BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI CANH TÝ 2020 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÌNH THƠ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÌNH THƠ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2020

ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOẠ 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA.- Châu Thạch


        
               Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa


VÀ EM…

Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua

Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta - bà
Rong chơi

Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm

Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…

Nhà sáng tác Đà Lạt - 8.2006
Lê Thiên Minh Khoa

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2020

NHẬN XÉT NGẮN VỀ MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA THƠ - Phạm Đức Nhì


              
                            Nhà thơ Phạm Đức Nhì


         NHẬN XÉT NGẮN VỀ MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA THƠ
                                                                              Phạm Đức Nhì

MẤY ĐIỂM TỰA 

Bài viết này được dựa trên mấy điểm căn bản sau đây:

1/ Đặc Tính Của Định Nghĩa
Định nghĩa – tùy tác giả hoặc tự điển – có 2, 3 hoặc 4 đặc tính. Trong bài viết này – bàn về thơ - tôi chỉ chọn đặc tính nói đến tính phổ quát của thơ.
Theo Phan Ngọc, “định nghĩa” có 2 đặc tính trong đó tính phổ quát của định nghĩa thơ được phát biểu như sau:
Có giá trị phổ quát, tức là áp dụng cho mọi hiện tượng gọi là thơ trên trái đất này, bất chấp ngôn ngữ, thời gian, tập quán, trường phái.
(Thơ Là Gì?, Talawas 02/09/2002)

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=883&rb=0101

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2020

ĐỌC LỜI BÌNH THƠ CỦA NGUYỄN XUÂN DƯƠNG - Đặng Xuân Xuyến


                   
                         Nhà bình thơ Nguyễn Xuân Dương


      ĐỌC LỜI BÌNH THƠ CỦA NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

Thi thoảng vào trang facebook của nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân Dương, tôi gặp khá nhiều statuts và những dòng comment ngắn, ghi lại cảm xúc của ông về thơ của bạn thơ và những dòng “chia sẻ” đó thường nghiêng về “gợi mở” hơn là “bình”. Có lẽ ông chủ ý chỉ đứng ở vị trí là người “phát hiện” ra thơ hay còn cảm nhận thơ hay thế nào là việc của bạn đọc nên ngay cả những lời “gợi mở” ông cũng khá kiệm lời, ví như khi viết về “Lời Yêu” của Đồng Thị Chúc:

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2020

LÀM THƠ ĐỂ BỘC LỘ CẢM XÚC HAY KHƠI GỢI CẢM XÚC? - Phạm Đức Nhì


                  
                            Nhà bình thơ Phạm Đức Nhì


CUỘC TRANH LUẬN DỞ DANG

Cách nay đã lâu tôi có một cuộc tranh luận khá lý thú với một bạn đọc trên Facebook. Không biết anh ta – cũng là người làm thơ - lấy đâu ra câu “Làm thơ là để khơi gợi cảm xúc (của người đọc) chứ không phải bộc lộ cảm xúc (của mình)” để chê bai, chỉ trích bài viết của tôi. Tôi tin ở cách nhận định và đánh giá thơ của mình, nhưng đây là đề tài lớn của thơ, bàn đến cũng tốn nhiều giấy mực chứ không phải chỉ vài bình luận qua lại trên FB là có thể tỏ rõ ngọn ngành. Ngọn ngành ở đây không phải phân định đúng sai mà là tìm hiểu xem trong hai hướng đi đó thi sĩ nên chọn hướng đi nào để có lợi nhất cho những đứa con tinh thần của mình.

