BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

TÔI ĐÃ THUA TRẮNG VÁN KẺ IN LẬU SÁCH CỦA MÌNH – Bài viết của Đặng Xuân Xuyến



Tối 12 tháng 6 năm 2026, vào google mới biết cuốn TỬ VI KIẾN GIẢI của tôi bị Nguyễn Văn Dũng (biệt danh Dũng Cá Ngão) công khai "tái bản trộm" và quảng cáo bán sách rầm rộ được 1 thời gian dài rồi.
 
Chuyện bắt đầu từ ngày 4 tháng 4 năm 2025, Dũng đến nhà tôi xin tái bản mấy đầu sách của tôi, trong đó có cuốn TỬ VI KIẾN GIẢI. Biết Dũng đã từng bán sách in lậu của tôi khá nhiều nên tôi đồng ý cho Dũng tái bản mấy đầu sách đó thời hạn 1 năm với giá nhuận bút rẻ gần như cho không để mấy đầu sách đó không bị Dũng bán bản in lậu đã xuất bản từ năm 2010 nữa. Hôm đó, tôi và Dũng chuyện trò khá lâu, gần trọn buổi chiều.

NHÂN VẬT TRẦN HỮU LƯỢNG TRONG VIỆT SỬ VÀ MINH SỬ - Bài viết của Nhat Ngo



Trần Hữu Lượng theo Việt Sử là người gốc Việt (con Trần Ích Tắc), ông từng là Hoàng Đế một phần lớn lãnh thổ của Trung Quốc, tranh bá đồ vương với Chu Nguyên Chương nhà Minh, ông thua vì không gặp thời và mưu Lưu Cơ thôi, nếu không thì lịch sử Việt- Hán sẽ không như hiện nay.
 

THỜI AN DƯƠNG VƯƠNG LÀ KHÔNG CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ- Theo Hạnh Nguyễn


Học giả Lê Mạnh Thát
 
…Trong khi phát hiện truyền thuyết trăm trứng nằm trong Lục Độ tập kinh, thiền sư – giáo sư Lê Mạnh Thát còn khám phá một sự thật lịch sử thú vị liên quan đến An Dương Vương và Triệu Đà.
 
Từ truyền thuyết trăm trứng nằm trong truyện 23 của Lục Độ tập kinh, ông đối chiếu với một dị bản bằng tiếng Phạn và lại phát hiện truyền thuyết An Dương Vương giống như câu chuyện về trận đánh quyết định trong anh hùng ca Mahàbhàrata giữa hai anh em Pandu và Duryodhana. Đối chiếu với tất cả những gì được ghi trong Sử Ký của Tư Mã Thiên và các tài liệu cổ sử khác của Trung Quốc, ông khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, nó chẳng qua chỉ là một phiên bản của câu chuyện Mahàbhàrata từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam thời Hùng Vương mà thôi.
 

NHUẬN BÚT 潤筆 - Bài viết của Trúc Âm



Nhuận bút, chữ Hán viết 潤筆. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), “nhuận bút” là tiền trả cho tác giả đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, khoa học được xuất bản hoặc được sử dụng. Nói cách khác, đây là cách gọi của “tiền tác quyền” trong đời sống hiện đại.
Tầm nguyên từ điển giảng: Nhuận là thấm ướt, làm cho mềm và trơn; Bút là cây bút, ngòi bút, cũng chỉ việc viết lách và sáng tác văn chương. Như vậy, Nhuận bút nguyên nghĩa là “làm ướt ngòi bút”, tức làm mềm lông bút trước khi viết.
Từ này về sau dần được dùng để trỏ thù lao dành cho người sáng tác văn chương, viết chữ hoặc vẽ tranh. Thời xưa, việc trả "nhuận bút" cho người viết rất phổ biến, đặc biệt với những người chuyên viết bia ký, chiếu chỉ hoặc văn chương cung đình.

Trong tiếng Việt hiện nay, từ này được dùng hoàn toàn theo nghĩa phổ biến của từ điển: khoản tiền trả cho tác giả khi tác phẩm được sử dụng hoặc công bố.

人過伊川悲野祭,
客從東洛感山傾。
北窗許久凄涼甚,
潤筆含杯意未平。

Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,
Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.
Bắc song hứa cửu thê lương thậm,
Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.

