BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2026

CHỮ HÁN, ÂM ĐỌC HÁN VIỆT – Theo Tri Thư Đạt Lễ



Trong tiến trình tiếp xúc văn hoá, nhiều yếu tố ngôn ngữ, đặc biệt là từ vựng tiếng Hán đã du nhập vào tiếng Việt. Những yếu tố vay mượn này được người Việt tiếp nhận, biến đổi và đồng hóa, qua thời gian dần hình thành nên hệ thống lớp từ có số lượng lớn là từ Hán Việt, được sử dụng rộng rãi và ổn định trong tiếng Việt hiện nay.
Có thể nói từ Hán Việt và từ vựng tiếng Hán hiện đại vẫn duy trì mối quan hệ họ hàng gần gũi, do cùng bắt nguồn từ một gốc chung trong lịch sử tiếng Hán. Song do sự khác biệt về lịch sử, văn hóa và lối tư duy của hai dân tộc qua thời gian nên giữa tiếng Hán, âm Hán Việt và từ Hán Việt tồn tại những khác biệt quan trọng. Cần phân biệt chúng như sau:

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

ĐỒNG ÂM MINH TINH 明星, 銘旌 - Tri thư đạt lễ


Trong tiếng Việt, minh tinh là một từ vựng đặc biệt với hai nguồn gốc và hai nét nghĩa hoàn toàn khác nhau, với một nghĩa dùng để chỉ người nổi tiếng, nghĩa còn lại thì liên quan đến nghi thức tang lễ truyền thống.

Theo ý nghĩa quen thuộc được sử dụng rộng rãi hiện nay, minh tinh được viết là 明星. Trong đó, Minh 明 có nghĩa là sáng sủa; còn Tinh 星nghĩa là ngôi sao. Ban đầu trong sách cổ Trung Quốc, minh tinh dùng để chỉ sao Kim, tức thần Vệ Nữ. Trải qua quá trình phát triển ngữ nghĩa, từ này được dùng để chỉ những phụ nữ nổi tiếng trong xã hội, rồi mở rộng để gọi những người có sức ảnh hưởng trong một lĩnh vực nhất định như diễn viên, ca sĩ, nghệ sĩ hay vận động viên nổi tiếng. Tiếng Việt đã tiếp nhận trọn vẹn lớp nghĩa này. 

Và, ít người biết rằng, trong tiếng Việt còn có một chữ minh tinh khác, được viết là 銘旌.
 

                    

Minh 銘 nghĩa là khắc, ghi chép. Bài "bi minh" khắc trên bia mà ta nghe chính là chữ Minh này. Tinh 旌 là lá cờ, gặp trong từ tinh kỳ. Minh tinh theo nghĩa trên chỉ một dải lụa buộc vào cành tre, trên đó ghi thông tin như tên họ, thụy hiệu, chức tước, học vị của người đã khuất. Theo phong tục xưa, minh tinh được dựng ở phía đông linh sàng. Khi đưa tang, người ta cầm minh tinh đi trước quan tài, đến lúc hạ huyệt thì phủ dải lụa ấy lên quan tài.

                       

Ngày nay, minh tinh với ý nghĩa này ít được sử dụng hơn, dẫu vậy thì dấu vết của lớp nghĩa này vẫn còn được lưu giữ trong văn học dân tộc:

“Cóc chết lại có minh tinh,
Thất nghiệp nằm đình có trống cầm canh.”
                                                    (Ca dao)
 
“Non nước tan tành hệ bởi đâu?
Rầu rầu mây bạc cõi Ngao Châu
Ba triều công cán vài hàng sớ,
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu.
Ải Bắc, ngày trông tin nhạn vắng,
Thành Nam đêm chạnh tiếng quyên sầu.
Minh tinh chín chữ lòng son tạc,
Trời đất từ đây mặc gió thâu!”
                             (Nguyễn Đình Chiểu)

                                                       Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮

QUAN PHU 鰥夫 – Theo trang “Ngày ngày viết chữ”

       
                 


Hôm trước giới thiệu từ “tục huyền”, có bạn nói mình biên từ “quan phu” nữa nha, nên giờ có bài này.

