BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

ĐÔI ĐIỀU BÀN VỀ 12 CUNG VÔ CHÍNH DIỆU – Đặng Xuân Xuyến



Bàn về cung vô chính diệu, sách TỬ VI CHÂN TRUYỀN viết: “Đối với trường hợp Mệnh vô chính diệu hoặc cung vô chính diệu nói chung đều lấy chính tinh ở cung xung chiếu làm căn bản để luận đóan cho đến khi bước vào đại vận có chính tinh thì lại lấy chính tinh của đại vận để luận đoán (không sử dụng được chính tinh ở các cung tam hợp vì không nằm trong trục đối xứng xung khắc về Ngũ hành nên tính chất không đủ mạnh). Nếu không thể lấy chính tinh cung xung chiếu thì bắt buộc phải xem mệnh nằm trong trạng thái nào của vòng Trường sinh để luận đoán sự thọ yểu của Mệnh có kéo dài được đến đại vận tiếp theo hay không và sử dụng sao đó để luận đoán về hình thức cơ bản của Mệnh. Cung vô chính diệu giống như một hố đen của vũ trụ câu hút được năng lượng từ các cung xung chiếu và tam hợp cho dù các cung đó có Tuần - Triệt hay không. Như một tổ chức chưa được định hình, một đội quân chưa có người lãnh đạo vì vậy tính chất của các phụ tinh thể hiện một cách tự do không có định hướng, khi gặp vận có chính tinh hoặc cung xung chiếu có chính tinh thì đó chính là sự định hướng sự phát triển cho cung đó.
 

MƯỜI NĂM – Thơ Lê Kim Thượng


  


Mười  Năm
 
1.
Mười năm tình cũ còn không?
Ai thương, ai nhớ… ai mong, ai chờ…
Chuyện tình chết lịm trong thơ
Còn gì đâu nữa mà chờ, mà mong
Con đò bến cũ long đong
Có người đứng đợi, ngóng trông ngày ngày
Chữ tình còn một chút này
Rưng rưng nghèn nghẹn dâng đầy lòng ta
Biệt ly, ly biệt chia xa
Em giờ là của người ta mất rồi…
Tiễn em về phía xa xôi
Quay lưng ôm nặng đơn côi một mình
Nhắc làm chi một chuyện tình
Một mình mình nhớ, một mình mình thương
Một mình, một gánh tơ vương
Tôi đi về phía con đường không em…
 
2.
Còn đâu một cánh môi mềm
Ngọt ngào, thắm thiết, ấm êm ngập lòng
Hẹn thề vượt cả bão giông
Giữ lòng chung thủy, một lòng yêu thương…
Bây giờ chưa hết dặm trường
Nửa đường gãy gánh, nửa đường thương đau
Em xa tình lỡ phai màu
Làm sao quên được tình đầu mới yêu…
Buồn vui nếm trải đã nhiều
Bao nhiêu năm nhớ, bấy nhiêu năm sầu
Ngồi ôm kỷ niệm mà đau
Nhớ ngày xưa cũ bên nhau ngọt bùi
Tình xa lòng luống ngậm ngùi
Thương đau rơi xuống chôn vùi tình yêu
Mười năm còn nhớ ít nhiều
Lòng như quán vắng… chợ chiều đã tan…
 
                    Nha Trang, tháng  09. 2026
                          LÊ KIM THƯỢNG

HOÀN CẢNH SÁNG TÁC NHẠC PHẨM “MỘNG DƯỚI HOA” CỦA PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG - Đông Kha



“Mộng Dưới Hoa” là một nhạc phẩm tình ca có nội dung tuyệt đẹp và rất lãng mạn của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Cái đẹp và lãng mạn của bài này hát được thừa hưởng từ bài thơ thời tiền chiến của thi sĩ Đinh Hùng. Tuy nhiên ít người biết rằng bài hát “Mộng Dưới Hoa” không phải được phổ từ một bài mà từ 2 bài thơ khác nhau của thi sĩ Đinh Hùng.
 
