩ kháng chiến. Cho đến nay "Viếng bạn" được xem là bài thơ hay nhất viết về tình đồng đội, về người liệt sĩ trong kháng chiến.
 
Tuy nhiên, bài thơ này đã từng bị “đánh” tơi bời trong phong trào “Chỉnh huấn – chỉnh quân” trong thập niên 1950. Tháng 12-1953, trên Nội san Giáo Dục số 12 xuất hiện diễn đàn: “Chúng ta cùng thảo luận”, chủ đề xoay quanh nội dung tư tưởng của bài thơ “Viếng bạn”. Khởi xướng mở diễn đàn thảo luận bài thơ Viếng bạn là Nguyên Chương, một cây bút lý luận phê bình kỳ cựu .
Với tựa đề “Nhân giảng bài Viếng bạn: Đả phá óc mê tín” đăng tạp chí Giáo Dục số 12 năm 1953, tác giả Nguyên Chương đưa ra 3 luận điểm phê bình bài “Viếng bạn”:
 
1) Bài thơ Viếng bạn cổ súy tư tưởng phong kiến, mê tín, dị đoan, duy tâm thần bí;
2) Nghệ thuật trong bài thơ Viếng bạn là sáo cũ, giả tạo;
3) Ảnh hưởng của bài thơ Viếng bạn đến học sinh là rất xấu.
 
Để chứng minh “Viếng bạn” là bài thơ “gọi hồn”, mê tín dị đoan, Nguyên Chương thực hiện một cuộc điều tra, khảo sát học sinh tại 3 lớp đã nghe giảng bài thơ Viếng bạn và đặt ra 3 câu hỏi trong cuộc điều tra này là:

- “ Khôn thiêng xin chỉ mặt là thế nào? Có phải linh hồn anh bộ đội chết đó còn sống và khôn thiêng phải không?”
- “ Ai tin rằng sau khi xác thịt chết thì linh hồn còn sống?”
- “ Thế thì em nào sợ ma, tin có ma cứ thành thật cho biết”   
Và tác giả dẫn kết quả điều tra như sau:
a) Ở câu hỏi thứ nhất có một số học sinh trả lời “Linh hồn anh bộ đội ấy khôn thiêng, linh hồn anh còn sống”;
b) Ở câu hỏi thứ hai có 28/ 125 em tin là sau khi chết thì linh hồn còn sống;
c) Ở câu hỏi thứ ba có 92/125 học sinh sợ ma.
 
Đến đây, tác giả bài viết đưa đến kết luận: con em Việt Nam còn mê tín nhiều và cần phải “làm công việc giải độc”. Và việc một tác phẩm như bài thơ Viếng bạn có hiện tượng người sống “đang nói với người chết; hỏi người chết có khôn thiêng thì chỉ mặt kẻ thù” là biểu hiện rõ ràng tư tưởng, tình cảm “phong kiến, duy tâm, thần bí” và “hoen ố màu sắc siêu hình”.
 
Ở phương diện nghệ thuật, tác giả bài viết cũng phê phán Viếng bạn là bài thơ sáo rỗng, giả tạo. Nguyên Chương dẫn chứng rằng: “Gọi anh chẳng thành lời mà hàm răng dính chặt”. Răng dính chặt thế mà đoạn dưới và đoạn sau anh nói quá nhiều, anh nói rõ ràng lắm. Hình ảnh không thống nhất, ta có cảm tưởng là thơ giả tạo”.
 
Về hệ quả, tác giả cho rằng bài thơ có ảnh hưởng rất xấu đối với thanh thiếu niên: “con số 92/125 kể trên quả là một thương tâm bắt buộc chúng ta phải thận trọng trong lời nói, trong câu văn. Nếu không đập tan mê tín thì ít nhất đừng gieo rắc mê tín”. Và tác giả cảm thấy “ân hận đã đem bài Viếng bạn giảng cho học sinh trong ngày thương binh- tử sĩ” vì việc giảng dạy bài thơ Viếng bạn không những không đạt được mục đích căm hờn kẻ địch, thương người chiến sĩ hi sinh mà chỉ gieo rắc tư tưởng mê tín dị đoan.
 