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2020

“THẾ GIAN SAY” VÀ PHIẾM CHỈ TRÒ ĐỜI - Nguyễn Bàng


                  
                               Tác giả Nguyễn Bàng


       “THẾ GIAN SAY” VÀ PHIẾM CHỈ TRÒ ĐỜI

Thế Gian Say gọi là cuộc rượu một người cũng được hay cuộc rượu hai người cũng được. Một người vì bài thơ là lời của Đặng Xuân Xuyến nói về thế gian say. Hai người vì bài thơ có đề tặng nhà thơ Hoàng Xuân Hoạ khiến ta có thể hiểu là hai thi nhân đã đối ẩm với nhau rồi phiếm đàm về thế gian say và sau cuộc rượu thì nhà thơ họ Đặng ghi lại gửi tặng nhà thơ họ Hoàng. Dù hiểu cách nào thì Thế Gian Say cũng là một phiếm đàm về cái say rượu của người đời:

Thế gian say đòi đập chén trở cờ
Thế gian cười.
Thế gian khóc.
Thế gian mơ

Người đời say đòi “đập chén trở cờ” rồi cười, rồi khóc, rồi mơ, rồi thêm nữa:

Ngật ngưỡng bước.
Khành khạch cười.
Chửi cha thiên hạ dở!

Tôi từng nghe, cũng chính người đời đã phân ra ba loại say lớn trong thế gian: Loại thứ nhất, say như khỉ, hết “nhảy múa rồi đến ca hát hay chửi bới”, loại thứ hai, say như lợn, “nặng nề, trì trệ và muốn ngủ”, loại thứ ba, say như dê, “không có đầu óc, nhưng dâm đãng”.

Thế gian say trong thơ Đặng Xuân Xuyến thuộc loại thứ nhất, say rồi chửi cha thiên hạ. Thế thì có sao, thưa hai nhà thơ Đặng xuân Xuyến và Hoàng Xuân Hoạ? Chí Phèo kia, khi say hắn đã chửi tuốt luốt đấy thôi: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại...”. Nhưng Chí Phèo chửi cả làng Vũ Đại đã thấm gì so với Trương Tửu và bạn ông khi say:

Chửi Đông, chửi Tây chửi tất cả

Hình như hai nhà thơ họ Đặng và họ Hoàng rất tương đắc khi chê “Thế gian say đòi đập chén trở cờ”. Tôi tra từ điển “trở cờ” nhưng không thấy mà chỉ có “trở” được định nghĩa “Đảo ngược vị trí đầu thành đuôi, trên thành dưới, trái thành phải hoặc quay ngược lại đi hướng khác”. Dù thế nào trở cờ cũng là xấu. Cái chén nó vừa đựng rượu cho mình uống giờ say đòi đập nó, không xấu thì là gì?

Bài thơ Thế Gian Say hay nhất ở câu cuối:

Rượu ba xu. Thế gian hóa thằng rồ!

Ngày xưa, tiền chi tiêu trong dân chúng là tiền gián, với một quan là 360 đồng, dưới đồng là hào, dưới hào là xu rồi đến chinh và kẽm. Ca dao Việt Nam có nhắc đến người nội trợ đi chợ:

Một quan tiền tốt mang đi
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra
Thoạt tiên mua ba tiền gà...

Ngày nay, đồng tiền Việt Nam được lưu hành trong dân chúng, thấp nhất là tờ giấy bạc một nghìn đồng. Nhà thơ Nguyễn Khôi có kể về vợ mình đi chợ:

Nửa triệu tiền tốt mang đi
Em mua những gì?- máy tính thẩm tra

Xem vậy, rượu ba xu thời nào cũng là thứ rượu rẻ tiền nhất. Nên cái đáng cười người đời là đã phải uống cái thứ rượu mạt hạng ấy mà không biết mình là ai lại đòi đập chén trở cờ rồi cười, rồi khóc, rồi mơ và chửi thiên hạ để chính thế gian gọi là thằng rồ. Nhưng trong cái đáng chê cười ấy cũng nên có chút lòng thương xót vì họ toàn là dân nghèo khốn khó. Những kẻ giàu sang chơi những loại rượu Sake, Shochu, Whisky, Chivas… dẫu có say điên đảo vẫn có kẻ hầu người hạ và có ai dám bảo chúng hoá thằng rồ đâu. Bởi ở đời này, “ông” nào nói to, “ông” nào nhiều tiền thì “ông” ấy đúng!