Qua xứ Y Xuyên buồn đám tế,
Về vùng Đồng Lạc cảm chuông rơi.
Lâu nay cửa bắc ngồi tê tái,
Rượu nhấm bút cầm dạ chửa vơi.
(Nguyễn Khuyến, bản dịch thơ Phạm Thúy Lan)

Sẵn món tiền nhuận bút
Ông ra phố tức thì
Đi lùng mua bằng được
Bóng da, có véc ni.”
                       (Tú Mỡ)

Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốt
Ngoảnh lại còn ta con nít đến già
Rồi một ngày mẹ Đốp cười móm mém
Em vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta.”
                                    (Nguyễn Duy)
 
                                                                        Bài viết của Trúc Âm

PHỤ CHÚ:

Chữ "Nhuận" ( / ) thuộc bộ Thủy, mang ý nghĩa gốc là thấm ướt, ẩm ướt, làm cho bớt khô.
giản thể của chữ

“Nhuận” có các nghĩa sau:
1. nhuần nhị
2. thấm ướt
3. lời, lãi

- Nhuận tảng tử (潤嗓子) : nhuận họng
Tảng tử (嗓子): cổ họng
Nhuận họng gần nghĩa với nhuận giọng
Vd:
Uống trà cho nhuận giọng (làm ướt cổ họng) trước khi nói

- Nhuận tràng 潤腸 là "làm trơn ráo và ẩm ướt đường ruột", giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru
Từ "nhuận tràng" (hoặc nhuận trường) trong chữ Hán được viết là 潤腸 (chữ Phồn thể) hoặc 润肠 (chữ Giản thể).

- “Nhuận” / :
Có nghĩa là ẩm ướt, làm cho bớt khô, trơn láng hoặc thấm nhuần. Chữ này gồm bộ Thủy ( - nước) đi kèm để chỉ tính chất ẩm ướt, mượt mà. /
- Tràng/Trường / Có nghĩa là ruột, bộ phận tiêu hóa. Chữ này gồm bộ Nguyệt ( - biến thể của bộ Nhục, chỉ thịt/bộ phận cơ thể) nằm ở bên.

- Nhuận tràng thông tiện 润肠通便 : Làm trơn ruột, giúp đại tiện dễ dàng.

CHIM TRỜI – Thơ Lê Kim Thượng


   


Chim  Trời
 
1.
Đôi ta như cánh chim trời
Đôi chim liền cánh không rời xa nhau…
Dừng chân đứng lại bên cầu
Nhớ nơi lưu giữ tình đầu chứa chan
Yêu nhau yêu tới vô vàn
Yêu bờ mi khép, yêu làn môi xinh
Yêu nhau cho cạn lời tình
Những ngày hạnh phúc chúng mình chân quê
Mắt nhìn đăm đắm si mê
Tôi và em giữa bốn bề tình yêu
Nụ hôn trong nắng liêu xiêu
Ngọt ngào thắm thiết với nhiều chút chăm
Ước gì “Hạnh phúc trăm năm…”
Tình ta như bóng trăng rằm vẹn nguyên
Quên đi cơm áo, gạo tiền
Trái tim son đỏ thề nguyền mãi yêu…
 

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

"NGỰA XE NHƯ NƯỚC ÁO QUẦN NHƯ NEN" - Bài viết của Khánh Ly



“Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.”
                                   (Truyện Kiều)

Ngựa xe như nước, vốn lấy ý từ thành ngữ Xa thủy mã long, chữ Hán viết 車水馬龍, nghĩa là cảnh phồn hoa xe cộ nối nhau như dòng nước chảy, ngựa đi liên tiếp như rồng uốn lượn. Thành ngữ này xuất phát từ Hậu Hán thư, khi chép về Mã thái hậu thời Hán Chương Đế:

 Xa như lưu thủy, mã như du long 
    車如流水,馬如游龍",

Tạm dịch là: 

Xe như nước chảy, ngựa như rồng bơi.

Ở câu 47-48 Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

"Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nen."

"Như nước" thiên về chuyển động liên tục, còn "như nen" nhấn mạnh mật độ dày đặc, che kín không gian. Nhiều bản Kiều ngày nay chép "áo quần như nêm", trong đó bản khảo dị của Nguyễn Quảng Tuân giải thích: "nêm" đây là những mảnh gỗ mỏng đóng trên hai mặt thớt cối xay lúa khít nhau như những hàng răng… Cả câu 48 ý nói ngựa xe qua lại liên tiếp như nước chảy, khách du xuân áo quần đẹp đẽ chen khít nhau như những mảnh nêm ở trên mặt thớt cối xay. Câu này đặt theo lối tiểu đối: "thủy" (danh từ) đối với "nêm" (danh từ).
Song cũng có học giả cho rằng chữ đúng trong nguyên tác là “nen”, ví như trong Truyện Kiều dẫn giải, Lê Văn Hòe giảng nen là một loài cỏ mọc ở ruộng nước, thân nhỏ, mọc thẳng và đặc kín thành từng đám lớn. Vùng đồng chiêm Ninh Bình, Thanh Hóa hễ có nước là có nen, từng cây ken sát nhau đến mức nhìn xa như phủ kín cả mặt ruộng. Vì vậy "áo quần như nen" là người mặc áo quần chen vai sát cánh, đông đặc như bụi cỏ nen ngoài đồng.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

