BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC HOÀI THANH TRONG HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

Trong Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh (chương XI dành riêng về Hoài Thanh), giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh ghi lại những kỷ niệm, ấn tượng và quan sát cá nhân về nhà phê bình văn học Hoài Thanh qua các giai đoạn...

Vợ chồng nhà phê bình Hoài Thanh (1909.1982) những ngày công tác ở Huế.
Ảnh: Tạp chí Sông Hương.

Tôi được tiếp xúc với Hoài Thanh nhiều lần.
Hồi công tác ở một cơ quan của Tỉnh đảng bộ Thái Nguyên, tôi đã được nghe ông nói chuyện về thơ kháng chiến, tại một địa điểm ở thị trấn Phúc Trìu. Tiếp đó tôi học ở trường sư phạm trung cấp trung ương (đóng ở Chợ Ngọc, Tuyên Quang). Ở đây tôi lại được nghe ông nói về đề tài ấy một lần nữa. Cả hai lần đều vào năm 1949.
Khi tôi về học ở Đại học sư phạm Hà Nội (từ 1957 – 1960) thì ông đến dạy mấy bài về văn học Việt Nam thời trung đại: Kiều, Cung oán, Hoa Tiên, Phan Trần...

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2026

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO THỜI HIỆN ĐẠI – Trần Kiêm Đoàn



Một trường hợp tham khảo (Case study).
 
Rất cảm kích, nhưng thật tình trong đầu tôi cũng gợn lên một chút ý nghĩ dí dỏm khi đạo hữu Như Hiền, trưởng nhóm Cư sĩ Học Phật ở Canada, gọi tôi là “Trưởng lão cư sĩ Nguyên Thọ”. Lần đầu nghe danh xưng ấy dành cho mình, tôi vừa vui vì tình thân kính, vừa tự hỏi: tuổi già thì đã đến thật rồi, nhưng việc học đạo của mình đã theo kịp tuổi tác hay chưa?
 

CHUYỆN SỐ NGƯỜI, SỐ MÌNH – Đặng Xuân Xuyến



Chặp trước, H.T điện đến nhờ tôi xem lá số cho thằng em trai, sinh năm Bính Dần (1986), hỏi xem năm nào thì nó mới chịu cưới vợ. Vốn dĩ, tôi chỉ là người nghiên cứu về Tử Vi, kiến thức từ tự học cũng không được nhiều, lại không phải là người có số làm thầy nên xưa nay vẫn tự răn mình không được tùy tiện xem số cho người khác kẻo phạm vào điều cấm kỵ "Thiên cơ bất khả lộ". Thế nhưng, phần vì mối quan hệ đặc biệt giữa tôi với H.T, phần không chịu nổi những lời nài nỉ của H.T, tôi đành tặc lưỡi ngồi ngắm nghía lá số của em trai H.T để có đôi lời luận giải. Lúc đấy, qua điện thoại, H.T cứ cằn nhằn chuyện yêu đương của em trai có “vấn đề nặng”, người ta mai mối cho bao nhiêu đám tốt mà tối ngày nó vẫn cứ nằm không một mình. Bố mẹ thì đã già nên mong cậu con trai nhanh nhanh cưới vợ để ông bà sớm có đứa cháu bồng bế cho vui cửa vui nhà.
 

TẶNG EM NHÉ MỘT ĐOÁ HOA MẦU TRẮNG – Thơ Quách Như Nguyệt


   
 
Tặng em nhé… một bó hoa mầu trắng
 
Người thương ơi, sáng nay nghĩ đến anh
Nghĩ đến vô thường, nghĩ đến ngày nằm xuống
Nước mắt rơi nhưng tim em không lạnh
Thấy ấm nồng, đời đẹp lắm mầu xanh
 
Cảm ơn anh và bó hoa gửi tặn
Hoa hồng nhung tuần lễ cuối tháng Mười
Anh dễ thương vì luôn nghĩ đến em
Bảo sao em không thỉnh thoảng mĩm cười
 