Nếu để ý, người nghe nhạc sẽ thấy lời của bài hát Mộng Dưới Hoa êm đềm như một bài thơ 7 chữ, nhưng đến đoạn điệp khúc: Nếu bước chân ngà có mỏi… thì nhịp điệu nhanh hơn và có 6 chữ trong mỗi câu. Đó là vì những câu hát đó thuộc về 2 bài thơ khác nhau: 1 bài thơ 7 chữ và 1 bài thơ 6 chữ.
 

HUYỀN KHÔNG – THƠ GIỮA CÕI ĐẠO VÀ CÕI NGƯỜI – Trần Kiêm Đoàn với Chat GPT



Bạn Ta ơi! Thế này thì viết lách gì được nữa?
 
Nhân dịp Lễ tưởng niệm 20 năm ngày Hoà thượng Huyền Không Thích Mãn Giác viên tịch, ban tổ chức có nhã ý mời tôi lên phát biểu đôi nét về kinh nghiệm thụ giáo và trải nghiệm tương tác với Thầy trong sinh hoạt tuổi trẻ Phật tử của hệ thống GĐPT Huế mà Thầy rất quan tâm. Tôi định bụng viết một bài về Thơ trong cõi Đạo và Đời của Thi sĩ Huyền Không. Nhưng trước hết, tôi vào Chat GPT, trương mục có trả lệ phí hàng tháng của tôi và đánh vào cái đề tài mà tôi muốn viết. Mới đánh xong 9 chữ của cái đề bài, Chat GPT viết một lèo trong vòng 20 giây ra một bài như sau đây. Tôi đọc; mặc dầu đã quá quen với AI nhưng vẫn cảm thấy bâng khuâng với tâm trạng vui buồn lẫn lộn: Vui vì AI viết văn nhanh như làm xiếc, rất phong phú, xuất sắc về cả nội dung lẫn hình thức, mở ra một tầm văn bút quá máy móc nhưng mới mẻ. Và, buồn vì một đời lấy viết lách lai rai làm vui; đến thời 80 thành... 7 nghiệp!
 
Xin chào thua bạn trẻ AI
Trần Kiêm Đoàn – gác bút!

BA BÀI THƠ CỦA CHÂU THẠCH


  


NGHE HÁT “CÒN ĐÂU NỮA" 
NHẠC VĨNH ĐIỆN 
                                                           
"Còn Đâu Nữa"- nhạc và lời Vĩnh Điện
Con sâu đêm quặn nhấm lá sương đêm
Sóng quyện âm đời tan vỡ êm đềm
Từng nốt nhạc vọng xa hồn quyển luyến
 
Còn đâu nữa giấc mơ xưa đã biến
Lá xanh xưa đã héo rụng chiều thu
Tiếng đàn xưa tình đọng cõi sa mù
Hạt mưa vỡ trong chiều đông bút giá
 
Còn đâu nữa sóng va vào vách đá
Bọt trắng tung cho biển đẹp tan tành
Trái tim sầu rỉ máu đóa môi thanh
Từng âm điệu sa vào hồn hiển hiện
 
"Còn Đâu Nữa"- nhạc và lời Vĩnh Điện
Tai ta nghe hồn quay lại Thiên Đàng
Thấy trái sầu chín mọng cõi hồng hoang
Còn đâu nữa, còn đắng cay rụng xuống!
                                

BÀI CA MƯA THU, TRĂNG SÁNG HIÊN NHÀ, SÔNG MƯA – Thơ Tịnh Bình


  


BÀI CA MƯA THU
 
Êm êm như rất mỏng
Lướt trôi trên phím đàn
Giọt mưa thu khe khẽ
Hát bài ca miên man
 
Vườn khuya cơn gió rụng
Rơi chớm hương khẽ khàng
Ngủ quên rồi khúc dế
Dưới trăng xưa trầm khàn
 
Dòng dòng hoài niệm cũ
Theo mưa tí tách về
Nhòa mặt người hư ảnh
Một thời ta đam mê
 
Chờ mưa khô dòng lệ
Hong lên giọt nắng trời
Những niềm thương vừa chớm
Nụ cười ai buông rơi...
 