“Quan phu”, chữ Hán viết là 鰥夫, trong đó:

– Quan là người goá vợ, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “người goá vợ, người lớn tuổi mà không có vợ”. Trong bản Gia huấn ca (được cho là) của Nguyễn Trãi có câu:

Thương người quan quả cô đơn,
Thương người lỡ bước lầm than kêu đường*.

Trong đó “quan” 鰥 là người goá vợ, “quả” 寡 là người goá chồng, “cô” 孤 là mồ côi cha mẹ, “đơn” 單 (chính ra là “độc” 獨 nhưng vì niêm luật thơ mà ở trên dùng “đơn”) là già không con cái. “Quan quả cô độc” được gọi là “tứ cùng” (四窮), tức bốn nhóm người có tình cảnh đáng thương hơn cả theo quan niệm xưa.

– Phu là chồng, người chồng, người đàn ông như phu thê (夫妻) là vợ chồng, vị hôn phu (未婚夫) là chồng chưa cưới, tiều phu (樵夫) là người đốn củi.

“Quan phu” là người đàn ông goá vợ, cũng có thể chỉ người đàn ông lớn tuổi mà không có vợ. Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ giảng “người đàn ông độc thân, ở một mình, không vợ”. Ứng với “quan phu” là “quả phụ” (寡婦), nghĩa là người đàn bà goá chồng.

Bài Hạ trung tiếp đáo khuê vi hung tấn ai cảm kỷ thực (Giữa mùa hạ nhận tin vợ mất, ghi lại nỗi đau buồn) của Phan Huy Ích có câu:

Ky tình bôn phó vị tri kỳ,
Thiên lý quan phu trường uất kết.
 
羈情奔訃未知期,
千里鰥夫腸鬱結。
 
Tạm dịch: 
  
Thương xót nơi xa nào bày tỏ,
Ngàn dặm quan phu dạ kết sầu.
….
* Cũng có bản chép “Thương người đói rét/đói rách lầm than kêu đường”.
                                                       Theo trang “Ngày ngày viết chữ”

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

GÌN GIỮ TIẾNG VIỆT CỦA DÂN TÔI - Nguyễn Chương Mt


 
Ai nói theo tiếng thuần Việt (quốc âm, còn gọi Nam âm), ai nói theo âm HV (Hán-Việt), thảy đều tôn trọng. NHƯNG cho phép tôi quí mến cách nói THUẦN VIỆT hơn (trong trường hợp tiếng thuần Việt và âm HV cùng nghĩa), quí hơn hẳn!

/1/ "CUỐN" - "Quyển"

"Quyển", trong "quyển sách", là cách gọi dựa vào chữ Hán, là âm HV của 卷. Trong khi đó, "CUỐN" là tiếng thuần Việt, hoàn toàn nằm ngoài hệ thống HV của chữ Hán!

Trong chữ Hán có "quyển nhì" 卷二 , "quyển tam" 卷三; trong khi đó tiếng Việt gọi là "CUỐN hai", "CUỐN ba".

/2/ "GIÙM" ("GIÚP") - "Hộ"

Quí bạn vẫn thường nghe: "nhờ làm giùm (làm giúp)", "nói giùm", "thu giùm (thu giúp)". "GIÙM", "GIÚP" hoàn toàn là tiếng thuần Việt, KHÔNG phải âm HV!

Rồi, trong khi đó bạn lại nghe: "làm hộ", "nói hộ", "thu hộ". Từ đâu ra "hộ"? Bạn có ngờ nổi, "hộ" chính là âm HV của 護, dựa vào chữ Hán đó đa!

/3/ "LẺ" - "Linh"

Tỉ như đọc "305" là "ba lẻ năm", lại nghe "ba linh năm". Có phải "lẻ", "linh" thuộc về phương ngữ trong Nam, ngoài Bắc? Không phải!

Trong chữ Hán, có khoảng 50 ký tự viết khác nhau nhưng đều đồng âm "linh", đồng âm lủ khủ. Trong đó có ký tự 零 "linh", nghĩa gì vậy?

Chữ Hán viết 三 零 五, kéo theo âm HV là "tam linh ngũ" (305). "Linh" là âm HV của 零, nghĩa là "LẺ" trong tiếng thuần Việt!