Luôn ước mình sẽ là người đi trước…
Vẫn mong anh đừng quá đỗi muộn phiền
Đời sống này ngắn ngủi, lắm phước duyên
Ta hãy sống từng phút giây hạnh phúc,
 
để đến lúc ra đi mình chúc phúc
Mừng cho nhau thoát khỏi kiếp hiện tiền
 
Khi em đi… đừng đau buồn anh nhé
Đừng tìm đọc thơ em rồi nhỏ lệ
Nên cảm ơn đời sống không gì tệ
Một đời người! chẳng qua…một cơn mê
 
Tặng em nhé, một bó hoa mầu trắng
Mầu em yêu, hôn nhé…một đóa hoa
Khi ngắm trăng, đừng nước mắt chan hòa
Mà nhớ lại những ngày ta hạnh phúc
 
Mây trắng, ánh trăng, mùa Xuân hoa cúc
Hạ đỏ, nắng vàng, thảm cỏ êm chân
Tháng Mười mùa Thu, tay nắm ân cần
Đông tuyết trắng, đông lạnh lùng thi vị
 
Bó hoa trắng, -ngày em đi giản dị
Xin anh đừng buồn khổ mà chi
Ta chỉ có một cuộc đời để sống
Sống hết mình, khỏi tiếc nuối khi đi
 
                            Quách Như Nguyệt
                               Oct 30th, 2018

SIN SUỐI HỒ YÊU, ĐÊM 20 - Thơ Châu Thạch


   


SIN SUỐI HỒ YÊU!
        
Em đến Sin Suối Hồ
Cảnh Thiên Đàng trên núi
Đất trời không chút bụi
Ta thấy em thần tiên
Áo bay trời thanh thiên
Tóc mùi hương quyến luyến
Bước em đường mây quyện
Ta yêu đời như nhiên
Nắng trên trời nhung lụa
Tơ vàng bay muôn tủa
Mắt xanh màu núi biếc
Em là hoa bốn mùa
Sin Suối Hồ mây bủa
Ngũ sắc chân trời xa
Em đứng gần bên ta
Ta nghe rừng thở lặng
Làm bài thơ ta tặng
Một đỉnh núi quang vinh
Em và ta cuộc tình
Nơi đây không trái cấm!
 
          
ĐÊM 20!
 
Đêm 20, đêm tháng 10 ấm áp
Ta bên em nằm nhớ tuổi 20
Tuổi của yêu và của những tiếng cười
Yêu từ dưới ngón chân lên sợi tóc
Da em tựa như da trời trăng mọc
Mịn lông tơ xếp rẽ quạt từng hàng
Tóc em dài uốn lọn thật là sang
Hơi em thở hương hoa quỳnh thơm ngát
Ta yêu chết, yêu si, yêu dào dạt
Yêu như điên, như dại, với như khùng
Tạ ơn trời còn mãi khối tình chung
Nửa thể kỷ tình vẫn còn như mới
Đêm 20 đêm tháng 10 đang tới
Sóng tình xưa xao động mặt hồ nay
Ta nằm yên cho hương nhụy tràn đầy
Chìm giấc ngủ trong mối tình chung thủy!

                                               Châu Thạch

KHUẤT CHÌM – Thơ Lê Kim Thượng


  

Khuất Chìm
 
1.
Chuyện tình đâu dễ phôi pha
Cố quên càng nhớ, ngày xa đêm dài
Hai bờ hai đứa chia hai
Dòng sông ly biệt chạy dài mù xa…
Nhớ người xa cách giang hà
Nỗi buồn giấu kín nhạt nhòa dịu êm
Một mình tôi với bóng đêm
Nhớ nhung khe khẽ gọi tên một người
Tình như một áng mây trôi
Không duyên, dù có yêu rồi vẫn xa
Trái tim rạn nứt thiết tha
Trải bao ngang trái vẫn là trái ngang
Nợ duyên, duyên nợ lỡ làng
Cuộc tình lận đận dở dang đau lòng
Vọng Phu đã núi trông chồng
Em về phương ấy có trông phương này…
 