LÂM CHƯƠNG: CHIẾN TRANH, TÙ ĐẦY, NỖI ÁM ẢNH TỪ TÂM HỒN ĐẾN THƠ VĂN - Đỗ Trường

                           (Mục chân dung nhà văn- Đỗ Trường)


Tôi đã đọc khá nhiều trang văn của cả hai phía (Bắc-Nam) viết về chiến tranh, và hậu chiến với những năm tháng dài tù tội. Song đến nay, cùng với Phạm Tín An Ninh, Thảo Trường, hay Nguyên Vũ…thì người lính Lâm Chương cũng là một nhà văn cho tôi rất nhiều cảm xúc khi đọc. Sự rung động ấy, không hẳn giọng văn trào phúng, mỉa mai với tiếng cười đớn đau, mà bởi cái giá trị hiện thực và nhân đạo ở truyện ngắn, văn xuôi Lâm Chương mang đến cho người đọc. Hai giá trị cơ bản của văn học, nhưng không phải ai cũng viết dân dã mà sinh động, sâu sắc được như Lâm Chương. Cũng như Phạm Tín An Ninh, một đặc điểm nổi bật nữa của Lâm Chương lối hành văn, câu cú rất chuẩn mực, sáng và đẹp. Một sự ngẫu nhiên, thú vị hai nhà văn người lính (Phạm Tín An Ninh và Lâm Chương) trạc tuổi cùng xuất thân từ trường trung học Nha Trang. Ở đó, cả hai bác nhà văn này đều cho thế hệ sau nhiều kinh nghiệm viết văn quý báu.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

CÔ GÁI BÁN DON - Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích



Đến định cư tại miền Bắc California Hoa Kỳ hơn nửa năm, bỗng một hôm, tôi nhận được cú điện thoại của Thung từ Texas gọi qua. Thung là bạn học, cũng là chiến hữu của tôi ngày xưa. Hắn đề nghị gởi vé máy bay mời tôi qua Houston chơi. Nhân tiện thăm viếng khu vực dễ làm ăn và giá nhà cửa cũng dễ thở hơn nhiều so với San Jose. Tôi đồng ý. Một tuần lễ sau, một vé máy bay và một cái check 300 Mỹ kim trong bì thư gởi đến. Đây là một món quà khá hậu hỉ ở đất lạ quê người. Ba ngày sau, tôi lên máy bay của hãng Continental Airlines đi Texas. Bay suốt bốn tiếng đồng hồ, chiếc Boeing mới hạ cánh xuống phi trường Houston. Thung đón tôi tại lối ra của khu hành khách. Lần gặp nhau cuối cùng ở quê nhà vào năm 1973, tại Đại Học CTCT Đà Lạt. Ngày ấy, trông hắn rắn rỏi, khuôn mặt sạm nắng mà hôm nay, sau mười sáu năm định cư tại Mỹ, hắn hoàn toàn lột xác. Nước da trắng hồng đỏ au, cái bụng căng tròn, dáng người bệ vệ trông “rất ông chủ”. Mà chủ thực. Thung làm chủ cái chợ bán đồ biển. Vợ và con quản lý còn Thung lo chạy vòng ngoài.

CA SĨ HỒI CHÁNH ĐOÀN CHÍNH (CON NHẠC SĨ ĐOÀN CHUẨN)

Nguồn:
https://www.facebook.com/SuThatVietNam/posts/pfbid02FBS2SYXnTTPuJdyY6arwLjhN6pG1EkqUXjcDSRCHv2wi5VBSiVupawcnDV17RX9Wl?rdid=M9Sh85bXL5Ub7acz

     Ảnh:  Đoàn Chính và vợ, Mộng Hương, trong ngày lễ thành hôn. Ông từ trần ngày 10/9/2019, thọ 74 tuổi.