Cuối cùng, tác giả Nguyên Chương đề nghị không dạy bài thơ Viếng bạn cho học sinh vì bài thơ này “đánh thức phần yếu đuối, phản khoa học nép trong tâm não thanh niên”.
 
Thế đấy, một tác phẩm văn học xúc động như vậy nhưng dưới lăng kính u tối của một số người thì rất có thể đây là bài thơ “có vấn đề” chỉ bởi tác phẩm đó được viết theo cách thể hiện khác.
Tự nhiên tôi rón rén đi trên băng mỏng của đại dương chữ nghĩa
 
                                                                                            Bảo Thư

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

“CÒN ĐÂU CÁNH BƯỚM ?”, TƯỞNG NHỚ NGHỆ SĨ NGÂM THƠ HỒ ĐIỆP – Bái viết của Trịnh Anh Khôi



Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu (Có tài liệu ghi là Nguyễn Thị Tý) sinh năm 1930 tại Sơn Tây. Bà vào Nam năm 1954. Thi sĩ Đinh Hùng đã phát hiện ra tài năng ngâm thơ thiên phú của bà nên đặt cho nghệ danh Hồ Điệp.
Có thể giải thích cái tên được hàng triệu người yêu mến này: Hồ Điệp nghĩa là Cánh Bướm, ý rằng giọng ngâm của bà nhẹ nhàng, mỏng manh, nhưng lại nhiều mầu sắc như những cánh bướm.
 

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

VẤN ĐỀ ĐẤU TỐ VĂN NGHỆ SĨ - Bài viết của Linh Hoàng Vũ



Tháng Tám năm 1966, người ta lôi Lão Xá, nhà văn 67 tuổi nổi tiếng nhất Trung Quốc, cùng một nhóm nhà văn nghệ sĩ ra sân Khổng miếu ở Bắc Kinh, bắt họ quỳ quanh một đống lửa đốt đạo cụ tuồng cổ. Các tiểu tướng hồng vệ binh bằng tuổi cháu nội ông treo bảng đen lên cổ ông, rồi đánh và sỉ nhục ông giữa tiếng hô hào phần khởi của đám đông. Lão Xá là tác giả lớn của Trung Hoa hiện đại, người từng được kỳ vọng cho một giải Nobel. Đám đông hành hạ ông không phải vì họ cho rằng tác phẩm của ông dở hay thậm chí “phản động”, mà vì ông đã bị dán nhãn là tàn dư của cái cũ, là phần tử cần quét đi.  Sáng hôm sau, nhà văn lớn Trung Quốc ra hồ Thái Bình, ngồi lặng cả ngày bên mặt nước, rồi khi đêm xuống thì trầm mình.
Không ai trong đám đông hôm ấy nghĩ mình đang giết một nhà văn. Họ tin mình đang làm sạch đất nước. Đó mới là điều đáng sợ nhất của mọi cuộc đấu tố: nhiên liệu của nó không phải cái ác, mà là sự xác tín: cái cảm giác êm ái rằng mình chắc chắn đứng về phía đúng, và do đó được miễn mọi nghi ngờ về phương tiện.
Hơn nửa thế kỷ sau, ở Việt Nam, cùng cái xung năng ấy trở lại, nhưng đã thay hình, lần này là trên không gian mạng. Để buộc tội một cuốn sách và tác giả của nó, người ta không cần chứng minh nó sai. Chỉ cần làm cho nó có mùi rủi ro.

NHỚ "BỐ GIÀ" SƠN NAM – Bài viết của Bùi Chí Vinh


Hình chụp ở phi trường Nội Bài Hà Nội năm 1994 dự Hội Nghị Nhà Văn Trẻ Toàn Quốc. 
Từ trái qua phải: Một nhà văn, Sơn Nam, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Nguyễn Nhật Ánh, một nhà văn, Phan Hoàng. Người ngồi là Lê Minh Quốc.