Vả lại:

Thế gian còn dại chưa khôn
Sống mặc áo rách chết chôn áo lành

Vậy phiếm đàm về thế gian say thì cứ phiếm nhưng đừng quá chê trách họ.

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2020

“ĐỜI KHÁT” VÀ TÌNH VĂN NGHỆ SĨ - Nguyễn Bàng


        


ĐỜI KHÁT

(Thân tặng nghệ sĩ Võ Hoài Nam)

Này thì khát!
Uống cho đời đỡ khát
Rượu tình đời men ủ nhiều năm
Khát chất chồng
dồn nén
tháng năm
Ta đốt cạn cái đong đời cay đắng

Uống!
Thì uống!
Cho lì khoảng lặng
Cho lòng ta chạm được tới lòng người
Cho u buồn phiêu bạt tận biển khơi
Cho Nhật Nguyệt thẹn lòng mà hửng nắng.

Uống!
Thì uống!
Dốc cạn lòng cùng uống
Khát khao ơi hãy tan chảy tận cùng
Thế gian này dẫu sấp ngửa trắng đen
Ta như bạn sống một đời không thẹn.

Uống!
Thì uống!
Ngán chi mà không uống!
Rượu tri âm thêm vững mạnh bước đường!

Hà Nội, 30 tháng 05.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2020

HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG - Nguyên Lạc


   


BÀI THƠ BLUE ROSES - HOA HỒNG XANH

Hoa Hồng Xanh - Blue Roses là bài thơ của Rudyard Kipling, một văn thi sĩ người Anh.

I. Vài Hàng Tiểu Sử Rudyard Kipling

     Joseph Rudyard Kipling (sinh tại Mumbai, Ấn Độ 30 tháng 12, 1865 – qua đời 18 tháng 1, 1936)  là một trong những tác giả nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh, cả về văn xuôi và thơ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Rudyard Kipling đoạt giải Nobel Văn học năm 1907 - ông được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học.

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2020

ĐỌC “ĐÊM TRĂNG LEO LÊN MÁI CHÙA” THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN - Châu Thạch


    
                         Nhà thơ Trần Thoại Nguyên
     

        ĐÊM TRĂNG LEO LÊN MÁI CHÙA

Ngồi trong vườn nguyệt lộ
Hôn một màu trăng non
Nghe lòng mình cười rộ
Chạy băng đồi vô ngôn

Ồ. Hồn tràn mộng trắng
Tôi ôm trăng không màu
Tôi ngút xuống biến dạng
Tôi dại khờ mắt nâu

Ngắt một bông trắng lau
Hương thắm giọt máu đào
Đêm bừng lên nguyệt thẹn
Tôi nằm dài xanh xao

Chim về ngủ ôm trăng,
Ngô đồng rơi chánh điện.
Tôi ngồi giữa Phật đàn
Làm thơ như thánh hiện.

Máu ràn rụa tây hiên
Ồ. Máu băng ngực điên!
Tôi tĩnh mịch trang thơ
Hồn bay theo nhang khói

Chim chết giữa điện thờ
Tôi rớt xuống điện thờ.

Trần Thoại Nguyên
(Chùa Bảo Lộc, Thu 1970).




            ĐỌC “ĐÊM TRĂNG LEO LÊN MÁI CHÙA” 
            THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN
                                                                      Châu Thạch
                                                                                           

     Trước khi đi vào bài thơ, xin vui lòng đọc những trích đoạn viết về nhà thơ Trần Thoại Nguyên và hoàn cảnh tác giả sáng tác bài thơ:

     “Năm 1970, khi còn ngồi ở giảng đường đại học Vạn Hạnh, Trần Thoại Nguyên đã có một bài thơ được chọn đăng trong tạp chí Tư Tưởng của đại học này. Đó là bài “Đêm trăng leo lên mái chùa”.

