BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

CỦ MẬT 糾密 - Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng



Tháng Chạp trước Tết còn được người Việt từ xưa gọi là tháng củ mật. "Việt-Nam tự-điển" (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức ghi:
- Củ-mật. Nói về độ gần tết hay có trộm cướp, nhà nào cũng phải giữ-gìn cẩn-thận: Tháng củ-mật.

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 - Đơn vị đo lường



Xem clip trên laptop mình thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). Ba chữ đầu 二十六“nhị thập lục” (26) thì đọc được ngay tắp lự, nhưng đến chữ đọc ra chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nhưng không nghĩ nó là đơn vị đo khối lượng.
Tôi tra từ điển để tìm chữ có chỉ về đơn vị đo khối lượng không, thì có kết quả như sau:

Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11
Bộ: bối (+4 nét)
Lục thư: hội ý
Hình thái: 毌貝
Nét bút: フフ丨一丨フ一一一ノ丶

Nghĩa:
1. xâu tiền
2. xuyên qua, chọc thủng
3. thông suốt
4. quê quán.
Tôi không thấy có chỗ nào cho biết chỉ về đơn vị đo khối lượng cả

Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như chữ /shì/ THỊ : cái chợ hoặc 巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 

Nên tôi mày mò tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

DANH TỪ 名詞 – Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng



Danh từ là những từ dùng để gọi tên sự vật (người, vật, sự, hiện tượng, khái niệm, đơn vị...), trong đó bao gồm các khái niệm trừu tượng được xem như là sự vật: đạo đức, kinh nghiệm, trí tuệ, cuộc sống, sự sống... Khi chuyển ngữ các danh từ phái sinh của ngoại ngữ, ta gặp rất nhiều đối tượng được gọi là "sự ...".
 
NOUN - DANH TỪ
COMMON NOUN - DANH TỪ CHUNG
CONCRETE NOUN - DANH TỪ CỤ THỂ
ABSTRACT NOUN - DANH TỪ TRỪU TƯỢNG
PROPER NOUN - DANH TỪ RIÊNG

TUỔI MỤ LÀ GÌ? – Theo Đào Hoa Bỉ Ngạn



Theo cách tính tuổi ở Việt Nam và Trung Quốc. Mỗi người đều có thêm một loại tuổi, đó là tuổi mụ.
Tuy nhiên, nhiều người chưa hiểu vì sao lại có tuổi mụ và từ bao giờ loại tuổi này xuất hiện.
Trên toàn thế giới có lẽ chỉ ở Trung Quốc và Việt Nam là có hai loại tuổi, đó là Tuổi mụ và tuổi thực.
Trong tiếng Hán, tuổi mụ được gọi là “hư tuế” – chữ “hư” ở đây có nghĩa là hư rỗng, rỗng không; ở ngữ cảnh này có thể tạm hiểu là “giả, trái nghĩa với chữ “thực”.
Nếu hỏi về tuổi thực, hầu như ai cũng có thể nói một cách dễ dàng, nhưng với tuổi mụ - “hư tuế” thì “hư” giả ở chỗ nào lại là một câu hỏi rất khó trả lời.

CHỮ TÁC 作 ĐÁNH THÀNH CHỮ TỘ 祚 - Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng



Người Việt có thành ngữ "chữ tác đánh chữ tộ", hoặc có thêm một vế nữa là "chữ ngộ đánh chữ quá", dùng để nói về việc yếu kém chữ nghĩa, không đọc thông viết thạo, nhầm chữ này với chữ nọ. Vậy chữ "tác" và chữ "tộ", chữ "ngộ" và chữ "quá" là những chữ gì mà có thể nhầm lẫn?
- tác : nghĩa là làm, làm ra, tạo ra, như trong "sáng tác", "thao tác", "tác nghiệp", "tác giả", chữ này mang bộ "nhân" (người)
- tộ : nghĩa là phúc lành, vận nước, như trong "quốc tộ", chữ này mang bộ "thị / kì" () gắn với các chữ về tế lễ (祭禮), thần linh, như trong chữ "phúc" , "lộc" 祿, "tổ" ...
- ngộ : nghĩa là gặp gỡ, mắc phải, như trong "hội ngộ", "tái ngộ", chữ này mang bộ "sước" (dùng cho các chữ liên quan việc di chuyển) và kí âm bằng chữ "ngu"
- quá : nghĩa là trải qua, vượt qua, vượt quá, như trong "thái quá", "quá giang", chữ này mang bộ "sước" và kí âm bằng chữ "oa / qua" .