Đối với tôi, hai chữ BỐ GIÀ dành cho nhà văn Sơn Nam không cần đóng khung trong ngoặc kép. Thuở ông còn sinh tiền, mỗi lần hai chú cháu đi chơi riêng hoặc cùng chơi trong đám đông tôi vẫn luôn luôn gọi nhà văn Sơn Nam là “bố” một cách trìu mến.
Còn xét về mặt chuyên môn trong làng văn và trưởng thượng trong làng đời thì tôi hằng kính trọng ông như một… bố già.
 
Buổi trưa ngày 13 thứ Tư năm 2008, đang ngồi cụng ly với Cung Tích Biền, Nguyễn Đạt, Đoàn Thạch Biền, Phạm Viêm Phương, Nguyễn Tôn Nhan… nhằm ăn mừng vụ bán bức tranh của Lê Thị Kim thì bất ngờ chúng tôi nhận được hung tin “bố già” đã mất.
Cho dù tất cả gần như được chuẩn bị về cái chết được báo trước của bậc tiền bối hôn mê nằm liệt giường, nhưng cái tin sét đánh ấy đã làm ai nấy bàng hoàng.
Bàn tiệc đang vui bỗng như đưa đám. Trong đầu tôi hình dung “con khủng long cuối cùng còn sót lại của miệt vườn Nam Bộ” một con khủng long oằn vai chở nặng chữ nghĩa của ruộng đồng bát ngát như một bộ tự điển bách khoa biết đi.

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

SAO XÓT XA NHƯ RỤNG BÀN TAY - Đặng Nguyên Triết


Nhà thơ Hoàng Cầm

Trong một nhóm bán sách cũ, có người đang rao bán tờ Sơ yếu lý lịch của thi sĩ Hoàng Cầm viết năm 1992, lúc ông vừa tròn 70 tuổi.
Ông không ghi tên khai sinh Bùi Tằng Việt, mà vẫn ghi Bùi Hoàng Cầm.
Đọc tới dòng ông khai “Từ 1958: Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, mình lặng người một lúc lâu.

Năm 1948, ông viết Bên kia sông Đuống, có hai câu:
 
“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc,
Sao xót xa như rụng bàn tay”
 
thì gần nửa thế kỷ sau khi nghĩ về đời mình “Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, ông có xót xa như rụng cả đôi bàn tay?



Trả lời phỏng vấn của nhà phê bình văn học Thụy Khuê, ông nói:

“Không hiểu lý do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay tòa báo nào cho nó đăng thì đều bị từ chối. Rồi lặng lẽ mình cũng tự biết là có lẽ khó khăn lắm, thì mình cứ sáng tác để đấy thôi, cho vào ngăn kéo rồi một vài anh em đọc với nhau, chứ không truyền bá đi đâu cả. Xong rồi dần dần thời gian cứ thế kéo đi, nó kéo thế nào mà cho đến năm 88.”
 

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

PHẠM THIÊN THƯ QUYẾT “GIỐNG” CỤ NGUYỄN DU - Tuệ Lãng

Vô cùng thương tiếc nhà thơ Phạm Thiên Thư, tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người 'thi hóa kinh Phật' vừa từ trần vào 16 giờ 15 phút chiều nay, 7-5- 2026

Phạm Thiên Thư,  khoái nhất là chuyện ông "rất giống" với cụ Nguyễn Du. Ông kể một tràng: "10 tuổi bố Nguyễn Du mất, tớ cũng vậy. Mẹ Nguyễn Du là một người phụ nữ đất quan họ Bắc Ninh, vợ lẽ dòng thứ hai. Gia đình cụ Nguyễn có bốn anh em, cụ lại sinh hạ được bốn người con (?). Tớ cũng y chang như vậy". Ông còn tâm đắc kể thêm "cụ Nguyễn và tớ đều là tú tài. Cụ Nguyễn lưu lạc 10 năm ở Thái Bình, còn bố tớ quê chính cũng là Thái Bình. Cụ Nguyễn mất năm 1840 (?), đúng 100 năm sau, 1940 tớ ra đời…".

Đọc những bài thơ tình của Phạm Thiên Thư, không ai nghĩ ông đã từng trên 10 năm xuất gia tu hành nơi cửa Phật.

"Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao"
                                   (Động hoa vàng).