Không phải phương ngữ gì hết trơn, ở đây, "LẺ" là tiếng thuần Việt, cùng nghĩa với "Linh" là âm HV (dựa vào chữ Hán) đó đa!

Chúng ta nói "tiền lẻ", đồng nghĩa trong chữ Hán đọc là "linh tiền" (零 錢). Có ai ở ngoài Bắc , mặc dù gọi "ba linh năm" (305, tức "ba lẻ năm"), đi gọi... "linh tiền" không? Không! Mà đều gọi "tiền lẻ", "LẺ"!

* Thấy gì?

"LẺ" đã là tiếng thuần Việt trong cả nước. Cũng như "CUỐN", "GIÙM" ("GIÚP") đều đã là tiếng thuần Việt trong cả nước.

Rồi, do chịu ảnh hưởng Hán hóa trong ngôn ngữ, đem tiếng thuần Việt có sẵn ... sửa theo âm HV từ lúc nào đó, rất lâu, riết "nhập tâm" nói hoài đã thành quen miệng.

Thời may, cũng vẫn còn trong tiềm thức về tiếng thuần Việt. Thành thử vẫn còn giữ lại cách nói "tiền lẻ" (chớ không "linh tiền").

-------

Tiếng thuần Việt KHÔNG nằm trong âm HV, trước đây được ghi bằng CHỮ NÔM. Như chữ Nôm 𥘶 (đọc là LẺ), 𢩾 (đọc là GIÚP), 𡑓 (đọc là GIÙM), 卷 (đọc là CUỐN, theo cách thức dị âm đồng nghĩa với "quyển").

                                                                          Nguyễn Chương-Mt

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

CHIẾT TỰ CHỮ PHONG 豊 - Dịch Thuật Hán Nôm



Hán–Việt: Phong
Nghĩa Việt: Phong phú, dồi dào, đầy đủ; sung túc, thịnh vượng.
Phiên âm (Pinyin): fēng

Chữ 豊 (Hán–Việt: Phong) là một chữ Hán mang nghĩa phong phú, đầy đủ, dồi dào và thịnh vượng. Chữ này gợi lên hình ảnh lễ vật, của cải được bày biện đầy đủ, từ đó biểu thị trạng thái sung túc, phong thịnh. Nghĩa của chữ 豊 không chỉ dùng để nói về vật chất dồi dào mà còn có thể mở rộng sang sự phong phú về tài năng, tri thức, đức hạnh và đời sống tinh thần.

Theo hình thể chữ Khải, chữ 豊 gồm hai thành phần: 曲 + 豆
Chữ 曲 (Khúc) mang nghĩa cong, uốn, khúc; trong hình thể của 豊, phần này nằm phía trên và góp phần tạo nên hình dáng tổng thể của chữ.
Chữ 豆 (Đậu) vốn là hình một loại đồ đựng dùng trong nghi lễ thời cổ, thường dùng để đựng lễ vật. Trong chữ 豊, 豆 gợi hình ảnh một vật chứa lễ được đặt bên dưới phần 曲.
Có thể trình bày: 豊 = 曲 + 豆
Khi kết hợp 曲 + 豆, có thể gợi nên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy đặn, biểu thị sự đầy đủ và sung túc.
豆 gợi hình ảnh vật chứa lễ vật, còn 曲 góp phần tạo nên hình thể của chữ. Từ hình ảnh lễ vật đầy đủ trong các nghi lễ cổ, chữ 豊 phát triển thành những ý nghĩa như phong phú, dồi dào, sung túc và thịnh vượng.
Vì vậy, 豊 có thể được ghi nhớ qua hình ảnh: “Lễ vật đầy đủ, của cải dồi dào → phong phú, sung túc.”

Các từ ngữ quen thuộc có chữ này
豊富 (Phong phú): dồi dào, nhiều và đa dạng.
豊饒 (Phong nhiêu): màu mỡ, sản vật dồi dào, phong phú.
豊盛 (Phong thịnh): đầy đủ, sung túc, thịnh vượng.
豊年 (Phong niên): năm được mùa, mùa màng dồi dào.
豊穣 (Phong nhượng): mùa màng phong phú, sản vật dồi dào.
豊滿 (Phong mãn): đầy đặn, sung mãn, đầy đủ.