TAM THÊ TỨ THIẾP - Theo Bác Văn Ước Lễ 博文約禮



Dẫn nhập:
 
Chế độ thê thiếp là một trong những đặc trưng phản ánh cấu trúc gia đình, trật tự xã hội và hệ thống lễ chế của xã hội Á Đông truyền thống, đặc biệt trong bối cảnh văn hóa – chính trị Trung Hoa cổ đại. Không đơn thuần là vấn đề hôn nhân hay đời sống gia đình, thê thiếp trong một tông tộc còn gắn chặt với quan niệm về đẳng cấp, thân phận, quyền lực và tính chính danh được quy định bởi lễ nghi và luật lệ. Việc phân biệt rạch ròi giữa thê và thiếp, cũng như giữa các bậc thê thiếp khác nhau, cho thấy xã hội cổ đại không nhìn nhận người phụ nữ trong gia đình như một khối đồng nhất, mà đặt họ vào những vị trí thứ bậc cụ thể, gắn liền với xuất thân, hôn phối và quan hệ chính trị – tông tộc.

TẠI SAO VIẾT TẮT “K” THAY CHO 1 NGÀN? – Trang Anh Thạc



- Các bạn trang Quốc Ngữ thân mến!
- Chị Trương Ngọc Bảo Xuân nêu thắc mắc như sau:
 - Tại sao 10 ngàn đồng họ ghi là 10K, chữ K từ đâu ra?
Trang Anh Thạc xin trả lời.
- K (viết in) là viết tắt của "kilo", nguyên đơn vị đo lường của tiếng Hy Lạp, nghĩa là 1 ngàn. Từ đó, đơn vị đo lường phổ biến của người Pháp (metric) dùng cho tất cả mọi lãnh vực từ khoa học đến mọi tính toán thập phân cho kỹ thuật đều là K, tức "kilo" dùng cho số lượng 1 ngàn. Kilo đã trở thành tiếp đầu ngữ quốc tế cho 1 ngàn, như: kilometre (1,000 mét), kilogram (1,000 grams), kilowatt (1,000 watts, điện), kilovolt (1,000 volts, điện), kilobyte (1,000 bytes, dung lượng điện toán), v.v.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

HIỆN SINH 現生 – Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng

"Hiện sinh" 現生 chỉ sự tồn tại, hiện hữu, sống còn. Tiếng Trung Quốc gọi chủ nghĩa hiện sinh là "tồn tại chủ nghĩa" 存在主義 (giản thể: 存在主). Tiếng Nhật gọi là "thực/thật tồn chủ nghĩa" - "jitsu-zon shu-gi" 実存主義 (じつぞんしゅぎ), tiếng Hàn đọc là "shil-jon ju-ui" 실존주의 (實存主義).
 

EXISTENTIALISM - CHỦ NGHĨA HIỆN SINH
EXISTENCE - EXISTENTIAL - HIỆN SINH - HIỆN HỮU
EXISTENTIAL CRISIS - KHỦNG HOẢNG HIỆN SINH

Chủ nghĩa hiện sinh xoay quanh sự tồn tại của con người, theo đó mỗi cá nhân tự do lựa chọn và tạo nên ý nghĩa của sự tồn tại, cuộc sống của mình, nhờ vào lí trí, ý thức. Cuộc sống thực tế của từng cá nhân tạo nên bản chất thật sự của họ, chứ không phải bản chất có sẵn được kết luận chủ quan bởi người khác. Cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh là "l'existence précède l'essence" (tiếng Anh: existence precedes essence), thường được dịch là "hiện sinh có trước bản chất" hay "hiện hữu có trước bản chất"...