Tiếng kêu của loài dị điểu trong thơ ông thật bi thảm, vừa cất lên đã rụng xuống dòng sông rộng. Cái chết sinh ra để phụng hiến tình yêu. Yêu đến buồn chết, thật là khó để người đời hình dung một tu sĩ có đời sống phong kín nơi cảnh chùa lại có ý nghĩ như vậy.

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

CẢNH KHÔI HÀI CỦA VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện, Lê Tiên Long



MŨ VUA... XOAY NGANG - Lê Tiên Long

Hôm qua, Ninh Bình tổ chức Lễ hội Hoa Lư 2026, truyền hình trực tiếp trên cả VTV1, trong đó có hoạt cảnh sân khấu hoá cảnh Đại Thắng vương (Đinh Bộ Lĩnh) lên ngôi, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt.
Nhưng nhiều người thắc mắc, sao nhà vua đội mũ miện mà mũ lại... xoay ngang. Vì cái mũ miện (còn gọi là mũ bình thiên, vì bên đỉnh mũ trên có cái tấm chữ nhật phẳng, để theo phương ngang nên gọi là "bình thiên", tức trên đầu bằng phẳng) của vua theo quy định sẽ có 12 dải tua kết bằng châu, ngọc ở trước mặt và sau gáy.
Cái dải châu ngọc này để làm gì? Nó như một thứ "rèm" để che mặt vua, khiến bề tôi không được trực tiếp nhìn thẳng "long nhan". Nó cũng khiến ánh mắt của bậc đế vương không nhìn mọi vật quá rõ, quá trực diện, nhằm nhắc nhở người đứng đầu thiên hạ phải giữ thái độ điềm tĩnh, không thiên lệch, không bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời.
Quy chế về mũ miện rất chặt chẽ. Thiên tử có 12 dải tua, vua chư hầu, tước vương có 9 dải, tước công, hầu có 7 dải, tước bá, tử, nam có 5 dải.
Trong ảnh đen trắng bên dưới, các quan nhà Nguyễn ở nước ta trong buổi lễ tế Nam giao đội mũ Miện với 5 dải tua.
Chả hiểu sao đạo diễn sân khấu Lễ hội Hoa Lư lại cho vua Đinh Tiên Hoàng đội mũ... xoay ngang. Tức là để dải tua hai bên... che tai nhà vua.
Quả là khó hiểu.
Cũng có người bảo chỉ là sân khấu hoá ấy mà, vua mặc gì chả được, như đáng lẽ vua đội mũ Miện thì phải mặc áo Cổn, chứ đâu có mặc... áo khoác như trong ảnh. Rồi hoàng hậu vấn khăn, mặc áo kiểu Nhật Bình thời nhà Nguyễn, minh hoạ ấy mà, có hề chi!
Nhưng thời nào thì cũng chả có vua đội mũ Miện với dải tua hai bên tai cả.
Cho nên muốn đầu tư mấy chục nghìn tỷ đồng để chấn hưng văn hoá, mà thiếu kiến thức, trong đó có kiến thức lịch sử, thì cũng khó lắm thay!
                                                                               Lê Tiên Long

*
CẢNH KHÔI HÀI CỦA HAI VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện
 
Nghe nói là hai vị vua nước ta đều được sân khấu hoá trên một sân khấu.


Vua trên thì mũ bình thiên phải quay ngang để nhìn cho rõ mặt. 


Vua dưới thì tự tay cầm tờ “Tế Thiên chiếu” - nhà vua xuống chiếu về việc tế trời, hay đây là bài chiếu tế trời. 

Văn tế là Văn tế, Chiếu là tờ chiếu lệnh vua phát ra. Sao lại vừa tế vừa chiếu vậy?
Vua là thiên tử tức là con trời. Sao lại có ông vua ra bài chiếu tế trời để đọc giữa trời vậy?
                                                                          Nguyễn Xuân Diện

NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ VINH, “CON SỐ MỘT SÂU NẶNG” ĐỐI VỚI NHÀ VĂN NHẤT LINH – Trịnh Anh Khôi

Trong bài này, tôi chỉ xin đề cập đến người phụ nữ đã nhắc, là nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Bà là một người giỏi, đúng; bà có văn tài, đúng nốt, nhưng mối quan hệ và sự góp mặt của bà trong Tự Lực Văn Đoàn đã dấy lên theo năm tháng một câu hỏi: Có phải trong bà là mang tới “ba trong một bóng dáng”, vừa là bạn văn, vừa là người tình, mà cũng là đồng chí của vị chủ soái văn đoàn ấy, là nhà văn Nhất Linh?
 