2.
Lòng buồn thở ngắn than dài
Tôi – Em giờ đã chia hai lối về
Em đi biền biệt xa quê
Tôi về cùng với lời thề ngây thơ
Thương nhau chín đợi, mười chờ
Nỗi buồn xa cách bơ vơ một người
Hương tình bay mất đi rồi
Vườn yêu xơ xác bồi hồi con tim
Tình xưa giờ đã khuất chìm
Bới lên dĩ vãng đi tìm chân dung
Yêu nhau, yêu tới vô cùng
Thì nay cũng đã ngàn trùng cách xa
Em đi khuất bóng quan hà
Tôi ôm kỷ niệm đôi ta một thời
Bây giờ đôi đứa đôi nơi
Em giờ đã trở thành người… “Ngày xưa”…
 
                   Nha Trang, tháng  10. 2026
                         LÊ KIM THƯỢNG

MÀU QUÊ HƯƠNG, SEN VỀ, KHI SỚM MAI – Thơ Tịnh Bình


   


MÀU QUÊ HƯƠNG
 
Chân phương hạt thóc đồng làng
Bốn mùa cày cấy mùa màng tốt tươi
Giần sàng trải nắng hong phơi
Mùa no ấm rạng môi cười lão nông
 
Hương quê chất phác ruộng đồng
Bờ dâu bãi mía xanh trong khoảng trời
Cánh diều cõng gió đi chơi
Hồn nhiên trẻ nhỏ nói cười rộn vang
 
Dòng sông uốn khúc đa mang
Vầng trăng thổn thức người sang ngang rồi
Xốn xang điệu lý mồ côi
Cuối trời chim trắng bồi hồi lòng ai
 
Chiều không tỏa khói mà cay
Rưng rưng quê mẹ thương hoài ngõ sau
Lục bình tím biếc lao xao
Dòng sông bóng núi nhuộm màu quê hương...
 

KHI CÔ GIÁO BỊ HỌC TRÒ NHẢY LÊN ĐÁNH NGAY TRÊN BỤC GIẢNG, TRÁCH NHIỆM VỀ AI? - Trần Kiêm Đoàn



Hình ảnh một học sinh lớp 12 đánh cô giáo ngay trên bục giảng khiến tôi bàng hoàng.
Trong khoảnh khắc ấy, người bị tổn thương là một cô giáo bằng xương bằng thịt; cô có thể bị đau về xác thịt nhưng  người Việt Nam cả trong và ngoài nước đều nhức buốt cả cảm xúc và tâm hồn!

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2026

ÔNG CÓC ĐI NHỜ VÀ CHIẾC XE LAM CHÚ ĐỈNH SƠN MỸ XỪA – Đinh Hoa Lư



 Chiếc Xe than qua xã Tân Hà tới Tà Mon qua lại trạm Lán Gòn, cái trạm người đi buôn Hàm Tân thường đặt cho cái biệt hiệu 'Láng cón'. Đây là điểm mà bao nhiêu 'trái tim' trên chuyến xe về (cũng như đi) hồi hộp, lo lắng, nhưng  ông "Cóc" thì 'tỉnh bơ"! Mấy người cán bộ Quản Lý Thị Trường chẳng ai 'thèm' hỏi về hai cái 'ruột tượng' gạo ( cái bao vải dài đựng gạo có thể cột hai đầu và vắt qua cổ) mà người cụt chân đang ngồi đè lên. Gã 'đi xin bà con về ăn"- nói vậy thì bà con hay mấy chú du kích gắng mà 'tin' vậy. Rồi chẳng ai làm khó ông ta chút nào. "cùi không sợ lở", ai dám đụng 'vị khách' này xem nào? tiền xe ư? Ông ta lần nữa, nhe hai hàm răng ra cười là xong!