HÀI ĐỒNG 孩童 – Ung Chu, Hán Việt Thông Dụng



"Hài đồng" 孩童 trong Hán ngữ là một cách để chỉ trẻ nhỏ.
- hài : trẻ con, như trong "hài nhi", "hài tử", chữ này mang bộ "tử" (con) và kí âm bằng chữ "hợi" ("hợi" là âm Hán-Việt từ xưa còn bảo lưu đến nay, nếu phiên thiết lại lần nữa sẽ được âm "hãi")
- đồng : đứa trẻ, đứa nhỏ, như trong "nhi đồng", "đồng thoại".
Trong Ki-tô giáo, Chúa Hài Đồng hay Giêsu Hài Đồng là khái niệm chỉ đấng Giê-su Ki-ri-xi-tô (Giêsu Kitô) thời còn là trẻ nhỏ. Theo quan niệm Chúa Ba Ngôi - "Tam Vị Nhất Thể" 三位一體 thì chúa Giêsu là Chúa Ngôi Hai, tức là Chúa Con, mang hình hài của con người và trải qua các giai đoạn từ thơ ấu đến trưởng thành. Ngày ra đời của Chúa Hài Đồng được thống nhất kỉ niệm vào dịp lễ Giáng sinh hằng năm, vào ngày 25/12 của Tây lịch.

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI - Mạnh Kim



Không còn nhớ ai là người đầu tiên dịch “Gone with the wind” thành “Cuốn theo chiều gió”, nhưng vị nào dịch câu này hẳn nhiên là bậc thượng thừa về ngôn ngữ nói chung và rất giỏi tiếng Việt nói riêng.
Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông nguyện hồn ai” (phải là “nguyện”, chứ không phải “gọi” – như các bản dịch sau 1975, nghe mới “đã” và mới đúng với ý như câu chuyện của tác phẩm Hemingway).

Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta”.
Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt.  Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh”.

So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc.
Trong Love Story, ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những từ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt”; hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang”

Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!”.
Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ.
Họ nhảy múa với ngôn ngữ.
Họ thăng hoa với ngôn ngữ.
Họ bay bổng với ngôn ngữ.

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

“THANH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết: Khánh Ly, trích Tri thư đạt lễ - 知書達禮



Tiếng Việt có Thanh, một chữ thường gặp trong tên người Việt mà ta nghe qua liền nghĩ đến sắc xanh của tự nhiên, sự trong trẻo của dòng suối hay tiếng tiếng gió ngân khẽ khàng. Ấy vậy nhưng trong kho tàng chữ Hán, Thanh lại mang nhiều dáng vẻ, với mỗi nét nghĩa thi vị đều ứng với một tự hình riêng biệt.
 

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025

MAGGI, XÌ DẦU HAY TÀU VỊ YỂU; BỘT NGỌT, VỊ TINH HAY MÌ CHÍNH... – Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng



MAGGI, XÌ DẦU HAY TÀU VỊ YỂU !

“Xì dầu” theo tiếng Quảng Đông "si6 jau4" 豉油 (Jyutping) và "xì íu / xì yếu" theo tiếng Triều Châu "si7 iu5" 豉油 với âm Hán-Việt là "thị du" 豉油 nghĩa là dầu đậu lên men.
“Xì dầu” còn được gọi là "tàu vị yểu" theo cách đọc từ "đậu vị du" 豆味油 ("dầu" gia vị làm từ đậu tương) bằng tiếng Triều Châu..
Thương hiệu nước chấm Maggi của Thuỵ Sĩ cũng được người Việt tại một số địa phương chung hoá thành "ma-ghi", "ma-gi", "ma-di", được đưa vào "Từ điển tiếng Việt" ở dạng "magi" và "ma gi".
--
BỘT NGỌT, VỊ TINH HAY MÌ CHÍNH !