Nếu người Việt Nam  biết đến Nhạc Sĩ Đoàn Chuẩn qua những bài nhạc mượt mà, ca tụng cái đẹp thì người Việt ở miền Nam trước 1975 họ còn biết đến một hồi chánh viên nổi tiếng là Đoàn Chính con của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn qua tiếng hát đầy nam tính của một ca sĩ có đủ hai yếu tố cần thiết: phẩm chất và kỹ thuật.

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: “RƯỢU ĐÊM NAY” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN – Trịnh Thị Nhâm


Tác giả Trịnh Thị Nhâm

RƯỢU ĐÊM NAY, nhân vật trữ tình uống cùng một người đàn bà, họ không hề xa lạ với nhau, hoặc giả đã từng có thời bên nhau rồi rời xa, nay gặp lại trong một đêm cùng chén rượu. Anh say thật hay cố say để quên đi sự đời u uất nhức nhối trầm luân, và sống động hơn là người đàn bà xưa đang bên cạnh, trước mặt mình trong hoàn cảnh không mong muốn:
 
"Người ở lại bên ta ngồi châm tửu
Dìu ta say quên bớt oái oăm đời
Quên "cười ruồi - mắt đĩ - và cơn đau"
Cả nham nhở niềm tin vừa vá vội"
 

TÌM VỀ - Thơ Đặng Xuân Xuyến


   


TÌM VỀ
 
Gã ngược miền ký ức
Tìm về tuổi đôi mươi
Tim rộn ràng náo nức
Gọi đò ơi... ơi... ời..
 
Nghe như tiếng ai cười
Khuấy sông xưa ngơ ngác
Gã trai làng lưu lạc
Nén thở dài rất sâu.
 
Ừ, đời là nương dâu
Ừ, đời là bể khổ
Đã vấp nhiều bão tố
Nụ cười còn trinh nguyên.
 
Nhớ. Nhớ bao là chuyện
Thuở tắm sông, thả diều
Ngợp bến xưa vàng nắngNhịp hò reo rộn chiều.
 
Kìa như ai đang tới
Tiếng cười vang góc trời
Gã hòa vào mây trắng
Thả hồn cùng chơi vơi.
 
Làng Đá, sáng 18 tháng 9/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

NGƯỜI QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng


 

Người  Quê
 
1.
Quê nhà xa khuất sơn khê
Ai đi xa cũng mong về với quê…
Cỏ xanh ken lối đi về
Đình làng xưa cũ, đôi Nghê đứng chầu
Sông dài nước chảy về đâu
Sóng xô một khúc nhạc sầu miên man
Trời xanh mây trắng lúa vàng
Cánh đồng no gió mênh mang nắng hồng
Cha còn vất vả trên đồng
Mẹ còn lặn lội long đong tháng ngày
Đường về gánh lúa chiều nay
Áo em thôn nữ gió bay nhẹ nhàng…
Rượu quê uống cạn lại tràn
Người quê say giữa thênh thang đất trời
Thật thà, chân chất người ơi
Hiền hòa, giản dị một đời bình an…
 

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

CHÙM THƠ THĂM HOA LỤC CỦA NGUYỄN KHÔI

   
   

(Tặng Nhã My)
Trung Hoa rộng lớn nào đi hết
thì đển Nam Kinh ngắm Ngô Đồng (1)
Quyền thế ngất trời rồi cũng chết
Tình Yêu còn mãi với non sông.
———
( 1) Đường phố cây Ngô Đồng ở Nam Kinh do Tưởng Giới Thạch trồng tặng Tống Mỹ Linh
 