     Từ đó, Trần Thoại Nguyên tiếp tục treo mình trên những rung động đỉnh ngọn, như một kiếm tìm sự hiệp thông giữa thi ca và trời đất, dù không nhiều.

Với những bài thơ viết sau thời điểm này, dù dù ở hoàn cảnh hay tâm cảnh nào, họ Trần luôn cho thấy ông không ngừng đạp cánh giữa những hư huyễn thực tại và mộng ảo. Thơ treo ông trên những va động giữa ngã và vô ngã. Giữa kiếm tìm bản thể và sự thất lạc, tựa như đó là một định-mệnh-đôi của một thi sĩ. Một cõi riêng tây mà, đôi khi chính ông cũng thấy được dù chiếc bóng của hình tích mình.”

Trích (Trần Thoại Nguyên, định-mệnh-đôi của một thi sĩ - Du Tử Lê)

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2020

MỘT PHÁT BIỂU VỀ THƠ KIỂU “ĐIẾC KHÔNG SỢ SÚNG” CỦA ÔNG NGUYỄN VŨ TIỀM - Phạm Đức Nhì


                  
                             Nhà bình thơ Phạm Đức Nhì



MỘT PHÁT BIỂU VỀ THƠ KIỂU “ĐIẾC KHÔNG SỢ SÚNG”
                                                                                    Phạm Đức Nhì

Ông Nguyễn Vũ Tiềm Trả Lời Phỏng Vấn Của Báo Giáo Dục & Thời Đại

Phóng viên (PV): Thưa nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, trong cuốn “Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam” xuất bản năm 2000 và sau đó tái bản nhiều lần, ông có nêu tiêu chí của thơ là: -Xúc cảm khác thường - Suy nghĩ khác thường - Cách nói khác thường. Gọi tắt là X-S-C. Qua hơn mười năm, hiện nay phong trào sáng tác thơ phát triển rất đông đảo, tiêu chí “khác thường” này có còn phù hợp không?

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm (NVT): Khi đọc cuốn sách Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam, Giáo sư Hoàng Như Mai viết bài đăng báo Văn Nghệ, Hội Nhà Văn Việt Nam, có biểu dương bài đề dẫn của tôi trong cuốn sách ấy, trong đó có tiêu chí về thơ mà bạn vừa nói đến, tất nhiên là từ “khác thường” hiểu THEO CHIỀU MỸ CẢM. Tôi nghĩ, dù thời gian trôi đi, tiêu chí ấy vẫn nguyên giá trị.

PV: Nhưng nhiều tập thơ (nhất là ở các địa phương) được in ra nhìn chung là có sao viết vậy, hình ảnh câu chữ rất “bình thường”, tiêu chí “khác thường” sao còn phù hợp nữa?

NVT: Nếu một bài thơ mà “có sao viết vậy” thì là văn vần chứ không phải thơ, nó chỉ giống như thơ mà thôi.

PV: Ông có thể cho bạn đọc biết rõ hơn về sự khác nhau giữa thơ và văn vần?

NVT: Tôi gọi văn vần là chỉ chung những bài “giống như thơ” nhưng gần với ca dao, hò vè, tấu, diễn ca hơn là thơ. (Ca dao, hò vè, tấu, diễn ca… là những thể loại văn học mà đa phần có nguồn gốc từ thời chưa có văn học viết).

http://vanvn.net/tu-doi-vao-van/phan-biet-tho-va-van-van/1814

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2020

VỀ MẬT MÃ THƠ, BẢN NĂNG THƠ... CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN VŨ TIỀM - Nguyên Lạc


            
                               Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm


VỀ MẬT MÃ THƠ, BẢN NĂNG THƠ... CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN VŨ TIỀM

                
                           Tác giả bài viết Nguyên Lạc

VÀI HÀNG VỀ NHÀ THƠ, NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN VŨ TIỀM