Sau khi người Nhật Bản phát triển chất monosodium glutamate (MSG) tạo vị umami để làm bột ngọt, người Trung Hoa đã vay mượn cách gọi "mi-sei" 味精 (みせい) của tiếng Nhật nghĩa là tinh chất của hương vị, đọc chữ Hán theo bản ngữ để gọi bột ngọt.
Các hãng bột ngọt của người Hoa khắp Đông Nam Á thời bấy giờ cũng dùng từ này, âm Hán-Việt là "vị tinh" 味精 và phát âm theo tiếng Quảng Đông "mei6 zing1" (Jyutping) nghe như "mì chính".
Huế là một trong những địa phương gọi mì chính / bột ngọt là "vị tinh".

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2025

QUẢN HUYỀN 管絃 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ


Hình ảnh: Quản huyền, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ


“Kiệu hoa đâu đã đến ngoài
Quản huyền đâu đã giục người sinh ly.”
                                      (Truyện Kiều)
 
Quản huyền, chữ Hán viết 管絃, nghĩa là ống sáo và dây đàn. Đây là từ ghép đẳng lập, gồm hai thành tố đều có nghĩa. Trong đó, Quản bao gồm các loại nhạc cụ bằng ống, thổi hơi được như sáo, tiêu, sênh, địch,... Huyền là các nhạc cụ gảy dây được như cầm, sắt, tỳ bà,... Quản huyền thường đi đôi với ti trúc 丝竹 (đàn sáo) mà ta quen gọi tơ trúc, để tạo nên bộ đôi điển hình trong âm nhạc cổ đại.
 

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2025

WUMAO 伍毛, DƯ LUẬN VIÊN CỦA TÀU - Nguyễn Văn Tuấn

Wumao伍毛 là tiếng lóng để chỉ những “Mạ thủ”罵手
 Mạ : Mắng chửi như trong mạ lị, nhục mạ, lăng mạ
 Thủ : Tay, tay nghề như trong cao thủ, danh thủ
*
Tàu ngày xưa là nơi sản sanh ra những mạ thủ, thì Tàu ngày nay cũng có những đội quân mạ thủ, thuật ngữ tiếng Hoa hiện đại là Wumao伍毛,có âm Hán Việt là “ngũ mao” dùng để chỉ “dư luận viên:
 ngũ: đội ngũ
 mao (danh): lông; (động): nổi giận, phát cáu...

Như thế, Wumao 伍毛  hay “ngũ mao” là đội ngũ của nhửng kẻ chuyên nhục mạ đối phương để kích động làm cho đối phương nổi giận, phát cáu


Tôi mới học được một danh từ mới: mạ thủ. Một cách ngắn gọn, mạ thủ là một kẻ chuyên nghề chửi. (Giống như dư luận viên ngày nay). Lịch sử ra đời của mạ thủ vẫn còn mang tính thời sự ngày nay.

Theo tác giả Huy Phương (báo Người Việt), danh từ này xuất phát từ thời Hán Sở tranh hùng và Tam Quốc Chí bên Tàu. Thời đó, nhà cầm quyền huy động những người có lá phổi lớn, tiếng nói vang, và có cách chửi độc địa để làm ‘mạ thủ’. Mạ thủ chỉ có mộ việc đơn giản là chửi bới đối phương. Họ trong tư thế trần truồng, xông lên phía trước, sát cổng thành của đối phương, và tung ra những lời chửi bới tục tĩu và dơ bẩn nhứt nhắm vào đối phương. Mục đích là hạ nhục và khiêu khích đối phương bằng cách thoá mạ ông bà tổ tiên của đối phương, sao cho họ mở cửa thành để lính xông vào. Điều trớ trêu là mạ thủ là những người bị chết đầu tiên vì họ không có vũ khí khi xông trận. Họ có thể xem như là những con chốt thí cho bọn cầm quyền.