1/ NAM KINH
 
( Bởi mê Hồng Lâu Mộng
Nên tìm đến Nam Kinh)
Mộng đến Kim Lăng thăm Cảnh Ảo
tìm cô gái Việt ở Nam Kinh
hồn xưa còn giấu trong nếp áo
thơ xưa tơ liễu rủ hương tình
Trông lên phương bắc mang mang gió
Chim đậu cành Nam ngó đất trời
qua bao bình lửa cho gặp gỡ
Trung Sơn ta đứng lặng bên Người.
“ Sơn thủy cổ thành tương ỷ” tuyệt
ai hay Thiên Quốc hận Thái Bình ?
nắng hắt Trường Giang cồn khói sóng
buồm ai cô lữ tới Nam Kinh.
 
2/ ĐI DỌC TIỀN ĐƯỜNG
(Sóng êm Phúc kiến, lửa tàn Chiết Giang)
 
Mênh mông con nước Tiền Đường
triều dâng hoa sóng dễ nhường mắt ai
tàu qua huýt tiếng còi dài
Chuyện xưa bỗng nhớ để hoài xót thương.
Đoạn nào Kiều đã trầm gương
bến nào gặp vãi Giác Duyên  đón về ?
gió chiều se lạnh tái tê
ai người Quân tử sẻ chia Đoạn trường
bâng khuâng đi dọc Tiền Đường
trăm năm đâu chốn mồ chôn Nàng Kiều ?
 
3/ VỚI SÔNG TƯƠNG
 
Tàu đi theo nẻo Sông Tương
đôi bờ phẳng lặng như dường đón ai
núi đồi thon tựa bờ vai
mưa tuôn lệ Liễu bay hoài tương tư
xxx
Cuộc đời trôi nổi bôn ba
gặp sông Tương thấy thật là dịu êm
đầu sông bao cuộc đảo điên (1)
ai châm ngọn lửa đốt miền tre xanh ?
một phen khuấy động Kinh thành
Nông dân vùng dậy thác ghềnh sóng xô
Sông Tương thì cứ lặng tờ
để cho Dương Tử , Hoàng Hà réo sôi.
——
(1) Hồ Nam quê Mao Trạch Đông
 
4/ THĂM HÀN SƠN TỰ

Chùa cổ, thơ đề, vẳng tiếng chuông,
Ngàn năm ngưỡng vọng đến Hàn Sơn.
“ Cô Tô thành ngoại “ in bóng nguyệt
Để khách đa tình phải vấn vương.
xxx
Nắng gắt , người chen, ánh chiều tà,
bờ Phong xoà  bóng , Liễu thướt tha.
Chuông động hồn xưa Hàn Sơn tự,
lên tháp vời trông sóng Vận Hà.
 
 5/ DẠO PHONG KIỀU LỘ
 
Chiều sương dạo phố Phong Kiều
tựa đình Chiết Liễu gió reo đôi bờ
thuyền ai về bến Cô Tô
lửng lơ nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
 
6/ NHỚ LỖ TẤN (1)
 
Qua làng chẳng thấy AQ
nhà cao cửa rộng liền kề tương thân
rượu quê một chén Thiệu Hưng
ai say thời cuộc mà không Chí Phèo ?
——
(1) Văn hào Trung Quốc với nhân vật AQ… VN có Nhà văn Nam Cao với nhân vật Chí Phèo.
                                                             Chiết Giang 18/6/2006
                                                                    Nguyễn Khôi

TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn



Trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, 2026, chúng tôi – một nhóm Phật tử cao niên U70, U80 và U90 từ nhiều vùng miền Hải ngoại và Việt Nam – có dịp thăm viếng, gặp gỡ và chia sẻ với chư tôn đức, quý đạo hữu và thế hệ Phật tử tuổi trẻ mang tính kế thừa về những vấn đề Phật sự; đặc biệt là những thách thức trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình tu học và hoằng pháp. Vô hình chung, vấn đề nổi cộm và tiêu biểu nhất là sự hiện hữu với những tác dụng và thách thức chưa từng có tiền lệ về Trí Tuệ Nhân Tạo (AI).
 