“CHUYỆN...” NHÀ THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU - Bài viết của Đặng Xuân Xuyến


Tác giả bài viết Đặng Xuân Xuyến
 
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.

ĂN THỊT, UỐNG MÁU CHÚA JESUS !?! – Bài viết của La Thuỵ



Nhiều bạn lương dân ngoại giáo trong vài dịp dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật trong giáo đường Thiên Chúa giáo, khi nghe Linh Mục đọc 
“Này là Mình Ta hãy cầm lấy mà ăn. Này là Máu Ta hãy nhận lấy mà uống. Vì Giao Ước này đổ ra cho muôn người. Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ta”.
Họ ngạc nhiên và trao đổi với nhau, thậm chí viết trên Face: “Tín hữu Công giáo ăn thịt uống máu Chúa, dễ sợ quá!”
 
Chúa Jesus thường được tuyên xưng là “mục tử nhân lành” (là người chăn chiên hết lòng yêu thương, am hiểu, bảo vệ và sẵn sàng hy sinh mạng sống cho đoàn chiên của mình, trái ngược hoàn toàn với kẻ chăn thuê chỉ vì lợi ích cá nhân mà bỏ chạy khi gặp thú dữ)

Nhưng ít lương dân ngoại giáo biết rằng rằng Chúa Jesus còn có danh hiệu “Chiên Thiên Chúa”.
Chúa Jesus chịu làm của lễ hiến tế giống như con cừu non trong Lễ Vượt Qua để cứu chuộc nhân loại.

SANG THU, ĐÔI MẮT, NGÀY XƯA – Thơ Tịnh Bình


 

 
SANG THU
 
Nghe mưa gội lá xanh chồi
Tường vôi bông giấy bồi hồi tuổi thơ
Thương con chuồn ớt thờ ơ
Ham chơi để ướt giấc mơ bờ rào
 
Thị vàng hong nắng cành cao
Tiếng chim tươi rói tranh nhau quả mềm
Trời xanh, xanh đến dịu êm
Mùa thu ngày ấy giờ tìm chốn nao ?
 
Tên mình ai gọi lao xao
Ngân nga chuông gió cồn cào âm xưa
Sang thu hỏi cúc vàng chưa ?
Trong mơ hoa mướp cũng vừa đi xa...
 

QUÊ CHIỀU – Thơ Lê Kim Thượng


   


Quê  Chiều

1.
Quê hương xa lắm thân thương
Người về tìm khúc “… Ầu ơ…”
Lời ru xưa cũ, tuổi thơ xa mù
Lời ru có “…Gió mùa thu…”
Võng đưa kẽo kẹt, tiếng ru trong ngần
Đồng chiều vọng tiếng chuông ngân
Bờ tre nghiêng ngã ngại ngần liêu xiêu
Nhẹ nhàng trong gió phiêu phiêu
Sáo ai đổ tiếng, trời chiều đồng khô
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh xô dập dìu
Hoàng hôn thèm một cánh diều
Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua
Cơm chiều mắm muối, dưa cà
Thảo thơm hạt gạo đồng xa ngọt bùi…

2.
Một đời đi ngược về xuôi
Cuối đời chỉ thấy ngậm ngùi xót xa
Khói sương, sương khói nhạt nhòa
Một mình đối bóng, mình ta rối bời
Hoang vu khuất nẻo đường đời
Núi rừng xa khuất, chơi vơi thiếu thừa…
Nhớ Cha cày cấy ngày mưa
Áo tơi của Mẹ sớm trưa trên đồng
Chợ làng mua bán còn đông
Áo nâu của Mẹ, áo hồng của em
Cuộc đời điên đảo, đảo điên
Về quê tìm lại một miền rong chơi…
Mẹ đi ngày ấy xa khơi
Lòng con nhớ Mẹ… Mẹ ơi… Mẹ hiền…
Mẹ đi buông bỏ ưu phiền
Về miền Cực Lạc… Về miền Vãng Sinh…
 
                    Nha Trang, tháng  08. 2026
                           LÊ KIM THƯỢNG

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

TÔI ĐÃ BIẾT GÌ VỀ NHẤT LINH - Đông Hồ

                                       (Fb Thú chơi sách)
                        
                            Chân dung Nhất Linh của danh họa Nguyễn Gia Trí.
                                                   Bức họa chưa hoàn tất, bàn tay còn dang dở.