1. Trước khi "học tập" những lời "vàng ngọc" của nhà nghiên cứu, nhà bình luận, nhà thơ "có tiếng" trong "hội nhà văn Việt Nam" - xin ghi thêm cho rõ: Việt Nam XHCN, vì văn học miền nam Việt Nam "đồi trụy" nên đã bị "xóa sổ" - tôi xin ghi ra đây sự "nổi tiếng" của ông Nguyễn Vũ Tiềm:
- Trong giới văn chương Việt hiện đại, Nguyễn Vũ Tiềm không chỉ là nhà thơ có những tìm tòi sáng tạo, đổi mới thi pháp mà khi viết phê bình, khảo luận, ông lại là cây bút nghiêm cẩn với những nghiên cứu đào sâu và dẫn liệu khoa học, có tính thuyết phục… Viết văn hay nghiên cứu - phê bình, tâm thế nào ông cũng nhập cuộc tốt, đầy hứng khởi trên từng trang viết...
Với Nguyễn Vũ Tiềm, thơ luôn là ngôi đền thiêng. "Mở ra thế giới bí ẩn của bài thơ còn mang nội hàm nhà thơ cảm nhận và viết ra điều mà người khác không thấy, ở đó cái đẹp và sự thật ngời lên một giá trị mới mẻ" - Lời của nhà phê bình Ý Mai.
- Ông từng dạy học: Năm 1975, ông thuộc những nhà giáo thế hệ đầu vào Sài Gòn, chi viện cho miền Nam khi đất nước thống nhất.
- Ông làm báo Giáo Dục & Thời Đại, và là người sáng lập tạp chí Tài Hoa Trẻ.
- Ngoài sở trường sáng tác thơ, Nguyễn Vũ Tiềm còn nghiên cứu lý luận phê bình văn học, viết bút ký và tiểu thuyết.
- Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh.
Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM với tập thơ "Minh triết đất đai", năm 2015
- Nguyễn Vũ Tiềm xếp hạng nổi tiếng thứ 74397 trên thế giới và thứ 782 trong danh sách Nhà thơ nổi tiếng - (Theo Người nổi tiếng)
- Các tác phẩm "nổi tiếng" của ông  đang được giới trẻ hâm mộ là:
 Đi tìm mật mã thơ (tiểu luận, 2015)
 Tiếp cận mật mã thơ (nghiên cứu phê bình, 2019).
Nghệ Thuật Thơ (nghiên cứu phê bình, 2020).

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

NHỮNG CHIẾC LÔNG VŨ CỦA EMILY DICKINSON & “THƠ TRÍ TUỆ” VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI - Phạm Đức Nhì


               
                                Nhà bình thơ Phạm Đức Nhì


Vài Nét Về Emily Dickinson

Nhà thơ Emily Dickinson sinh ngày 10/12/1830 tại Amherst, Massachusetts, USA. Sau khi học 7 năm ở Amherst Academy bà vào học tại chủng viện Mount Holyoke một thời gian ngắn rồi trở về nhà ở Amherst, sống đời biệt lập. Bà chưa từng lập gia đình, tự giam mình trong phòng riêng, không thích và luôn tránh né giao tiếp, gặp gỡ.  Mọi quan hệ của bà với bạn bè, người quen biết hầu như đều qua thư từ.              