THI SĨ NGUYÊN SA VÀ MỐI TÌNH DUY NHẤT THUỶ CHUNG SUỐT ĐỜI – Bài viết của Niệm Quân


                      Bà Trịnh Thúy Nga khi làm hiệu trưởng trường Văn Học ở Sài Gòn

Cả cuộc đời mình, thi sĩ Nguyên Sa chỉ có một mối tình duy nhất là người vợ đã gắn bó với ông từ thuở học trò cắp sách đến trường cho tới tận khi trút hơi thở cuối cùng, bà Trịnh Thuý Nga. Chính tình yêu với bà đã cho ông niềm cảm hứng dạt dào để khởi sự trở thành một nhà thơ.Mối duyên của họ bắt đầu từ những ngày mùa đông trên đất Pháp như trong lời kể của bà Thuý Nga:

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên thật nhà thơ Nguyên Sa là Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy buôn bán lớn, sợ Việt Minh làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông”.

HỮU LOAN NGƯỜI THƠ BẬN VIỆC LÀM NGƯỜI - Bài viết của Nguyễn Duy

Thành phố Hồ Chí Minh, một ngày thu năm 1988. Tôi đang điều hành cuộc họp cơ quan thường trực phía Nam của tuần báo Văn Nghệ tại trụ sở 43 Đồng Khởi, chợt có người đến tìm gặp, xưng là nhà thơ Hữu Loan, từ quê vào. Lật đật chạy xuống phòng khách, tôi thấy một ông già hom hem, râu tóc lam nham, áo quần xốc xếch, hao hao giống “đười ươi thi sĩ” Bùi Giáng, ngồi co một cẳng lên ghế. Cái cách đó, đích thị Hữu Loan rồi, theo hình dung của tôi. Tôi ôm chầm lấy ông như người quen thân lâu ngày gặp lại.


Nhớ, năm 1988,sau khi được "phục hồi" quyền được viết cùng với tư cách hội viên (sáng lập) Hội Nhà văn VN, "thi sỹ xe thồ" này đã làm cuộc "Nam tiến" bằng xe lửa và xe đạp vào Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Ông đến thăm tôi và sau đó tôi đã mấy lần về quê thăm ông, tại xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn. tỉnh Thanh Hóa. Nay tôi rất vui nhận được tin Thanh Hóa vừa đặt tên đường phố HỮU LOAN. Xin chúc mừng tỉnh nhà và gia đình thi sỹ. Nhân sự kiện văn hóa này tôi post lại bài viết về lần đầu gặp gỡ giữa hai người thơ Thanh Hóa tại Sài Gòn, tháng Tám năm 1988. (Bài viết vào dịp tang lễ cụ Tú Loan, 2010, đã được đăng trrên vài tờ báo hồi đó và in trong GHI & NHỚ - tuyển tập bút ký của Nguyễn Duy (nxb Hội Nhà văn).
Ông là nhà thơ đàn anh, người đồng hương xứ Thanh của tôi, nơi nổi tiếng “địa linh, nhân kiệt”. Ông thuộc lọai “nhân kiệt”, không chỉ là “hào kiệt” mà còn là “cùng kiệt”, một thường dân kiệt quệ theo nghĩa đen.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

VỀ TỐ HỮU - Trích hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh

           “Pouchkine có từ điển, sao Tố Hữu không có từ điển”!