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh ngồi giữa nhà văn Nhật Tiến (Bên tay phải bà) và nhà văn Sơn Nam. Người ngồi phía xa là nhà báo Phạm Việt Tuyền, chủ nhiệm báo Tự Do. Tất cả đang là giám khảo cho một cuộc thi Văn chương của Hội Văn bút Việt Nam trước 1975.

Lúc đó gia đình tôi (TAK) còn ở ngôi nhà số 287/8 Phan Đình Phùng, Sài Gòn. Một buổi chiều 1968, một đôi vợ chồng chở nhau trên chiếc Lambretta đến gặp bố tôi. Người phụ nữ ấy tóc ngắn, đã hơn 40 nhưng vẫn rất đẹp mà lần đầu tôi nhìn thấy, còn chồng bà là họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật; nếu làm thơ, thì là thi sĩ Động Đình Hồ.
... Tôi thấy ông Nhật đến nhà đã mấy lần, và biết ông chơi với bố tôi đủ thân thiết để khi bố tôi in quyển sách thứ ba, là truyện dài Ngục Tối Của Lòng Mình, thì ông đã vẽ bìa cho nó.
 

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

HOÀNG CẦM VÀ “NẾU ANH CÒN TRẺ” - Huỳnh Duy Lộc


Nhà thơ Hoàng Cầm

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922 tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, nhưng quê gốc ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học ở Bắc Giang và Bắc Ninh, đến năm 1938 ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đậu tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của ông Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh Hoàng Cầm là tên một vị thuốc đắng của Đông y.
 

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

BÀI KỆ “CÁO TẬT THỊ CHÚNG” CỦA MÃN GIÁC THIỀN SƯ - Bài viết của Khánh Ly



Mãn Giác (滿覺, 1052-1096) là một thiền sư thuộc đời thứ tám của dòng thiền Vô Ngôn Thông, từng được vua Lý Nhân Tông trọng đãi và thỉnh làm trụ trì chùa Giáo Nguyên. Trong lịch sử văn học Phật giáo thời Lý, Mãn Giác được nhắc đến nhiều nhất qua bài kệ Cáo tật thị chúng, đọc vào lúc cuối đời và cũng là tác phẩm duy nhất còn lại của Sư.
 
Cáo tật thị chúng, chữ Hán viết 告疾示眾, nghĩa là "báo bệnh cho mọi người biết". Đây là một bài kệ ngắn được Mãn Giác đọc vào cuối tháng 11 năm Hội Phong thứ năm (1096), khi Sư lâm bệnh nặng. Tuy nhiên nhan đề này không phải do chính Mãn Giác đặt. Trong Thiền Uyển Tập Anh chỉ có lời ghi chú hoàn cảnh đọc kệ, vì Lê Quý Đôn đặt tiêu đề cho bài kệ nên sau này bài kệ mới dần được đọc như một bài thơ độc lập, song thực chất nó nằm trong mạch ngữ lục của Mãn Giác Thiền Sư.

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

“ÔNG LÁ BỐI” TỪ MẪN VÕ THẮNG TIẾT - Trinh Anh Khoi


Photo: Thầy Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, chủ nhà xuất bản Lá Bối

Trong một bài trước, tôi có kể về mối quan hệ đặc biệt giữa học giả Nguyễn Hiến Lê và “ông Lá Bối” Từ Mẫn để cho ra đời bản dịch vĩ đại của tác phẩm Chiến Tranh Và Hòa Bình. Câu chuyện tiếp theo là diễn ra sau đó - Theo hồi ức của nhà văn Song Thao.
 

HỌC GIẢ TRẦN TRỌNG KIM, NGƯỜI CÓ CÔNG LỚN VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC – Thu Hương



Trần Trọng Kim (1883 – 1953) là một học giả, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo Việt Nam, bút hiệu Lệ Thần, từng làm thủ tướng của chính phủ Đế quốc Việt Nam vào năm 1945. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử, văn hóa như Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm, Nho giáo...