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020

LÒNG NHÂN ÁI - Cảm nhận của Lê Liên về thơ của Phạm Đức Mạnh


       
                   Nhà thơ Phạm Đức Mạnh


BÀ BÁN VÉ SỐ VÀ CON CHIM

Bà lầm lũi đi tìm
những dấu chân lang thang của mình
đem giấc mơ hoa cho người chơi vé số
ngước ngóng con chim vẫn đợi thầm góc phố
níu bóng đời hoang ngồi gỡ nắng lụi tàn
Gương mặt
tầng tầng nếp nhăn
xám xịt màu cô đơn bòn rút
gần đất
xa trời
vẫn còn vận đen
lỡ bước sa cơ
bán vé số dạo thôi cũng nhiễm lây thất nghiệp
đói trắng kiếp người
Nước mắt nghẹn rơi
đặc cứng phiến vô thường
bà thương tiếng chim nở giữa lưng trời
thương mưa sầu
gió tủi
lẽo đẽo bà mặc niệm tháng ngày oan
Covid cướp đi tất cả.
Ngày mai
đường phố có thể loang rêu nỗi buồn
nhiều số phận gồng mình gánh thăng trầm nghiệt ngã
nhưng bầu trời thương
không bao giờ trống rỗng tiếng cười
Đừng ai bỏ cuộc
để tiếng chim lại hát ru thời gian
để ánh bình minh không hoảng loạn
để cánh đồng người không vàng úa nỗi đau
để ánh trăng thơm những bờ môi hò hẹn
để tình người vẫn mênh mông như biển
lòng nhân ái tỏa hương ngọt lịm cõi trần...

                                  Phạm Đức Mạnh
                                     17.04.2020

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

BỨC TRANH “THIẾU NỮ” ĐẶC SẮC CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Dương Ninh Ninh


    


THIẾU NỮ

Ô kìa người ngọc giữa sớm mai
Áo xiêm trễ nải chả chịu cài
Ngực nõn phập phồng ru hồn gió
Bồng đảo in hồng trong mắt ai.

         Hà Nội, ngày 05/02/2017
             Đặng Xuân Xuyến



        
   BỨC TRANH “THIẾU NỮ” ĐẶC SẮC CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
                                                                              Dương Ninh Ninh

Nếu mấy năm trước, được nhiều cô gái khác yêu thương nhưng chàng trai ấy đã không dám hôn nhân lần nữa vì cảm thấy mình đã chớm già, sợ cưới nhau rồi trước là pháo hoa sau cũng ra tăm tối như cuộc hôn nhân đầu đã đổ vỡ, sợ đến nỗi có lúc đã cảm thấy chán cái vị yêu đương mới:

Ta bỗng chán vị yêu nhạt thếch
Xộc xệch tình
Lếch thếch tiếng yêu.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2020

ĐỌC “TÂM CA” THƠ NGÃ DU TỬ - Châu Thạch


   
                        Nhà thơ Ngã Du Tử


TÂM CA

 Nhặt ngọn cỏ dắt vào trong túi áo
 Có đất trời, có cả thảy trăng sao
 Lời kinh rụng giữa đôi bờ hư thực
 Nguồn tâm ca hương ngát ý bay vào

                                        Ngã Du Tử


         
                     Nhà bình thơ Châu Thạch

                        
         ĐỌC “TÂM CA” THƠ NGÃ DU TỬ                            
                                                                               Châu Thạch                                                                                  
 “Tâm” không thể nắm bắt được trên tay vì “Tâm” không phải là vật chất. Tuy “tâm” không phải là vật chất nhưng không có tâm thì vật chất trở nên vô nghĩa, bởi vì cái gì không có tâm thì cái ấy vô tri và vô giác.

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2020

ĐỌC TẬP THƠ “HOA VÀNG TRÊN ÁO XANH” CỦA NGUYÊN BÌNH: TÌNH HỒI SINH TRONG THƠ - Châu Thạch


            


ĐỌC TẬP THƠ “HOA VÀNG TRÊN ÁO XANH” CỦA NGUYÊN BÌNH: TÌNH HỒI SINH TRONG THƠ
                                                                                         Châu Thạch
                             
Nhà thơ, nhà bình luận thơ Nguyên Bình, một cây bút tài hoa, chiếm một chổ đứng vững vàng trên văn đàn và trong lòng người ái mộ trong và ngoài nước. Thơ của anh như tiếng suối mơ dưới trăng. Bình luận thơ của anh như cánh chim bay lượn trên bầu trời văn chượng bát ngát. Lần nầy nhà thơ xuất bản tập thơ “Hoa Vàng Trên Áo Em Xanh”, khẳng định thêm  được trong anh, một tâm hồn như hương trầm làm thơm thi phẩm, lan tỏa trong đời, một tâm hồn như ngọn nến lung linh, thắp lên  ánh sáng của tình yêu diểm tuyệt.

