落 (Lạc) nghĩa là rơi, rụng. Trong văn chương, “lạc” thường gợi cảm giác tàn phai, suy tàn, không còn ở thời điểm rực rỡ nhất.
BÂNG KHUÂNG
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026
LẠC HOA ĐỀ ĐIỂU (落花啼鳥) – Theo Cảm nhận chữ Hán
落 (Lạc) nghĩa là rơi, rụng. Trong văn chương, “lạc” thường gợi cảm giác tàn phai, suy tàn, không còn ở thời điểm rực rỡ nhất.
GIAO THỪA 交承 – Theo Tiếng Việt giàu đẹp
Giao thừa còn có tên gọi khác là trừ tịch (除夕), với “trừ” (除) là “loại bỏ, thay đổi”, “tịch” (夕) là “buổi tối, đêm”. Có thể hiểu “trừ tịch” là “đêm của sự thay đổi”.
Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026
TÁO QUÂN 竈君 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ 知書達禮
Hình ảnh: Táo Quân, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026
LẠI LÀM KHÓ AI - Son Tran
Cả hai ngoan ngoãn trả lời: “Có, tôi sẽ đọc và dịch sang tiếng Việt giúp bạn”.
Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026
NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch
Xem clip trên laptop tôi thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg).
Đây cụm từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện, theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự). Bởi vậy, tôi đọc theo âm Hán Việt 二十六 貫 là “nhị thập lục quán”, nhưng chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nó không phải là đơn vị đo khối lượng.
Vì không biết tiếng
Nhật nên tôi tra từ điển Hán Việt để tìm chữ 貫 có chỉ về đơn vị đo khối lượng không? Kết quả như sau:
貫 Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11Bộ: bối 貝 (+4 nét)Lục thư: hội ýHình thái: ⿱毌貝Nét bút: フフ丨一丨フ一一一ノ丶Nghĩa:1. xâu tiền2. xuyên qua, chọc thủng3. thông suốt
4. quê quán.
Tôi không thấy có chỗ nào cho biết 貫 chỉ về đơn vị đo khối lượng cả.
Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như:
市 /shì/ THỊ : cái chợ
hoặc
巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng.
Nên tôi tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.
HÃY CẨN TRỌNG VỀ SỰ BỊA ĐẶT CỦA AI KHI NHỜ AI DỊCH CHỮ HÁN – Bài viết của Son Tran
Ảnh 1
Học trò cũ của tôi ở Đại học Phú Xuân là Thu Amy, gửi cho tôi 3 bức ảnh kèm lời nhắn: “Nhờ thầy xem giúp cặp câu đối chữ Hán ở ảnh 1 dịch sang tiếng Việt có đúng như AI dịch ở ảnh 2 và ảnh 3 không?”.
Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026
CỦ MẬT 糾密 - Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng
- Củ-mật. Nói về độ gần tết hay có trộm cướp, nhà nào cũng phải giữ-gìn cẩn-thận: Tháng củ-mật.
Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026
DANH TỪ 名詞 – Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng
COMMON NOUN - DANH TỪ CHUNG
CONCRETE NOUN - DANH TỪ CỤ THỂ
ABSTRACT NOUN - DANH TỪ TRỪU TƯỢNG
PROPER NOUN - DANH TỪ RIÊNG
TUỔI MỤ LÀ GÌ? – Theo Đào Hoa Bỉ Ngạn
Tuy nhiên, nhiều người chưa hiểu vì sao lại có tuổi mụ và từ bao giờ loại tuổi này xuất hiện.
Trên toàn thế giới có lẽ chỉ ở Trung Quốc và Việt Nam là có hai loại tuổi, đó là Tuổi mụ và tuổi thực.
Trong tiếng Hán, tuổi mụ được gọi là “hư tuế” – chữ “hư” ở đây có nghĩa là hư rỗng, rỗng không; ở ngữ cảnh này có thể tạm hiểu là “giả, trái nghĩa với chữ “thực”.