TỪ HÁN VIỆT, ÂM HÁN VIỆT - Tri thư đạt lễ 知書達禮

 
                  

Trong tiến trình tiếp xúc văn hoá, nhiều yếu tố ngôn ngữ, đặc biệt là từ vựng tiếng Hán đã du nhập vào tiếng Việt. Những yếu tố vay mượn này được người Việt tiếp nhận, biến đổi và đồng hóa, qua thời gian dần hình thành nên hệ thống lớp từ có số lượng lớn là từ Hán Việt, được sử dụng rộng rãi và ổn định trong tiếng Việt hiện nay.
 
Có thể nói từ Hán Việt và từ vựng tiếng Hán hiện đại vẫn duy trì mối quan hệ họ hàng gần gũi, do cùng bắt nguồn từ một gốc chung trong lịch sử tiếng Hán. Song do sự khác biệt về lịch sử, văn hóa và lối tư duy của hai dân tộc qua thời gian nên giữa tiếng Hán, âm Hán Việt và từ Hán Việt tồn tại những khác biệt quan trọng. Cần phân biệt chúng như sau:

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

VẤN VƯƠNG, VƯƠNG VẤN, VẤN VÍT - Hoàng Tuấn Công


 
Đề thi môn tiếng Việt lớp 4 của Trường Tiểu học Điện Biên 1 (TP Thanh Hoá, năm học 2021 – 2022), yêu cầu học sinh nhận diện từ láy như sau:

“Từ nào không phải từ ghép: A. châm chọc; B. vương vấn; C. phẳng lặng; D. nóng nực”.
Học sinh khoanh tròn vào phương án “B. vương vấn”, và được chấm là đúng (câu 7: 0,5 điểm).
 
Từ điển từ láy tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ - Hoàng Văn Hành chủ biên) cũng thu thập, giảng từ “vương vấn”“Cứ phải nghĩ đến, nhớ đến mà không thể dứt ra được mặc dù không muốn thế”, và lấy ví dụ “Vương vấn chuyện gia đình. Xa nhau rồi mà lòng còn vương vấn”; còn ở mục từ “vấn vương” thì giảng là “như vương vấn”, ví dụ “Suy nghĩ vấn vương; Cho nắng hường vấn vương muôn ngàn sợi” (Hàn Mạc Tử)”.
 
Tuy nhiên, “vương vấn” hay “vấn vương” đều là từ ghép đẳng lập, không phải từ láy. Cụ thể:

-"Vương" nghĩa là mắc vào, dính vào, thường là vô tình, ngoài ý muốn (như "Bỏ thì thương, vương thì tội" – Tục ngữ; "Tiếc thay chút nghĩa cũ càng, Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng" - Kiều).

- "Vấn" , gốc Hán vốn chỉ việc mặc đồ tang thời xưa, phải để đầu trần, cột tóc, dùng vải gai quấn đầu. Về sau, từ này được dùng với nghĩa quấn, cột, cuộn thành nhiều vòng (như vấn khăn; vấn tóc nói chung, cùng nghĩa với vấn trong vấn vít).

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2025

KHAI CĂN 開根 – Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng, Thuật ngữ Toán học



EXTRACT - KHAI CĂN
EXTRACTION - PHÉP KHAI CĂN

Phép khai căn là phép toán ngược lại với phép nâng lên luỹ thừa, hành động thực hiện phép khai căn để tìm căn gọi là "khai căn" 開根.
- khai : mở, xẻ, phân tách, phân li, như trong "li khai", "khai trừ", "extract" tiếng Anh nghĩa là phân tách, chiết xuất, trích li

- căn : gốc rễ, thuật ngữ toán học này trong các ngôn ngữ đều xuất phát từ nghĩa đen là gốc rễ, như "root" tiếng Anh, "racine" tiếng Pháp, "Wurzel" tiếng Đức... "Radical" tiếng Anh có gốc Latin "radix" nghĩa là gốc rễ. Tiếng Nhật đọc là "kon" こん, tiếng Hàn đọc là "geun" .