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

HOÀNG HẢI THUỶ: NHỮNG NGƯỜI ĐỌC TRUYỆN DUYÊN ANH – Trần Vũ



Trước 75 không học sinh miền Nam nào không mê Duyên Anh, cả nam sinh và nữ sinh. Tôi trong số các thiếu nhi đó, mê mẩn Dzũng Đakao, Gấu Rừng, Bồn Lừa, Cỏ Non, Cầu Mơ, Hoa Thiên Lý, Đêm Thánh Vô Cùng… Lớn thêm chút, tập mơ mộng với Phượng Vỹ, Cám Ơn Em Đã Yêu Anh, Hôn Em Kỷ Niệm, Về Yêu Hoa Cúc… nhưng sang đến loạt truyện du đãng thì quá khủng khiếp! Đám học trò ở Lứa Tuổi Thích Ô-Mai đang trên Mây Mùa Thu đột ngột bị xô xuống vực thẳm của Điệu Ru Nước Mắt, Trần Thị Diễm Châu, Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang, Kẻ Bị Xóa Tên Trong Sổ Bụi Đời…

Thập niên 70 tôi còn là độc giả trung thành của Hoàng Hải Thủy. Ông phóng tác tiểu thuyết nào là tôi thuê quyển ấy. Kiều Giang, Đỉnh Gió Hú, Như Chuyện Thần Tiên, Thầy Nô (James Bond 007), Mang Xuống Tuyền Đài… Tôi ưa nhất Ngoài Cửa Thiên Đường do Hoàng Hải Thủy phóng tác từ tiểu thuyết Maldonné của Boileau-Narcejac; câu chuyện một nhạc sĩ tên Vũ Ngọc Khôi được thuê giả làm chồng sắp bị ám sát của một thiếu phụ xinh đẹp sống trong ngôi biệt thự sang trọng ở Đà Lạt… Văn mềm mại lôi cuốn, du dương tiếng vĩ cầm bên khóe mắt gợi tình trong soi mói canh chừng của tay quản gia cục mịch và chiếc bóng ẩn núp rình rập của người chồng đích thực…

HUY ĐỨC: EM CÒN NỢ ANH! – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn



Nghe tin Huy Đức ra tù, tôi thấy lòng mình khá lạ. Không reo vui, cũng chẳng ngậm ngùi đến độ phải làm thơ. Tôi thản nhiên như một buổi sáng Sacramento nhìn ra sân, chợt thấy mùa Thu đã về tự lúc nào và mấy chiếc lá vàng đang thong thả rơi xuống đất.
Có những tin vui đến với tuổi già không còn bằng tiếng pháo. Nó đến rất nhẹ. Nhẹ như một tiếng “ừ hè” của Huế. Biết rồi. Mờn rồi. Thôi, để rứa mà thương.

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

CHO MA MEN ĐI LÀM... TU SĨ – Bài viết của Đặng Xuân Xuyến


                       

Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

TÂM NHANG – Thơ Lê Kim Thượng


   

Tâm Nhang
 
1.
Quê hương hai tiếng nhẹ nhàng
Mà sao đằm thắm, dịu dàng khôn nguôi
Nhớ bao kỷ niệm buồn vui
Bước chân lữ khách bùi ngùi về quê…
Lưng còng bóng Mẹ trên đê
Áo nâu vất vả đi về hôm mai
Sông quê vương vấn  lòng ai
Đẹp như dải lụa trải dài thướt tha…
Nắng chiều đổ bóng sân nhà
Mâm cơm lúa mới, chan hòa tình yêu
Chiều hoang tím cả rừng chiều
Đồng quê yên ắng, hiu hiu gió luồn
Núi cao khuất bóng hoàng hôn
Gió Heo May thổi bồn chồn chơi vơi
Ráng chiều tô đỏ chân trời
Cháy tàn ngọn nắng, đêm mời trăng lên…
 