Nhìn từ góc độ chiết tự, 豊 = 曲 + 豆 gợi lên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy, tượng trưng cho sự đầy đủ và sung túc. Hình ảnh ấy giúp người học dễ liên tưởng đến ý nghĩa phong phú, dồi dào, thịnh vượng của chữ.

Vì vậy, chữ Phong 豊 không chỉ gợi đến sự giàu có về vật chất mà còn có thể được hiểu rộng hơn là một trạng thái đầy đủ và dồi dào trong cuộc sống. Một đời sống “phong” không nhất thiết chỉ nhiều của cải, mà còn có thể là phong phú về tri thức, giàu có về tình nghĩa và đầy đặn về đức hạnh.
 
                                                                     Dịch Thuật Hán Nôm

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

KHẢI HOÀN 凱還 – Bài viết của Ung Chu


- khải 凱: khúc nhạc mừng khi quân đội chiến thắng trở về, hoán dụ chỉ chiến thắng, thắng lợi, có liên quan chữ "khải" 愷 nghĩa là vui mừng

- hoàn 還: trở về, như trong "châu hoàn Hợp Phố" 珠還合浦 (châu về Hợp Phố), "hoàn hồn".

"Khải hoàn" 凱還 nghĩa là thắng trận trở về, đây là từ lâu đời trong Hán ngữ. Bài ca mừng thắng trận trở về là "khải ca" 凱歌, "khải hoàn ca" 凱還歌. Tuy nhiên, trong tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Hàn, người ta thường dùng từ "khải toàn" 凱旋. "Toàn" 旋 nghĩa là quay tròn, quay lại, quay về.

Cổng vòm Arc de Triomphe (arc de triomphe de l'Étoile) là một trong những biểu tượng nổi tiếng của nước Pháp, toạ lạc giữa Quảng trường Charles-de-Gaulle (tiếng Pháp: place Charles-de-Gaulle) tại thủ đô Paris, trước đây gọi là Quảng trường Étoile (tiếng pháp: place de l'Étoile). Người Việt Nam gọi Arc de Triomphe là Khải Hoàn Môn (danh từ riêng).

Cổng này thuộc dạng công trình cổng chào mừng chiến thắng ở châu Âu, kế thừa kiến trúc La Mã cổ đại, ta gọi chung là các "khải hoàn môn" 凱還門 (danh từ chung). Tiếng Pháp gọi là "arc de triomphe" với "arc" chỉ cổng vòm, "triomphe" nghĩa là chiến thắng, tiếng Anh gọi là "triumphal arch" (triumph: chiến thắng, thắng lợi lớn; arch: cổng vòm).

Trong khi người Việt Nam gọi "Khải Hoàn Môn" và "khải hoàn môn", thì các ngôn ngữ kia gọi là "Khải Toàn Môn" 凱旋門 và "khải toàn môn" 凱旋門. Tiếng Nhật đọc là "gai-sen-mon" がいせんもん, tiếng Hàn đọc là "gae-seon-mun" 개선문, tiếng Trung Quốc viết giản thể là 凯旋门.

                                                                        Bài viết của Ung Chu

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập



Đi Đà Lạt chơi với công ty của con trai đầu, mình mua vội một chai dầu gió. Thấy ghi 3 chữ Hán 上標油, mình tò mò đọc “Thượng tiêu du”.
上 “thượng” nghĩa là “bên trên”, thì dễ hiểu thôi.
油 “du” nghĩa là “dầu” cũng dễ hiểu.
Nhưng 標 “tiêu” nó ẩn nghĩa gì ?
Mình tra thử từ điển Hán Việt để rõ.
Thì ra 標 có nhiều cách đọc như : “tiêu, phiêu, biểu” có nghĩa là “ngọn”, “khuôn mẫu”, “cây nêu”
Tên chữ Hán in trên hộp, trên chai của dòng dầu gió Siang Pure Oil (thường gọi là dầu ông già Thái Lan) là 上標油 , phiên âm Hán Việt đọc là “Thượng Tiêu Du”.

Cụm từ 上標油 còn có thể đọc theo âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du”, “Thượng Biểu Du” (hoặc người Tàu gọi sản phẩm này là “Thượng Tiêu Bản”).