Anh Nguiễn-Ngu-Í,
Chắc rằng anh muốn hỏi tôi về Nhất-Linh; chớ không hỏi tôi về Nguyễn-Tường-Tam. Có như thế thì tôi mới trả lời anh được. Nói như vậy là tôi muốn nhận định phân minh hai lãnh vực trong một nhân-vật. Là tôi chỉ có biết về nhà văn - sĩ Nhất-Linh mà không được biết về nhà chính trị Nguyễn-Tường-Tam.
Tôi có cảm tình với Nhất - Linh, tôi có yêu mến Nhất-Linh, tôi có phán đoán về Nhất-Linh, là tôi nhìn Nhất-Linh ở trong địa hạt văn chương, vì bút hiệu đó xuất hiện như một ngôi sao chói lọi trên nền trời văn học.
Trừ ra hai tác phẩm đầu tay khi mới tập viết để vấn thế là Nho PhongNgười Quay Tơ, ký tên là Nguyễn-Tường-Tam, còn tất cả tác phẩm năm 1932-1933 trở về sau, đều ký bút hiệu là Nhất-Linh, trong sách cũng như trong báo, từ Phong-hóa Ngày-nay ở Hà-nội cho đến Văn-hóa Ngày-nay, tại Sài-gòn hồi gần đây.
Phán đoán về văn nghiệp Nhất-Linh, tôi có hai nhận định này:
1.- Văn trào phúng của báo Phong-hóa, Ngày-nay.
2.- Văn tiểu thuyết của Tự-lực văn-đoàn.
***

GIANG HỒ LÀ GÌ? – Bài viết của Tiểu Vũ


                                    Ảnh: Tác giả bài thơ Phạm Hữu Quang - Ông sinh 1952 mất năm 2000

Những ngày gần đây, những cái tên như Huấn Hoa Hồng, Khánh Sky lại được nhắc nhiều trên mạng xã hội, thường đi kèm một danh xưng đã trở nên quen thuộc: “giang hồ mạng”.
 
Nhưng nếu trở về với nghĩa gốc của hai chữ “giang hồ”, có lẽ phải đặt một câu hỏi khác: những người được gọi như vậy hôm nay có thật sự xứng đáng với hai chữ “giang hồ”?
 
“Giang hồ” là một từ Hán - Việt, viết bằng chữ Hán là 江湖. Trong đó, (giang) nghĩa là sông lớn, còn (hồ) nghĩa là hồ nước. Theo nghĩa gốc, giang hồ là sông và hồ, dùng để chỉ không gian sông nước rộng lớn. Từ hình ảnh địa lý này, về sau “giang hồ” mới được mở rộng thành một khái niệm văn hóa, chỉ thế giới bên ngoài chốn quan trường và đời sống quyền lực.
 

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

THƯ GỞI VỢ CỦA CỐ NHÀ VĂN DUYÊN ANH – Đinh Tiến Luyện, Vũ Phan Anh sưu tầm

Thuở thiếu thời, tôi mê mẩn những tác phẩm của Duyên Anh, đọc hầu như ko thiếu cuốn nào của ông ấy, từ Dũng Đa kao cho tới Điệu ru nước mắt và Sa mạc tuổi trẻ. Sau 30/4/1975, văn tài ảnh hưởng khá nhiều đến thanh thiếu niên miền Nam này phải xách gói vào trại cải tạo rồi sau đó sống lưu vong trong đau khổ. Dưới đây là thư ông viết gởi cho vợ mình năm 1969. Tôi dẫn lại từ Fb của nhà văn Đinh Tiến Luyện ngày 21/4/2020 - như một nén tâm nhang thắp cho ông.