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

CÁI ẤY MAO CŨNG THÚ, VÔ MAO CÀNG TUYỆT THÚ – Nguyễn Xuân Diện



Ngày 24.3.1995, trong chuyến cùng đi công tác ở Hải Hưng, GS. Văn Tạo - nguyên Viện trưởng Viện Sử học đã trao cho tôi bài thơ này. Đây chính là một bài hát ca trù.
 
Tôi rất thích bài ca trù này. Và kể từ đó cất công tìm hiểu thì được biết đây là bài ca trù khởi phát từ các ca quán (nhà hát cô đầu) ở Ba La Bông Đỏ (Hà Đông) rồi lưu truyền phổ biến trong các ca quán khắp các tỉnh thành miền Bắc hồi đầu thế kỷ 20. Có cụ cao niên nói rằng, tương truyền bài này là của cụ Tam nguyên Vũ Phạm Hàm làm ra.
 

CẢM NHẬN VỀ NHỮNG VỤ ÁN VĂN CHƯƠNG – Bài viết của Thái Hạo

 

Những vụ án văn chương nổi tiếng như Tây Tiến, Nhân văn - Giai phẩm, Màu tím hoa sim, thì chắc ai cũng biết (?). Nhưng đó chỉ là “muối bỏ bể”. Ở Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua còn biết bao nhiêu vụ án bi hài khác mà đến nay có lẽ chưa ai thống kê cho đầy đủ được. Một trong những vụ “ít nổi tiếng” như thế là “vụ án Về Kinh Bắc”.
 

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI - Mạnh Kim



Không còn nhớ ai là người đầu tiên dịch “Gone with the wind” thành “Cuốn theo chiều gió”, nhưng vị nào dịch câu này hẳn nhiên là bậc thượng thừa về ngôn ngữ nói chung và rất giỏi tiếng Việt nói riêng.
Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông nguyện hồn ai” (phải là “nguyện”, chứ không phải “gọi” – như các bản dịch sau 1975, nghe mới “đã” và mới đúng với ý như câu chuyện của tác phẩm Hemingway).

Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta”.
Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt.  Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh”.

So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc.
Trong Love Story, ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những từ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt”; hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang”

Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!”.
Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ.
Họ nhảy múa với ngôn ngữ.
Họ thăng hoa với ngôn ngữ.
Họ bay bổng với ngôn ngữ.

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2025

BAO LA, MÊNH MÔNG, BÁT NGÁT GIỐNG VÀ KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO? La Thụy sưu tầm và biên tập



BAO LA
 
Chúng ta thường dùng “bao la” để chỉ thứ gì đó “rộng lớn đến mức vô cùng tận” (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên), chẳng hạn như “vũ trụ bao la”, “biển rộng bao la”… Tuy nhiên, nghĩa đen của từ này không hẳn ai cũng rõ.
 
Thực tế, “bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó:
Bao” () là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”
La” () nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.
 
Nói đến không gian rộng lớn, ta còn có từ “bát ngát". Thực tế, từ này vốn có nghĩa gốc là “thương nhớ, lo buồn" (xem Tiếng Việt ân tình, tập 1)
Tóm lại, “bao la” là một từ gốc Hán, có nghĩa đen là “cái lưới bao trùm tất cả”.
                                                                                Lê Trọng Nghĩa
 
Bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó:
Bao” () là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”
La” () nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.

*
Phiếm luận của La Thụy:
 
Từ định nghĩa trên, tôi liên tưởng đến Thánh kinh: “Ta là Alpha (A) và là Ômêga(Ω), là Khởi nguyên và là Cùng tận!”
Điều này nói lên rằng Vua Giêsu Kitô là căn nguyên và cùng đích của mọi loài. Trước khi tạo dựng vũ trụ này, Người đã hiện hữu; và khi vũ trụ này qua đi, người vẫn hiện hữu.
Chúa là Vua Vũ Trụ, Chúa là Alpha và Ômêga, là Đấng Toàn Năng.