Tố Hữu trông người nhỏ nhắn, nhẹ nhõm như một thư sinh. Nhưng rất hách. Tôi đã nghe Hoàng Cầm nói, ông đã từng ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác bằng sáu tiếng ngắn gọn:
“Gọi nó về, bắt lấy nó”.
Tôi đã chứng kiến Nguyễn Đình Thi sợ ông như thế nào, tôi ví như con cua co dúm người lại trước con ếch.
Tôi đã nghe Hoàng Ngọc Hiến thuật lại về Tố Hữu trong cuộc họp nhà văn đảng viên hồi tháng sắu năm 1979. Nguyên Ngọc trình bầy bản đề cương chống Mao-ít. Tố Hữu đã quạt cho Nguyên Ngọc một trận, cho đây là hiện tượng “ngược dòng”, ông có cách nói mỉa mai rất ác. Nhân thấy Nguyên Ngọc, người thấp, nhân làm đổ cái micro trên bàn chủ tịch đoàn, ông nói:
“Cái bục này đối với tôi hơi cao, đối với anh Nguyên Ngọc thì cao quá!”.
Ông còn đến vuốt râu Nguyên Hồng:
“Để râu sớm quá đấy, để trốn họp chi bộ chứ gì!”.
Gần đây Kim Lân còn cho tôi biết, hôm ấy, Tố Hữu đến chỗ Kim Lân, nói:
“Dạo này viết ít quá đấy!”.
Kim Lân buột miệng nói:
“Bác lại phê bình em rồi!”.
Có vậy thôi mà nghĩ sợ quá. Kim Lân nói:
“Tôi nhớ trong truyện Tam Quốc, có hai anh bạn thân, sau một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về những kỷ niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu. Sợ quá!”.
Tôi chắc Kim Lân sợ thì có sợ, nhưng làm gì đến nỗi thế. Bọn nhà văn là chúa hay phóng đại.
Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu nói nhỏ với anh:
“Ông Lành đang nói sao cậu lại cười?”.
Khải sợ quá, vội chối:
“Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu!”.

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

SAO TÌNH DỤC TRONG TỬ VI – Đặng Xuân Xuyến



Tử vi xem tình dục như một động lực chi phối mạnh mẽ tinh thần, tâm linh và thể xác của con người nên người sáng lập ra môn Tử Vi là Trần Đoàn đã mô tả đời sống tình dục của con người qua số lượng các sao tình dục khá đông trong tỷ lệ các chính tinh và phụ tinh. Với số lượng 20 sao tình dục trong 111 sao (theo lý thuyết của Tử vi Việt Nam) cho thấy quan niệm của khoa Tử Vi về ảnh hưởng của tình dục rất sâu rộng trên kiếp sống con người.
 

HỒI ÂM ĐẠO HỮU ĐÀO VĂN BÌNH, NHÂN VIẾT - ĐỌC - PHẢN HỒI VỀ BÀI “TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO VÀ THÁCH THỨC TRÍ TUỆ NHÂN TẠO”- Bài viết của Trần Kiêm Đoàn



“Sep 18, 2026 at 6:01 AM Vital_Info! <daovanbinh@sbcglobal.net> wrote:”

Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn ơi. Intelligence có nghĩa là Thông Minh chứ không phải trí tuệ. Trong nước tiếng Anh kém cho nên dịch bừa là Trí Tuệ và hải ngoại bắt chước theo. Trí Tuệ là Mind hoặc Wisdom. Con chó, con mèo, con cọp con sư tử, thậm chí con rắn cũng rất thông minh nhưng không có Trí Tuệ.
 
Một tên trộm hay sát nhân cũng rất thông minh nhưng không có trí tuệ. Nếu có Trí Tuệ thì đâu có đi ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, giết người. Trí tuệ là sự thông suốt bản thể của cuộc sống và thiên nhiên. Người Âu Châu vì quá thông minh cho nên đi xâm chiếm toàn thế giới và biến họ thành thuộc địa. Nay nhờ có Trí Tuệ soi sáng mà họ thấy đó là tội ác và sai lầm. Thông minh nhiều khi chỉ hại người và là một tội ác. Thông minh khám phá ra nguyên tử. Từ nguyên tử chế thành bom nguyên tử hủy diệt loài người và trái đất này.
 