TỪ MỘT CÀNH MAI ĐẾN MỘT MÁI CHÙA – Trần Kiêm Đoàn



Nhân lễ tưởng niệm 20 năm ngày Hòa Thượng Mãn Giác – Thi sĩ Huyền Không viên tịch. Tôi được Ban Tổ chức phân công phát biểu đôi điều qua trải nghiệm thân quý là sinh viên của Thầy tại Đại Học Huế. Thời gian yêu cầu là 10 phút. Dạ tôi xin bắt đầu:
 
Hai hồn thơ Mãn Giác và một dòng tâm thức Việt
 
Mãn Giác Thiền sư thời Lý (1052–1096).
Mãn Giác Thiền sư thời hiện đại (1929–2006).
 
Hai bậc chân tu cùng một pháp danh, cách nhau gần một nghìn năm lịch sử, nhưng dường như đã gặp nhau trong một cõi thi ca không có tuổi.
 
Ngày xưa, Cao Bá Quát từng nói đến bốn bồ chữ của thiên hạ. Nguyễn Công Trứ lại ung dung giữa cuộc đời mà “ngâm một câu thơ vỗ bụng cười”. Chữ nghĩa có thể chất đầy kho sách, nhưng rốt cùng, ngôn ngữ vẫn chỉ là những ký hiệu tạm thời chuyên chở cảm xúc và tư tưởng. Có những điều càng giải thích càng xa. Có những câu thơ vừa đọc lên đã nghe lòng mình chạm đến một miền sâu thẳm không lời.
Thi ca huyền diệu có lẽ ở chỗ đó.

MÙA THÔI LƯỢC GIẮT TRÂM CÀI, MỘT MÌNH, CÁNH CÒ HOÀNG HÔN - Thơ Tịnh Bình


        
 

MÙA THÔI LƯỢC GIẮT TRÂM CÀI
 
Mùa thu bứt cuống hanh hao
Heo may thả gió cồn cào âm xưa
Lá vàng hỏi nắng già chưa ?
Dập dìu ong bướm còn đưa lối tình
 
Giấc mơ hồ điệp làm tin
Rủ rê son phấn họa hình thanh xuân
Tháng năm dầu dãi gian truân
Đã từng mặn đắng, đã từng ngọt cay
 
Mùa thôi lược giắt trâm cài
Môi xinh hàm tiếu trang đài ngày xưa
Bây giờ đi sớm về trưa
Đành thôi cất nắng vào mưa chỉ mình...
 

BÚT LỰC MỘNG BÌNH SƠN - Vũ Hùng Khanh


                         

Trước 1975, chúng ta nếu thích đọc truyện Tàu, truyện kiếm hiệp và cả truyện Tây được dịch lại từ nguyên bản, thì chắc chắn phải biết tên tác giả - dịch giả Mộng Bình Sơn. Một cây bút sung sức, nhưng cũng đến lúc phải ẩn dật, đúng nghĩa không quan tâm thế sự bên ngoài đang diễn biến thế nào, kể cả chuyện người ta khai thác vô giới hạn các tác phẩm của mình!

              

Mộng Bình Sơn tên thật là Phan Canh, sinh năm 1923, quê quán ở thôn Thọ Sơn, xã Nhơn Thọ, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông mất vào tháng 5/2011.

ĐOÀN PHÚ TỨ, HÀO HOA PHONG NHÃ MÀ QUYẾT LIỆT – Vũ Đình Hoè



Về một vài nhân vật trong ảnh "Khách thỉnh-1935" cụ Hòe có bài viết sau này trong sách hồi kí cuối cùng "Gương mặt những người cùng thế hệ", in trong Nam, khó tìm được ở Bắc. Bởi vậy tôi xin chia sẻ dần với các bạn.