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2020

THƠ PHẠM NGỌC THÁI – Việt Phương


      


CHẾT CŨNG CHỈ NHƯ GIẤC NGỦ
             (Một bài thơ trăng trối)

Không than vãn, lòng chẳng hề hối tiếc
Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong 
Cũng chỉ như giấc ngủ mơ màng
Đời sống vậy, đủ rồi ! Em yêu mến.

Nghiệp đã làm xong, chẳng còn chi vương vấn
Tình cũng tàn, năm tháng kiếp phôi pha
Thì em ơi ! Ta nằm xuống dưới mồ
Thanh thản chết, có gì đâu phải nghĩ ?

Hồn thi sĩ xin mang thơ gửi đời làm tri kỷ
Chốn trần gian sẽ ngợp áng thơ ta
Chỉ chia tay có thân xác thôi mà
Tình yêu ta còn muôn đời bất tử !

Cõi thế gian: Âu cũng kiếp đoạ đầy phận số
Tiếc làm chi ? Sống mãi chỉ mệt thân
Mãn nguyện rồi, cần chi nữa phân vân
Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh” !

Ta đã yêu em suốt đời trong hư ảnh
Dù có thời cũng sung sướng, đê mê
Nhưng tình em khác gì những chiếc lá bay kia
Để năm tháng dài… ta hoang ru nơi bến lạnh…

"Tình và tiền" !
Tiếng nói đó làm trái tim đàn bà hưng phấn
Phụ nữ cả thế giới này, họ quí như nhau !
Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu
Giọt lệ thi nhân,

Anh rỏ lên những trang thơ đời, làm liều thuốc ngủ…

                                                    Phạm Ngọc Thái

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

BÀI THƠ “THÁNH MẪU HÀI ĐỒNG”, MỘT KIỆT TÁC THƠ TÌNH VIẾT VỀ “ĐÊM TÂN HÔN” CỦA HỮU LOAN - Lê Quang Vinh

Nhà thơ Hữu Loan suốt đời mình luôn khắc ghi hình bóng người vợ đầu. Sau bài thơ Màu tím hoa sim bốn mươi hai năm, ông lại làm bài thơ này hồi tưởng lại đêm tân hôn đầu tiên của mình. Bài thơ vẫn đúng chất hồn và giọng điệu Hữu Loan, đầy ắp cảm giác cảm xúc đôi lứa tình yêu. Đây còn được gọi là bài “Tục... Màu tím hoa sim”

       
                         Tác giả Lê Quang Vinh


BÀI THƠ “THÁNH MẪU HÀI ĐỒNG”, MỘT KIỆT TÁC THƠ TÌNH VIẾT VỀ “ĐÊM TÂN HÔN” CỦA HỮU LOAN
                                                                                   Lê Quang Vinh

Có thể đây là tác phẩm thơ tình viết riêng về “đêm tân hôn” có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam. Nó là một kiệt tác. Hay từ chân tơ kẻ tóc, từng tế bào; tuyệt mỹ đến mức thánh thiện.

Đọc xong bài thơ, ta có cảm nhận đó như chính một bức tranh thánh, hay một pho tượng thánh trong bảo tàng nghệ thuật ở các nước phương Tây mô tả đôi trai gái sinh hoạt tình ái nơi “vườn địa đàng”. Mọi thứ ẩn hiện trước mắt ta cao nhã, phi phàm, không một chút bụi trần, thể xác - Đúng như chủ ý của tác giả bộc lộ ngay đầu đề bài thơ: “Thánh mẫu”“Hài đồng”, đó đâu còn là đôi... “trai gái” trần tục nữa?!