                                                                                       Vũ PhanAnh

Hình ông bà Duyên Anh chụp năm 1982 trước vài ngày bà Duyên Anh cùng con lên đường sang Pháp định cư
 
Thư viết cho vợ
Nhà mình.. Nửa đêm…
 Phượng yêu dấu!
Đêm nay, anh cố ý thức thật khuya để khởi viết cuốn thứ ba trong bộ truyện dài sáu cuốn của anh. Đời anh sẽ chỉ loay hoay ở bộ truyện này. Bởi vì, bộ truyện này anh viết tặng con chúng ta. Bởi vì, khi anh viết bộ truyện này tâm hồn anh không phải là tâm hồn của anh hiện tại, thứ tâm hồn què quặt, xảo trá, thủ đoạn của người sớm bước xuống cuộc đời, sớm biết cuộc đời để sớm ghê tởm cuộc đời. Tâm hồn anh, khi viết truyện tặng con chúng ta là tâm hồn của ngày xưa còn bé. Tâm hồn ấy đã ngập ứ kỷ niệm hoa bướm, trong suốt pha lê. Cho nên, hễ anh viết, ý tưởng từ óc chảy xuống tim chảy ra năm đầu ngón tay anh. Và anh viết rất nắn nót. Viết cả đêm chỉ được ba trang giấy. Như lần khởi sự viết cuốn thứ nhất. Phượng ạ, anh đốt hết nửa gói thuốc lá, uống cạn một chai nước lọc mà vẫn chưa “đẻ” được dòng nào. Thế mới biết thực hiện đúng ý muốn của mình bao giờ cũng khó.

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO 冬蟲夏草 – Ung Chu, theo Hán-Việt Thông Dụng



"Đông trùng hạ thảo" 冬蟲夏草 là tên loại thảo dược có bản chất là nấm kí sinh trên sâu. Vào mùa đông, nấm này xâm nhập cơ thể sâu và làm sâu chết, lúc này nấm phát triển bên trong sâu nên ta vẫn thấy hình dạng sâu. Đến mùa hè, nấm bắt đầu phát triển khỏi xác sâu và vươn lên trên mặt đất, trông như một loại cỏ cây (thực vật).
- đông : mùa đông
- trùng : sâu bọ
- hạ : mùa hè, "hè" là âm Hán-Việt cổ xưa của nó (theo phiên thiết mang vần "myà → mè > ma" )
- thảo : cỏ, thảo mộc, chữ này mang bộ "thảo" (cỏ cây) và kía âm bằng chữ "tảo" . Chữ "thảo" nguyên bản là chữ tượng hình vẽ cỏ.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

BÚN BÒ ÔNG KÉC TRONG CHỢ QUẢNG TRỊ - Đinh Hoa Lư


Tác giả Đinh Hoa Lư

TRỜI vừa sập tối nhưng khung cảnh quanh chợ tỉnh đã bắt đầu vắng lặng. Các dãy quán xung quanh con đường Trưng Trắc bao quanh bốn cạnh ngôi chợ nay "cửa đóng then gài". Ở giữa là khu đình chợ và tất cả các sạp hàng đều đã đóng hết. Nói thì đóng hết nhưng đa số đều bỏ hàng vào tất cả các sập hàng chứ không phải "cửa sắt đóng lại" như bốn dãy phố xung quanh đình chợ.

Khu chợ cá phía bờ sông và những cái du du hình vuông gia đình chú Quý phu chợ cho thuê trong ngày

Một thời chiến tranh nhưng phải công nhận người dân mình sống trong thanh bình từ chuyện không có trộm cắp hay lợi dụng chiến tranh để "trộm cướp" như thời nay? Dù sao người khu phố chợ đều cám ơn tinh thần làm việc của đại gia đình Chú Quí phu chợ. Tại răng mà kêu là "đại gia đình" do cái "hoàng cung" của chú Quý có rất nhiều bà và con cái đùm đề. Tất cả hợp lại thành một đội quân "canh gác" cho khu chợ tỉnh được bình an. Đại gia đình chú Quý "đóng đô" ngay trong khu chợ tỉnh. Ngày toàn bộ làm phu bốc vác hay cho thuê "du du" tức là cái trụ che nắng hình vuông ở trên để cho người bán hàng rau trái thuê trong ngày. Ban đêm chú Quý và con cái chia nhau đi tuần. Tiếng là đi tuần nhưng "vũ khí"là những cái đùi dài mà thôi...
Người viết lại lan man mất! xin trở lại tiêu đề chính là "bún bò tai mui ông Kéc"...
 