"Khai căn" 開根 là từ ta mượn tiếng Trung Quốc (giản thể: 开根). Khai căn bậc hai (ngược với bình phương) được gọi là "khai phương" 開方 (giản thể: 开方). Tiếng Trung Quốc gọi căn bậc hai (tiếng Anh: squareroot) là "bình phương căn" 平方根. "Bình phương" 平方 nghĩa đen là hình vuông phẳng, cũng như "square" tiếng Anh, diện tích hình vuông là bình phương độ dài cạnh.
                                                                                  
                                                                                  Ung Chu
                                                                        Hán-Việt Thông Dụng
                                                                       #Thuật_ngữ_Toán_học

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2025

ĐẠI HỒNG THỦY 大洪水 – Ung Chu



- đại : to, lớn
- hồng : lũ, lụt (nước lớn gây ngập), chuyển nghĩa thành tính từ nghĩa là to lớn, dùng thông với chữ "hồng"
- thuỷ : nước.

Lụt cũng được gọi là "hồng thuỷ" 洪水 / 鴻水 nghĩa đen là nước lớn. "Đại hồng thuỷ" 大洪水 nghĩa là lũ lụt lớn. Tiếng Nhật đọc là "dai-kō-zui" だいこうずい, tiếng Hàn đọc là "dae-hong-su" 대홍수.

Nhiều cộng đồng trên thế giới cùng có truyền thuyết về đại hồng thuỷ, kể về trận lụt cực lớn trong quá khứ xa xôi nhấn chìm khắp nơi. Dạng thảm hoạ trong truyền thuyết này của các cộng đồng lớn trên thế giới (vùng Lưỡng Hà, vùng Ấn Độ, vùng Trung Hoa, vùng Do Thái...) thường gắn với những đấng siêu nhiên.
                                                                                             Ung Chu

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2025

NGŨ ÂM 五音 - Bài viết của Mỹ Trinh


Hình ảnh: Ngũ âm, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Cung thương làu bậc ngũ âm”
Âm nhạc từ lâu đã được xem như một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Trong văn hóa phương Đông, âm nhạc không chỉ để giải trí, mà còn gắn với quan niệm về sự hài hòa giữa trời, đất và người. Từ trong bối cảnh ấy, Nguyễn Du khi viết “Truyện Kiều” đã mượn hình ảnh ngũ âm - năm cung bậc cơ bản trong nhạc lý cổ truyền để ca ngợi tài đàn của Thúy Kiều:
 
“Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.”

Thứ Ba, 21 tháng 10, 2025

GỌI LÀ VIỆT KIỀU HAY NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI ? – Lê Vĩnh Húy



 “Kiều” đây không phải nàng Kiều của Nguyễn Du, mà là chữ Kiều trong “Việt kiều”. Chữ Kiều nầy có nhiều nghĩa:
Khi là động từ, Kiều là ăn nhờ ở đậu. Thí dụ: “Kiều cư” là ăn nhờ ở đậu nơi đất khách;
Là danh từ, Kiều chỉ người sống nhờ làng nước khác. Thí dụ: “Hoa kiều” là người có quốc tịch Tàu sống ở nước ngoài [1];
Là phó từ, thì nghĩa là tạm thời. Thí dụ: “Kiều trí” là mượn tên đất này đặt cho đất khác [2].
Dù thuộc từ loại nào, “Kiều” cũng hàm ý tạm bợ, trôi nổi bềnh bồng.
 
Trở lại với “Việt kiều”, lâu nay người ta vẫn dùng danh từ này để gọi chung những người Việt Nam sống ngoài đất nước, cách gọi này vừa hàm hồ vừa bất cập.