Nếu hỏi về tuổi thực, hầu như ai cũng có thể nói một cách dễ dàng, nhưng với tuổi mụ - “hư tuế” thì “hư” giả ở chỗ nào lại là một câu hỏi rất khó trả lời.
CHỮ TÁC 作 ĐÁNH THÀNH CHỮ TỘ 祚 - Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng
Người Việt có thành ngữ "chữ tác đánh chữ tộ", hoặc có thêm một vế nữa là "chữ ngộ đánh chữ quá", dùng để nói về việc yếu kém chữ nghĩa, không đọc thông viết thạo, nhầm chữ này với chữ nọ. Vậy chữ "tác" và chữ "tộ", chữ "ngộ" và chữ "quá" là những chữ gì mà có thể nhầm lẫn?
- tác 作: nghĩa là làm, làm ra, tạo ra, như trong "sáng tác", "thao tác", "tác nghiệp", "tác giả", chữ này mang bộ "nhân" 亻 (người)
- quá 過: nghĩa là trải qua, vượt qua, vượt quá, như trong "thái quá", "quá giang", chữ này mang bộ "sước" 辶 và kí âm bằng chữ "oa / qua" 咼.
TAM THÊ TỨ THIẾP - Theo Bác Văn Ước Lễ 博文約禮
TẠI SAO VIẾT TẮT “K” THAY CHO 1 NGÀN? – Trang Anh Thạc
- Chị Trương Ngọc Bảo Xuân nêu thắc mắc như sau:
- Tại sao 10 ngàn đồng họ ghi là 10K, chữ K từ đâu ra?
Trang Anh Thạc xin trả lời.
- K (viết in) là viết tắt của "kilo", nguyên đơn vị đo lường của tiếng Hy Lạp, nghĩa là 1 ngàn. Từ đó, đơn vị đo lường phổ biến của người Pháp (metric) dùng cho tất cả mọi lãnh vực từ khoa học đến mọi tính toán thập phân cho kỹ thuật đều là K, tức "kilo" dùng cho số lượng 1 ngàn. Kilo đã trở thành tiếp đầu ngữ quốc tế cho 1 ngàn, như: kilometre (1,000 mét), kilogram (1,000 grams), kilowatt (1,000 watts, điện), kilovolt (1,000 volts, điện), kilobyte (1,000 bytes, dung lượng điện toán), v.v.
Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026
HIỆN SINH 現生 – Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng
"Hiện sinh" 現生 chỉ sự tồn tại, hiện hữu, sống còn. Tiếng Trung Quốc gọi chủ nghĩa hiện sinh là "tồn tại chủ nghĩa" 存在主義 (giản thể: 存在主义). Tiếng Nhật gọi là "thực/thật tồn chủ nghĩa" - "jitsu-zon shu-gi" 実存主義 (じつぞんしゅぎ), tiếng Hàn đọc là "shil-jon ju-ui" 실존주의 (實存主義).
EXISTENCE - EXISTENTIAL - HIỆN SINH - HIỆN HỮU
EXISTENTIAL CRISIS - KHỦNG HOẢNG HIỆN SINH
Chủ nghĩa hiện sinh xoay quanh sự tồn tại của con người, theo đó mỗi cá nhân tự do lựa chọn và tạo nên ý nghĩa của sự tồn tại, cuộc sống của mình, nhờ vào lí trí, ý thức. Cuộc sống thực tế của từng cá nhân tạo nên bản chất thật sự của họ, chứ không phải bản chất có sẵn được kết luận chủ quan bởi người khác. Cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh là "l'existence précède l'essence" (tiếng Anh: existence precedes essence), thường được dịch là "hiện sinh có trước bản chất" hay "hiện hữu có trước bản chất"...
HÀI ĐỒNG 孩童 – Ung Chu, Hán Việt Thông Dụng
Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025
TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI - Mạnh Kim
Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông nguyện hồn ai” (phải là “nguyện”, chứ không phải “gọi” – như các bản dịch sau 1975, nghe mới “đã” và mới đúng với ý như câu chuyện của tác phẩm Hemingway).
Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta”.
Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt. Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh”.
So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc.
Trong Love Story, ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những từ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt”; hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang”…
Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!”.
Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ.
Họ nhảy múa với ngôn ngữ.
Họ thăng hoa với ngôn ngữ.
Họ bay bổng với ngôn ngữ.
Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025
“THANH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết: Khánh Ly, trích Tri thư đạt lễ - 知書達禮
Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025
MAGGI, XÌ DẦU HAY TÀU VỊ YỂU; BỘT NGỌT, VỊ TINH HAY MÌ CHÍNH... – Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng
“Xì dầu” theo tiếng Quảng Đông "si6 jau4" 豉油 (Jyutping) và "xì íu / xì yếu" theo tiếng Triều Châu "si7 iu5" 豉油 với âm Hán-Việt là "thị du" 豉油 nghĩa là dầu đậu lên men.
--
BỘT NGỌT, VỊ TINH HAY MÌ CHÍNH !
Sau khi người Nhật Bản phát triển chất monosodium glutamate (MSG) tạo vị umami để làm bột ngọt, người Trung Hoa đã vay mượn cách gọi "mi-sei" 味精 (みせい) của tiếng Nhật nghĩa là tinh chất của hương vị, đọc chữ Hán theo bản ngữ để gọi bột ngọt.
Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2025
QUẢN HUYỀN 管絃 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ
“Kiệu hoa đâu đã đến ngoàiQuản huyền đâu đã giục người sinh ly.”(Truyện Kiều)
Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2025
WUMAO 伍毛, DƯ LUẬN VIÊN CỦA TÀU - Nguyễn Văn Tuấn
Wumao伍毛 là tiếng lóng để chỉ những “Mạ thủ”罵手
✔ Mạ 罵: Mắng chửi như trong mạ lị, nhục mạ, lăng mạ
✔ Thủ 手: Tay, tay nghề như trong cao thủ, danh thủ
✔ Mạ 罵: Mắng chửi như trong mạ lị, nhục mạ, lăng mạ
✔ Thủ 手: Tay, tay nghề như trong cao thủ, danh thủ
*
Tàu ngày xưa là nơi sản sanh ra những mạ thủ, thì Tàu
ngày nay cũng có những đội quân mạ thủ, thuật ngữ tiếng Hoa hiện đại là Wumao伍毛,có âm Hán Việt là “ngũ mao” dùng để chỉ “dư luận viên”:
Như thế, Wumao 伍毛 hay “ngũ mao” là đội ngũ của nhửng kẻ chuyên nhục mạ đối phương để kích động
làm cho đối phương nổi giận, phát cáu
Tôi mới học được một danh từ mới: mạ thủ. Một cách ngắn
gọn, mạ thủ là một kẻ chuyên nghề chửi. (Giống như dư luận viên ngày nay). Lịch
sử ra đời của mạ thủ vẫn còn mang tính thời sự ngày nay.
TỪ HÁN VIỆT, ÂM HÁN VIỆT - Tri thư đạt lễ 知書達禮
Trong tiến trình tiếp xúc văn hoá, nhiều yếu tố ngôn ngữ, đặc biệt là từ vựng tiếng Hán đã du nhập vào tiếng Việt. Những yếu tố vay mượn này được người Việt tiếp nhận, biến đổi và đồng hóa, qua thời gian dần hình thành nên hệ thống lớp từ có số lượng lớn là từ Hán Việt, được sử dụng rộng rãi và ổn định trong tiếng Việt hiện nay.
Có thể nói từ Hán Việt và từ vựng tiếng Hán hiện đại vẫn duy trì mối quan hệ họ hàng gần gũi, do cùng bắt nguồn từ một gốc chung trong lịch sử tiếng Hán. Song do sự khác biệt về lịch sử, văn hóa và lối tư duy của hai dân tộc qua thời gian nên giữa tiếng Hán, âm Hán Việt và từ Hán Việt tồn tại những khác biệt quan trọng. Cần phân biệt chúng như sau:
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)



