Đoàn Phú Tứ sinh năm 1910 tại Hà Nội, tốt nghiệp Tú tài Tây, vào học Luật khoa Đại học Đông Dương, nhưng đến năm thứ hai thì bỏ, chuyển sang nghề báo, cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội báo, Tinh Hoa, Thanh Nghị. Ông và Thế Lữ là những người sáng lập nền kịch nói Việt Nam hiện đại, thành lập ban kịch nói Tinh hoa, sáng tác kịch, đạo diễn và làm diễn viên trong nhiều vở, từng trình diễn trên Nhà hát lớn thành phố Hà Nội như Ghen, Ngã ba… 

GÌN GIỮ TIẾNG VIỆT CỦA DÂN TÔI - Nguyễn Chương Mt


 
Ai nói theo tiếng thuần Việt (quốc âm, còn gọi Nam âm), ai nói theo âm HV (Hán-Việt), thảy đều tôn trọng. NHƯNG cho phép tôi quí mến cách nói THUẦN VIỆT hơn (trong trường hợp tiếng thuần Việt và âm HV cùng nghĩa), quí hơn hẳn!

/1/ "CUỐN" - "Quyển"

"Quyển", trong "quyển sách", là cách gọi dựa vào chữ Hán, là âm HV của 卷. Trong khi đó, "CUỐN" là tiếng thuần Việt, hoàn toàn nằm ngoài hệ thống HV của chữ Hán!

Trong chữ Hán có "quyển nhì" 卷二 , "quyển tam" 卷三; trong khi đó tiếng Việt gọi là "CUỐN hai", "CUỐN ba".

/2/ "GIÙM" ("GIÚP") - "Hộ"

Quí bạn vẫn thường nghe: "nhờ làm giùm (làm giúp)", "nói giùm", "thu giùm (thu giúp)". "GIÙM", "GIÚP" hoàn toàn là tiếng thuần Việt, KHÔNG phải âm HV!

Rồi, trong khi đó bạn lại nghe: "làm hộ", "nói hộ", "thu hộ". Từ đâu ra "hộ"? Bạn có ngờ nổi, "hộ" chính là âm HV của 護, dựa vào chữ Hán đó đa!

/3/ "LẺ" - "Linh"

Tỉ như đọc "305" là "ba lẻ năm", lại nghe "ba linh năm". Có phải "lẻ", "linh" thuộc về phương ngữ trong Nam, ngoài Bắc? Không phải!

Trong chữ Hán, có khoảng 50 ký tự viết khác nhau nhưng đều đồng âm "linh", đồng âm lủ khủ. Trong đó có ký tự 零 "linh", nghĩa gì vậy?

Chữ Hán viết 三 零 五, kéo theo âm HV là "tam linh ngũ" (305). "Linh" là âm HV của 零, nghĩa là "LẺ" trong tiếng thuần Việt!

Không phải phương ngữ gì hết trơn, ở đây, "LẺ" là tiếng thuần Việt, cùng nghĩa với "Linh" là âm HV (dựa vào chữ Hán) đó đa!

Chúng ta nói "tiền lẻ", đồng nghĩa trong chữ Hán đọc là "linh tiền" (零 錢). Có ai ở ngoài Bắc , mặc dù gọi "ba linh năm" (305, tức "ba lẻ năm"), đi gọi... "linh tiền" không? Không! Mà đều gọi "tiền lẻ", "LẺ"!

* Thấy gì?

"LẺ" đã là tiếng thuần Việt trong cả nước. Cũng như "CUỐN", "GIÙM" ("GIÚP") đều đã là tiếng thuần Việt trong cả nước.

Rồi, do chịu ảnh hưởng Hán hóa trong ngôn ngữ, đem tiếng thuần Việt có sẵn ... sửa theo âm HV từ lúc nào đó, rất lâu, riết "nhập tâm" nói hoài đã thành quen miệng.

Thời may, cũng vẫn còn trong tiềm thức về tiếng thuần Việt. Thành thử vẫn còn giữ lại cách nói "tiền lẻ" (chớ không "linh tiền").