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2020

GIỚI THIỆU TẬP HỒI KÝ “CHUYỆN ĐỜI TÔI” CỦA NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP - Châu Thạch


    


GIỚI THIỆU TẬP HỒI KÝ “CHUYỆN ĐỜI TÔI” CỦA NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP
                                                                                      Châu Thạch

     Chắc chắc, rất ít người biết đến bút hiệu nầy vì tác giả không phải là một nhà văn chuyên nghiệp. Chắc chắn, rất ít người biết đến tác phẩm nầy vì tác giả chỉ in 100 quyển dành để tặng cho những người yêu mến mình. Thế nhưng, nếu ai đọc được tập hồi ký nầy thì nước mắt sẽ rơi, rơi vì nhiều cảm xúc:

Thứ nhất:
- Cảm xúc vì một đời người luôn chịu những nỗi đắng cay
- Cảm xúc vì một thời cuộc đã qua trong máu lửa và trong đau thương.

Thứ hai:
- Cảm xúc vì một nhân vật có thật trong hồi ký đã vượt qua mọi chông gai của đời để lớn lên trong tri thức, trong nhân cách của mình, như một bông hoa đẹp nở trên vùng sỏi đá.
- Cảm xúc vì phẫn nộ trước những con người gian ác, rung động trước những tâm hồn nhân đạo. Tất cả đều có thật, diễn ra trong tập hồi ký như một hoạt cảnh trường đời hấp dẫn và lý thú

     Tập hồi ký dài gần 500 trang, gồm có 5 chương và phần kết, 68 tiêu đề, nhà thơ Lang Trương viết lời tựa:

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2020

BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM TRONG “RỪNG XANH MƯA” - Đặng Xuân Xuyến


                      
                                Tác giả Đặng Xuân Xuyến

BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM TRONG “RỪNG XANH MƯA”

Định viết bài cảm nhận về tập thơ RỪNG XANH MƯA của nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm nhưng tôi không đủ sự kiên nhẫn để đọc một mạch hết tập thơ, vì thú thật, để hiểu được thơ của ông, với tôi quả thật là không dễ, nên đành chọn phương pháp vài ngày đọc một bài, nghiền ngẫm từ từ, thật chậm để “ngộ” được “nỗi niềm thầm kín” ẩn trong những bài thơ mang mang hơi thở Thiền của ông. Hôm nay, đọc mấy bài thơ về biển, gặp những tứ thơ hay, lạ, tôi vội gõ đôi dòng theo mạch cảm xúc: BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM TRONG RỪNG XANH MƯA.

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2020

THĂM LẠI VƯỜN XƯA - Phạm Đức Nhì


   


SÀI GÒN ĐAU

Em yêu Sài Gòn, vì nơi đó có một người đau
một người mất những vàng son quá khứ…
sông cạn gió
đường cạn dần cây lá
mà mắt anh không cạn những mùa xưa!

Sài Gòn của anh
một thời Công Lý
một thời Tự Do
Sài Gòn của một thời Thương Xá
em bước qua, ngơ ngẩn mắt quê mùa

Một thời của anh – em chưa trải nắng mưa
chưa vào kho sách cũ
chưa nỗi nhớ thắt lòng
chưa vướng một niềm riêng
không có tình yêu, Sài Gòn như đất trống
như câu thơ lạc vận chẳng neo hồn (1)

Không giữ lại dáng hình xưa được nữa
Sài Gòn đau ngơ ngác buổi em về
anh ở đâu những ngày cây lá đổ
có đợi chờ bàn tay nắm sẻ chia?

Có chờ nghe em nói giữa ngàn khuya
xa xót lắm những thờ ơ đã lỡ
Sài Gòn đau … Sài Gòn đau … anh ơi, thêm một miền tiếc nhớ
thêm một lần lặng đắng để thầm thương…

                                                                    Đinh Thị Thu Vân