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

VỀ “CHUYỆN NGỦ” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN – Bài viết của Phương Việt Kháng



Một tác phẩm văn học thực sự chạm đến trái tim người đọc không cần phải là những triết lý đao to búa lớn, mà đôi khi chỉ là một mảnh ký ức nhỏ, một tiếng cười hồn nhiên được nhặt nhạnh từ những ngày nghèo khó. "Chuyện Ngủ" của nhà văn Đặng Xuân Xuyến chính là một lát cắt như thế.
 

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

MÔ HÌNH ĐẠI HỌC THI TUYỂN VÀ ĐẠI HỌC GHI DANH Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975 – Nguyễn Thy Anh



Nền đại học miền Nam Việt Nam từ 1955 đến 1975 là một mô hình hỗn hợp độc đáo, vừa mang dấu ấn hàn lâm tinh hoa của Pháp, vừa chuyển dần sang mô hình đại chúng thực dụng của Hoa Kỳ. Trong đó, sự tồn tại song song của hai hình thức: đại học thi tuyển và đại học ghi danh đã tạo nên một hệ thống vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa đảm bảo chất lượng cho những ngành then chốt.

LỪNG LẪY MỘT THỜI: NGUYỄN TẤT NHIÊN, THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH – Phạm Chu Sa


         Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên(thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm.
Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài "Vì tôi là linh mục" tuyệt hay: 

“Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”
 
Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

BÀI THƠ “VIẾNG BẠN” CỦA HOÀNG LỘC ĐÃ TỪNG BỊ PHÊ PHÁN THẾ NÀO - Bảo Thư



“Viếng bạn” được được Hoàng Lộc viết năm 1947 và in trong tập bút ký “Chặt gọng kìm Đường số 4”. Bài thơ viết về sự hy sinh anh dũng của một chiến sĩ tên tên là Th vào ngày 8-1-1948 trong trận Bố Củng. Vì lúc rút lui còn phải khiêng mấy đồng chí bị thương, nên đồng đội đành phải đào một cái huyệt nhỏ để chôn Th. Nhìn thi thể đồng đội không có áo quan, ai cũng khóc.
 
Năm 1949, tạp chí Văn Nghệ đăng bài thơ này và gây sự xúc động mạnh trong giới văn nghệ sĩ kháng chiến. Cho đến nay "Viếng bạn" được xem là bài thơ hay nhất viết về tình đồng đội, về người liệt sĩ trong kháng chiến.
 
Tuy nhiên, bài thơ này đã từng bị “đánh” tơi bời trong phong trào “Chỉnh huấn – chỉnh quân” trong thập niên 1950. Tháng 12-1953, trên Nội san Giáo Dục số 12 xuất hiện diễn đàn: “Chúng ta cùng thảo luận”, chủ đề xoay quanh nội dung tư tưởng của bài thơ “Viếng bạn”. Khởi xướng mở diễn đàn thảo luận bài thơ Viếng bạn là Nguyên Chương, một cây bút lý luận phê bình kỳ cựu .
Với tựa đề “Nhân giảng bài Viếng bạn: Đả phá óc mê tín” đăng tạp chí Giáo Dục số 12 năm 1953, tác giả Nguyên Chương đưa ra 3 luận điểm phê bình bài “Viếng bạn”:
 
1) Bài thơ Viếng bạn cổ súy tư tưởng phong kiến, mê tín, dị đoan, duy tâm thần bí;
2) Nghệ thuật trong bài thơ Viếng bạn là sáo cũ, giả tạo;
3) Ảnh hưởng của bài thơ Viếng bạn đến học sinh là rất xấu.
 
Để chứng minh “Viếng bạn” là bài thơ “gọi hồn”, mê tín dị đoan, Nguyên Chương thực hiện một cuộc điều tra, khảo sát học sinh tại 3 lớp đã nghe giảng bài thơ Viếng bạn và đặt ra 3 câu hỏi trong cuộc điều tra này là:

- “ Khôn thiêng xin chỉ mặt là thế nào? Có phải linh hồn anh bộ đội chết đó còn sống và khôn thiêng phải không?”
- “ Ai tin rằng sau khi xác thịt chết thì linh hồn còn sống?”
- “ Thế thì em nào sợ ma, tin có ma cứ thành thật cho biết”   
Và tác giả dẫn kết quả điều tra như sau:
a) Ở câu hỏi thứ nhất có một số học sinh trả lời “Linh hồn anh bộ đội ấy khôn thiêng, linh hồn anh còn sống”;
b) Ở câu hỏi thứ hai có 28/ 125 em tin là sau khi chết thì linh hồn còn sống;
c) Ở câu hỏi thứ ba có 92/125 học sinh sợ ma.
 