1. Nguồn gốc tên gọi
 
Thương hiệu dầu gió “Ông Già” Thái Lan Siang Pure Oil có nguồn gốc sâu xa từ công thức y học cổ truyền của người Hoa di cư vùng Triều Sán (Quảng Đông).
- Tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew / Siang Pure Oil)
- Chữ Hán in trên hộp, trên chai: 上標油
- Phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú
(đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái).
Thượng Tiêu Du  (上標油) mang ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"
 
2. Chiết tự âm Hán Việt
 
Khi dịch chữ Hán 上標油 sang âm Hán Việt, chúng ta sẽ có:
上 (Thượng): Nghĩa là ở trên, cao cấp, danh tiếng.
標 (Tiêu / Biểu): Nghĩa là nhãn hiệu, cột mốc, tiêu chuẩn (trong từ "mục tiêu", "nhãn hiệu").
油 (Du): Nghĩa là dầu, tinh dầu.
 
* Nguồn gốc tên gọi "Siang Pure" liên quan đến chữ Hán:
 
Mặc dù nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là Thượng Phiêu Du (上標油), nhưng cách đọc tiếng Anh Siang Pure lại bắt nguồn từ âm đọc tiếng Triều Châu của một cụm từ Hán khác.
 
 Do người sáng lập thương hiệu này là ông Boonchua Eiampikul - một người gốc nhập cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan.

Khi phân phối cho thị trường người Hoa, hãng sử dụng tên gọi Thượng Tiêu Du (上標油) làm thương hiệu chính thức để khẳng định uy tín và chất lượng của sản phẩm.

Như vậy, từ phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú  (đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái). Nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là 上標油 với âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du,  “Thượng Tiêu Du”, “Thượng Biểu Du”.
 
Trong tiếng Anh chữ “Pure”  có nghĩa là tinh khiết, nguyên chất hoặc thuần túy…
“Pure Oil” có nghĩa là dầu nguyên chất hoặc dầu tinh khiết, chỉ loại dầu được chiết xuất từ thực vật hoặc động vật mà không bị pha trộn với các chất phụ gia, tạp chất hay dầu nền rẻ tiền khác.
 
Công dụng:
 
Dầu gió đỏ Siang Pure Oil là sản phẩm của Thái Lan dùng để:             
- Giảm cảm lạnh, ngạt mũi, đau đầu, chóng mặt.
- Xoa dịu vết sưng, bầm tím và ngứa do côn trùng đốt .
- Giảm đau cơ khớp nhẹ.
- Giữ ấm cơ thể và tạo cảm giác sảng khoái.

                                                               La Thuỵ sưu tầm và biên tập

Phụ chú:

Âm Hán Việt có những cái ngồ ngộ. Trước 1975, khi học môn triết, tôi ngỡ ngàng về một số từ ngữ chẳng hạn YÊN SĨ PHI LÝ THUẦN, sau đó mới hay rằng đó là cách phiên âm Hán-Việt cũ từ chữ Hán 英士斐理純 (do Lương Khải Siêu phỏng dịch) để chỉ từ INSPIRATION (có nghĩa là cảm hứng) ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, trong triết học dùng chỉ trạng thái thăng hoa, linh cảm hoặc nguồn cảm hứng sáng tác nghệ thuật.
*
Cũng lạ, PHIÊU 標 là âm Hán Việt của PURE (tiếng Anh), nhưng DU 油 là nghĩa chính của OIL (tiếng Anh).
"Thượng Phiêu Du"上標油 là hỗn hợp của phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh với 
âm Hán Việt của chữ Hán có ý nghĩa trực tiếp !

Tra từ điển Hán Nôm, ta thấy: 油 (DU)

- Âm Hán Việt: du
- Âm Quan thoại: yóu
ㄧㄡˊ, yòu ㄧㄡˋ
- Âm Nôm: dàu, dầu, du, dư, rầu, trầu
- Âm Nhật (onyomi):
ユ (yu), ユウ (yū)
- Âm Nhật (kunyomi):
あぶら (abura)
- Âm Hàn:
유
- Âm Quảng Đông: jau4

Như vậy, "Íu" (hoặc "iêv", "iu"), không phải là phiên âm của chữ DU 油 mà là phiên âm của chữ OIL.
Từ OIL trong tiếng Anh
được người Triều Châu phiên âm thành "อิ๊ว" - phát âm là iu / íw).