-------

Tiếng thuần Việt KHÔNG nằm trong âm HV, trước đây được ghi bằng CHỮ NÔM. Như chữ Nôm 𥘶 (đọc là LẺ), 𢩾 (đọc là GIÚP), 𡑓 (đọc là GIÙM), 卷 (đọc là CUỐN, theo cách thức dị âm đồng nghĩa với "quyển").

                                                                          Nguyễn Chương-Mt

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

ĐÔI ĐIỀU BÀN VỀ 12 CUNG VÔ CHÍNH DIỆU – Đặng Xuân Xuyến



Bàn về cung vô chính diệu, sách TỬ VI CHÂN TRUYỀN viết: “Đối với trường hợp Mệnh vô chính diệu hoặc cung vô chính diệu nói chung đều lấy chính tinh ở cung xung chiếu làm căn bản để luận đóan cho đến khi bước vào đại vận có chính tinh thì lại lấy chính tinh của đại vận để luận đoán (không sử dụng được chính tinh ở các cung tam hợp vì không nằm trong trục đối xứng xung khắc về Ngũ hành nên tính chất không đủ mạnh). Nếu không thể lấy chính tinh cung xung chiếu thì bắt buộc phải xem mệnh nằm trong trạng thái nào của vòng Trường sinh để luận đoán sự thọ yểu của Mệnh có kéo dài được đến đại vận tiếp theo hay không và sử dụng sao đó để luận đoán về hình thức cơ bản của Mệnh. Cung vô chính diệu giống như một hố đen của vũ trụ câu hút được năng lượng từ các cung xung chiếu và tam hợp cho dù các cung đó có Tuần - Triệt hay không. Như một tổ chức chưa được định hình, một đội quân chưa có người lãnh đạo vì vậy tính chất của các phụ tinh thể hiện một cách tự do không có định hướng, khi gặp vận có chính tinh hoặc cung xung chiếu có chính tinh thì đó chính là sự định hướng sự phát triển cho cung đó.
 

MƯỜI NĂM – Thơ Lê Kim Thượng


  


Mười  Năm
 
1.
Mười năm tình cũ còn không?
Ai thương, ai nhớ… ai mong, ai chờ…
Chuyện tình chết lịm trong thơ
Còn gì đâu nữa mà chờ, mà mong
Con đò bến cũ long đong
Có người đứng đợi, ngóng trông ngày ngày
Chữ tình còn một chút này
Rưng rưng nghèn nghẹn dâng đầy lòng ta
Biệt ly, ly biệt chia xa
Em giờ là của người ta mất rồi…
Tiễn em về phía xa xôi
Quay lưng ôm nặng đơn côi một mình
Nhắc làm chi một chuyện tình
Một mình mình nhớ, một mình mình thương
Một mình, một gánh tơ vương
Tôi đi về phía con đường không em…
 
2.
Còn đâu một cánh môi mềm
Ngọt ngào, thắm thiết, ấm êm ngập lòng
Hẹn thề vượt cả bão giông
Giữ lòng chung thủy, một lòng yêu thương…
Bây giờ chưa hết dặm trường
Nửa đường gãy gánh, nửa đường thương đau
Em xa tình lỡ phai màu
Làm sao quên được tình đầu mới yêu…
Buồn vui nếm trải đã nhiều
Bao nhiêu năm nhớ, bấy nhiêu năm sầu
Ngồi ôm kỷ niệm mà đau
Nhớ ngày xưa cũ bên nhau ngọt bùi
Tình xa lòng luống ngậm ngùi
Thương đau rơi xuống chôn vùi tình yêu
Mười năm còn nhớ ít nhiều
Lòng như quán vắng… chợ chiều đã tan…
 
                    Nha Trang, tháng  09. 2026
                          LÊ KIM THƯỢNG

HOÀN CẢNH SÁNG TÁC NHẠC PHẨM “MỘNG DƯỚI HOA” CỦA PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG - Đông Kha



“Mộng Dưới Hoa” là một nhạc phẩm tình ca có nội dung tuyệt đẹp và rất lãng mạn của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Cái đẹp và lãng mạn của bài này hát được thừa hưởng từ bài thơ thời tiền chiến của thi sĩ Đinh Hùng. Tuy nhiên ít người biết rằng bài hát “Mộng Dưới Hoa” không phải được phổ từ một bài mà từ 2 bài thơ khác nhau của thi sĩ Đinh Hùng.
 