Đến đây, tác giả bài viết đưa đến kết luận: con em Việt Nam còn mê tín nhiều và cần phải “làm công việc giải độc”. Và việc một tác phẩm như bài thơ Viếng bạn có hiện tượng người sống “đang nói với người chết; hỏi người chết có khôn thiêng thì chỉ mặt kẻ thù” là biểu hiện rõ ràng tư tưởng, tình cảm “phong kiến, duy tâm, thần bí” và “hoen ố màu sắc siêu hình”.
 
Ở phương diện nghệ thuật, tác giả bài viết cũng phê phán Viếng bạn là bài thơ sáo rỗng, giả tạo. Nguyên Chương dẫn chứng rằng: “Gọi anh chẳng thành lời mà hàm răng dính chặt”. Răng dính chặt thế mà đoạn dưới và đoạn sau anh nói quá nhiều, anh nói rõ ràng lắm. Hình ảnh không thống nhất, ta có cảm tưởng là thơ giả tạo”.
 
Về hệ quả, tác giả cho rằng bài thơ có ảnh hưởng rất xấu đối với thanh thiếu niên: “con số 92/125 kể trên quả là một thương tâm bắt buộc chúng ta phải thận trọng trong lời nói, trong câu văn. Nếu không đập tan mê tín thì ít nhất đừng gieo rắc mê tín”. Và tác giả cảm thấy “ân hận đã đem bài Viếng bạn giảng cho học sinh trong ngày thương binh- tử sĩ” vì việc giảng dạy bài thơ Viếng bạn không những không đạt được mục đích căm hờn kẻ địch, thương người chiến sĩ hi sinh mà chỉ gieo rắc tư tưởng mê tín dị đoan.
 
Cuối cùng, tác giả Nguyên Chương đề nghị không dạy bài thơ Viếng bạn cho học sinh vì bài thơ này “đánh thức phần yếu đuối, phản khoa học nép trong tâm não thanh niên”.
 
Thế đấy, một tác phẩm văn học xúc động như vậy nhưng dưới lăng kính u tối của một số người thì rất có thể đây là bài thơ “có vấn đề” chỉ bởi tác phẩm đó được viết theo cách thể hiện khác.
Tự nhiên tôi rón rén đi trên băng mỏng của đại dương chữ nghĩa
 
                                                                                            Bảo Thư

"CHỮ QUỐC NGỮ" ? - Nguyễn Chương Mt


Nhà nguyện, nằm trong khuôn viên Tòa Tổng giám mục TGP Sài Gòn. Đây vốn là ngôi nhà của Đức Thầy Cả (Cha Cả) Bá Đa Lộc, được di dời từ vùng Lăng Cha Cả về đây

/1/ Bấy lâu nay chúng ta vẫn quen cách gọi "CHỮ QUỐC NGỮ" là chữ viết dùng để ghi tiếng Việt bằng hệ thống abc Latin.
Thực ra, thời còn dùng CHỮ NÔM thì thứ chữ này đã được gọi là "CHỮ QUỐC NGỮ" - chữ ghi lại quốc âm trong tiếng Việt, để minh định khác với chữ Hán là thứ chữ ghi tiếng của người ở lân bang phương Bắc!
/2/ Đơn cử, gần hơn, vào gần cuối thế kỷ 18 - năm 1774, Đức Thầy Cả Vê-rô (*) soạn sách giáo lý và in ra bằng CHỮ NÔM, mang tựa "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" ( )
Cách gọi "CHỮ NÔM" hoàn toàn KHÔNG có trong âm Hán-Việt của chữ Hán. "Chữ Nôm" (𡦂 ) , ở đây, được gọi là "Chữ Quốc ngữ" (𡦂 ).

Chú ý:  Ồ, sao CHỮ NÔM vẫn có dòng chữ Hán "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ"?
Trong chữ Hán, CHỈ có âm Hán-Việt, loại bỏ quốc âm của tiếng Việt chúng ta!
Còn CHỮ NÔM: gìn giữ hết thảy quốc âm của tiếng Việt + một số âm Hán-Việt (chữ Hán) được chọn lọc, đã đi vào từ vựng của người Việt.