Trong tiếng Anh từ YOU được phiên âm quốc tế là /juː/, đọc nhanh nghe như là "du"
Từ THANK YOU được phiên âm quốc tế là /ˈθæŋk juː/, người Việt thường đọc gần đúng là "thanh-kyu" không đọc là ''thanh du'' ...

*
Tên chữ Hán của loại dầu gió này là hỗn hợp âm Hán Việt của chữ Hán như THƯỢNG 上 (Siang), kết hợp phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh PURE (phiêu) và OIL (Ew, íu) thành “Siang-phiêu-iú”, Thượng Phiêu Du (上標油). Đặc biệt, dù phiên âm chữ OIL trong tiếng Anh thành “íu”, họ vẫn viết chữ Hán là DU 油. Chữ PURE trong tiếng Anh, họ viết thành 標 “phiêu” (hoặc “tiêu”)

Dầu gió Siang Pure Oil (上標油) của Thái Lan, do người Hoa di cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan sản xuất. Họ dùng tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew) và tên tiếng Anh Siang Pure Oil để quảng cáo cho thương hiệu dầu gió này, đồng thời ghi chữ Hán上標油 in trên hộp, trên chai với ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

THẮNG 勝 - Bài viết của Trúc Âm, Tri thư đạt lễ



“Sinh rằng: Giải cấu là duyên,
Xưa nay nhân định THẮNG thiên cũng nhiều.”
 
Tiếng Việt có Thắng, chữ Hán viết 勝. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng: Thắng là khả năng gánh vác, đảm đương, về sau mở rộng sang nghĩa vượt trội, chiến thắng và những gì nổi bật hơn hẳn.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, Thắng được dùng rất nhiều với nét nghĩa vượt lên, chiếm ưu thế, kết quả thành công như trong các từ chiến thắng, thắng lợi, thắng trận, thắng bại, quyết thắng, bách chiến bách thắng, nhân định thắng thiên,.. Đồng thời Thắng cũng mang nghĩa đẹp đẽ, tốt lành, thường gặp trong những nơi chốn có cảnh sắc đặc biệt như thắng cảnh, danh thắng, thắng địa,...
 
Thắng quyết định kết quả hơn thua giữa hai phía, mang sắc thái của kết quả bên ngoài, song trong tư tưởng phương Đông, chữ này còn ẩn chứa tinh thần tu dưỡng bên trong qua khả năng “tự thắng” - tức khả năng tự đối diện và chế ngự bản thân của con người. Thắng người đời vốn đã khó, nhưng để thắng được chính mình, chế ngự mọi xúc cảm tiêu cực, dục vọng và giới hạn nội tâm thì lại càng khó hơn.
 
Vì gửi gắm mong ước về chí tiến thủ, bản lĩnh vững vàng và khả năng chiến thắng chính mình trước khi chiến thắng người khác, cho nên đây là một cái tên đẹp trong văn hóa đặt tên của người Việt ta.
 
“Thanh tao lịch sự đủ mùi,
Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy.
Đâu đâu nam bắc đông tây,
Thăng Long thắng địa, xưa nay tiếng đồn.”
                                                    (Ca dao)
 
層樓閱歷幾星霜,
勝景幽淒已半荒。
齋灶煙消春草茂,
花階露冷谷風涼。
 
Tằng lâu duyệt lịch kỷ tinh sương,
Thắng cảnh u thê dĩ bán hoang.
Trai táo yên tiêu xuân thảo mậu,
Hoa giai lộ lãnh cốc phong lương.
 
Tầng lầu dầu dãi mấy tinh sương,
Thắng cảnh còn đây ngọn suối hoang!
Thềm gạch gió lùa, hơi lạnh lẽo,
Bếp chay cỏ mọc, dấu mơ màng.
(Ngô Thì Nhậm, bản dịch thơ Ngô Sĩ Lâm)
 
三年不吃酒吹煙,
人生無病是真仙。
喜見南方連大勝,
一年四季都春天。
 
Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quý đô xuân thiên.
 
Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên, sướng tuyệt trần,
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân.
(Hồ Chí Minh, bản dịch thơ Khương Hữu Dụng)
 
“Lòng soi mơ ước, trào dông bể
Dạ cháy mưu toan, ngút lửa thành

Thắng, bại, anh hùng, không cứ luận
Mỹ Lương một trận, tử mà sinh!”
                                  (Vũ Đình Liên)
 
                                                                  Bài viết của Trúc Âm
                                                                Tri thư đạt lễ - 知書達禮

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

NHUẬN BÚT 潤筆 - Bài viết của Trúc Âm



Nhuận bút, chữ Hán viết 潤筆. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), “nhuận bút” là tiền trả cho tác giả đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, khoa học được xuất bản hoặc được sử dụng. Nói cách khác, đây là cách gọi của “tiền tác quyền” trong đời sống hiện đại.
Tầm nguyên từ điển giảng: Nhuận 潤 là thấm ướt, làm cho mềm và trơn; Bút 筆 là cây bút, ngòi bút, cũng chỉ việc viết lách và sáng tác văn chương. Như vậy, Nhuận bút nguyên nghĩa là “làm ướt ngòi bút”, tức làm mềm lông bút trước khi viết.
Từ này về sau dần được dùng để trỏ thù lao dành cho người sáng tác văn chương, viết chữ hoặc vẽ tranh. Thời xưa, việc trả "nhuận bút" cho người viết rất phổ biến, đặc biệt với những người chuyên viết bia ký, chiếu chỉ hoặc văn chương cung đình.

Trong tiếng Việt hiện nay, từ này được dùng hoàn toàn theo nghĩa phổ biến của từ điển: khoản tiền trả cho tác giả khi tác phẩm được sử dụng hoặc công bố.

人過伊川悲野祭,
客從東洛感山傾。
北窗許久凄涼甚,
潤筆含杯意未平。

Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,
Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.
Bắc song hứa cửu thê lương thậm,
Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.

Qua xứ Y Xuyên buồn đám tế,
Về vùng Đồng Lạc cảm chuông rơi.
Lâu nay cửa bắc ngồi tê tái,
Rượu nhấm bút cầm dạ chửa vơi.
(Nguyễn Khuyến, bản dịch thơ Phạm Thúy Lan)

“Sẵn món tiền nhuận bút
Ông ra phố tức thì
Đi lùng mua bằng được
Bóng da, có véc ni.”
                       (Tú Mỡ)

“Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốt
Ngoảnh lại còn ta con nít đến già
Rồi một ngày mẹ Đốp cười móm mém
Em vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta.”
                                    (Nguyễn Duy)
 
                                                                        Bài viết của Trúc Âm

PHỤ CHÚ:

Chữ "Nhuận" (润 / 潤) thuộc bộ Thủy, mang ý nghĩa gốc là thấm ướt, ẩm ướt, làm cho bớt khô.
润 giản thể của chữ 潤

“Nhuận” có các nghĩa sau:
1. nhuần nhị
2. thấm ướt
3. lời, lãi

- Nhuận tảng tử (潤嗓子) : nhuận họng
Tảng tử (嗓子): cổ họng
Nhuận họng gần nghĩa với nhuận giọng
Vd:
Uống trà cho nhuận giọng (làm ướt cổ họng) trước khi nói

- Nhuận tràng 潤腸 là "làm trơn ráo và ẩm ướt đường ruột", giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru
Từ "nhuận tràng" (hoặc nhuận trường) trong chữ Hán được viết là 潤腸 (chữ Phồn thể) hoặc 润肠 (chữ Giản thể).

- “Nhuận” 潤 / 润 :
Có nghĩa là ẩm ướt, làm cho bớt khô, trơn láng hoặc thấm nhuần. Chữ này gồm bộ Thủy (⺡ - nước) đi kèm để chỉ tính chất ẩm ướt, mượt mà.腸 / 肠
- Tràng/Trường 腸 / 肠 Có nghĩa là ruột, bộ phận tiêu hóa. Chữ này gồm bộ Nguyệt (⺼ - biến thể của bộ Nhục, chỉ thịt/bộ phận cơ thể) nằm ở bên.

- Nhuận tràng thông tiện 润肠通便 : Làm trơn ruột, giúp đại tiện dễ dàng.