Nếu để ý, người nghe nhạc sẽ thấy lời của bài hát Mộng Dưới Hoa êm đềm như một bài thơ 7 chữ, nhưng đến đoạn điệp khúc: Nếu bước chân ngà có mỏi… thì nhịp điệu nhanh hơn và có 6 chữ trong mỗi câu. Đó là vì những câu hát đó thuộc về 2 bài thơ khác nhau: 1 bài thơ 7 chữ và 1 bài thơ 6 chữ.
 

HUYỀN KHÔNG – THƠ GIỮA CÕI ĐẠO VÀ CÕI NGƯỜI – Trần Kiêm Đoàn với Chat GPT



Bạn Ta ơi! Thế này thì viết lách gì được nữa?
 
Nhân dịp Lễ tưởng niệm 20 năm ngày Hoà thượng Huyền Không Thích Mãn Giác viên tịch, ban tổ chức có nhã ý mời tôi lên phát biểu đôi nét về kinh nghiệm thụ giáo và trải nghiệm tương tác với Thầy trong sinh hoạt tuổi trẻ Phật tử của hệ thống GĐPT Huế mà Thầy rất quan tâm. Tôi định bụng viết một bài về Thơ trong cõi Đạo và Đời của Thi sĩ Huyền Không. Nhưng trước hết, tôi vào Chat GPT, trương mục có trả lệ phí hàng tháng của tôi và đánh vào cái đề tài mà tôi muốn viết. Mới đánh xong 9 chữ của cái đề bài, Chat GPT viết một lèo trong vòng 20 giây ra một bài như sau đây. Tôi đọc; mặc dầu đã quá quen với AI nhưng vẫn cảm thấy bâng khuâng với tâm trạng vui buồn lẫn lộn: Vui vì AI viết văn nhanh như làm xiếc, rất phong phú, xuất sắc về cả nội dung lẫn hình thức, mở ra một tầm văn bút quá máy móc nhưng mới mẻ. Và, buồn vì một đời lấy viết lách lai rai làm vui; đến thời 80 thành... 7 nghiệp!
 
Xin chào thua bạn trẻ AI
Trần Kiêm Đoàn – gác bút!

BA BÀI THƠ CỦA CHÂU THẠCH


  


NGHE HÁT “CÒN ĐÂU NỮA" 
NHẠC VĨNH ĐIỆN 
                                                           
"Còn Đâu Nữa"- nhạc và lời Vĩnh Điện
Con sâu đêm quặn nhấm lá sương đêm
Sóng quyện âm đời tan vỡ êm đềm
Từng nốt nhạc vọng xa hồn quyển luyến
 
Còn đâu nữa giấc mơ xưa đã biến
Lá xanh xưa đã héo rụng chiều thu
Tiếng đàn xưa tình đọng cõi sa mù
Hạt mưa vỡ trong chiều đông bút giá
 
Còn đâu nữa sóng va vào vách đá
Bọt trắng tung cho biển đẹp tan tành
Trái tim sầu rỉ máu đóa môi thanh
Từng âm điệu sa vào hồn hiển hiện
 
"Còn Đâu Nữa"- nhạc và lời Vĩnh Điện
Tai ta nghe hồn quay lại Thiên Đàng
Thấy trái sầu chín mọng cõi hồng hoang
Còn đâu nữa, còn đắng cay rụng xuống!