(*) Hiện nay đã quen với danh xưng "Giám mục", nhưng vào thế kỷ 17, 18 gọi là "ĐỨC THẦY CẢ" (giữ lại cách gọi này để bảo đảm tính chân thực của ngôn ngữ vào từng thời kỳ lịch sử). "Vê-rô", là một cách phiên âm khác, cũng là "Phê-rô" - từ "Pedro".
Có cách CHUYỂN ÂM (không phải phiên âm như "Vê-rô", "Phê-rô") là "Bá Đa Lộc"! Đức Thầy Cả Vê-rô, tức là Đức Thầy Cả (còn gọi "Cha Cả") Bá Đa Lộc.

Cách gọi "Bá Đa Lộc", từ đâu?

Đức Thầy Cả (giám mục) này trước khi đến nước Nam, đã có thời gian dài sống ở Macao. Ở đó, nói tiếng Quảng Đông. Tên thánh của vị này là "Pedro", người Quảng Đông đọc thành /pe-to-lo/, ghi chữ Hán 伯多祿 (ba chữ Hán này, tiếng Quảng Đông đọc /pe-to-lo/).
Âm Hán-Việt của 伯多祿 là "Bá Đa Lộc"! Tên thánh của Đức Thầy Cả (giám mục) là "Bá Đa Lộc" = "Pedro" (Phê-rô).
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

MỘT BÀI THƠ DŨNG CẢM, SẮC BÉN VÀ CÓ NỘI LỰC MẠNH MẼ - Vũ Minh Huệ

Tôi với nhà thơ Lê Văn Hồng cùng làng Thạch Cầu – Ngôi làng cổ 500 tuổi bên sông Hồng. chúng tôi thường hay chia sẻ đàm đạo về thơ. Hôm trước ông có gửi tôi tin nhắn: " “Nhà văn nghĩ gì về bài thơ đăng báo này". Tôi hẹn ông sẽ đọc kỹ và đàm đạo sau với ông.
 

                                                            (Ảnh Ái Nhân và Vũ Minh Huệ)

ĐỐI THOẠI VỚI GIAN THAM
 
Ô hô!
ngươi chê thơ nghèo
nhưng thơ thanh bạch
lương tâm trong sạch
bạn khắp nhân gian, ve gái trăm miền…
Thơ dẫu không nhiều tiền
nhưng triệu phú “lời vàng, ý ngọc”
mỹ nữ nhân gian mải mê tranh đọc
rắc trăng mơ màng lên mắt ngọc
chắp cánh thơ bay tận chín tầng trời
hò hẹn với Hằng Nga
chọc quê chú Cuội…
Chẳng như lũ ngươi mưu mô lắm tội
gái đẹp, rượu Tây mà u mê hóa dại
hành xử nhiễu nhương, dặt phường vô lại
bất chấp kỷ cương làm hại đồng bào
tội các ngươi muôn đời sao rửa sạch?
Ta thư thái ung dung
sáng cầu lông
trưa cơm nhà
chiều đánh cờ
tối làm thơ
đêm sờ vú vợ…
Chạnh lòng thương các ngươi một đời mắc nợ
nơm nớp sợ, lo, cơm cân... “chăn kiến”
đầu óc các ngươi chứa tiền và bã đậu
toan tính mánh mung, tối ngày ăn nhậu
mắc bả hư danh, tham vàng bỏ ngãi
lũ lượt dắt nhau dài dài vô khám…
Trời đọa đày các ngươi kiếp hèn ăn bám
hút máu lương dân
lương tâm mất cắp
hư danh, bon chen, luồn lách
tội các ngươi muôn đời quở trách
giàu sang của các ngươi như phù du sương khói
nhơ nhuốc hư vinh…
Ta đầu đội trời, chân đạp đất
vẫn tin cuộc đời không phải chỉ có điêu ngoa gian trá
mà nhân tâm lương thiện vẫn còn nhiều
Ta mơ giấc mơ quân vương - oai phong Vua mộng
thơ bay lồng lộng giữa trời…
Ta viết thơ yêu lũ bay không đọc
ta vót thơ làm tên, làm móc
bắn vào đầu lũ gian tham, bất nhân, ô trọc
moi tim, gan, óc… lũ ma quái giả người phơi bày cho kền kền dùng bữa!
Ta coi khinh lũ văn nô bưng bô, xu nịnh
thơ phú ngây ngô a dua ngâm vịnh
ngắm mỹ nữ cởi truồng mà thủ dâm tự sướng…
A ha!
Thơ là nghiệp, là đam mê
chắt hương đời ủ men cất rượu
đâu cần lập thân, mưu cầu danh lợi
Tôn vinh lòng: Nhân ái - Đẹp - và Thơ!
 
                              Vua Mộng Ái Nhân