Chúng ta cần mở mang trí tuệ hơn là thông minh. Tôi dù ngu đần (không Intelligence) nhưng lúc nào cũng cố gắng mở mang trí tuệ để mong đạt tới An Lành, Hạnh Phúc, diệt trừ Tham Sân Si. Càng thông minh con người càng lừa dối, giết hại nhau và thế giới càng đi tới hủy diệt, hỗn loạn. Tôi sợ sự thông minh lắm. Vài hàng chia sẻ với đạo hữu.
                                                                                   Đào Văn Bình
*

THÁI THANH, TIẾNG HÁT MỘT THỜI LÊNH ĐÊNH – Bài viết của Hoàng Hải Thuỷ


Ca sĩ Thái Thanh

Nàng từ chối mọi lời mời của những ông chủ mới để hát những bài hát mới, đứng trên sân khấu mới để hát cho những con người mới.
Sáng sáng, nàng bận bộ bà ba tối màu, vì áo dài bấy giờ đã là một thứ quá xa xỉ, che nghiêng nón lá và bước đi về phía chợ, mua những mẩu bánh mì cũ cho bữa ăn.
Sau khi bán lần mòn trang sức, nàng mở gánh nước bán loanh quanh trong các con hẻm, cung đường nhỏ trong thành phố để kiếm kế sinh nhai cho những đứa con.


Nhưng khi đêm về, tại nhà thân hữu, nàng được âm thầm mặc áo dài, âm thầm phục sức, phấn sáp và rảo tay trên những phím đàn, nhỏ nhẹ ngước nhìn họ và hỏi đầy duyên dáng “Bây giờ, anh muốn nghe bài gì?” như chưa từng có bất cứ sự khó nhọc nào. Khi đó nàng đã trở thành một con người hoàn toàn khác hoặc nàng đang quay về, trở lại là chính nàng, của trước kia.

DỊCH GIẢ HÀ MAI ANH - Theo Fb Nguyễn Thị Bích Hậu



Người trong hình chính là ông Hà Mai Anh, dịch giả của "Tâm hồn cao thượng".
Cuốn sách gối đầu giường của tôi từ bé thơ. Hà Mai Anh quê ở Thái Bình, ông đậu bằng Cao Ðẳng Tiểu học và trường Sư phạm, từng làm giáo học và hiệu trưởng ở các tỉnh ở Bắc Kỳ.
Ông trở thành tác giả giáo khoa. Ngay từ năm 1938 cuốn Công dân giáo dục do ông viết đã được xuất bản tại Nam Định và được  xử dụng làm SGK thời đó.

Vào những năm đầu 1940, ông dịch cuốn Tâm hồn cao thượng (tiếng Ý: Cuore) đoạt Giải thưởng Văn chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội năm 1943, dịch từ tiếng Pháp.


MỘT NÉN NHANG VÀ NHỮNG CÁI ĐẦU ĐÓNG KÍN – Bài viết của Nguyễn Quốc Chính



Mấy hôm rày, thấy lãnh đạo TP.HCM đến dự lễ giỗ Đức Thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt, một số người lại nhảy dựng lên chửi bới.
Họ chửi ông.
Họ chửi người thắp nhang.
Họ chửi luôn cả thành phố đã gìn giữ lăng mộ và hương khói cho ông gần hai thế kỷ.
Gã chỉ muốn hỏi: Các vị đang bảo vệ lịch sử, hay đang nhân danh lịch sử để khoe sự thiếu hiểu biết của mình?

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

CHIẾT TỰ CHỮ PHONG 豊 - Dịch Thuật Hán Nôm



Hán–Việt: Phong
Nghĩa Việt: Phong phú, dồi dào, đầy đủ; sung túc, thịnh vượng.
Phiên âm (Pinyin): fēng

Chữ 豊 (Hán–Việt: Phong) là một chữ Hán mang nghĩa phong phú, đầy đủ, dồi dào và thịnh vượng. Chữ này gợi lên hình ảnh lễ vật, của cải được bày biện đầy đủ, từ đó biểu thị trạng thái sung túc, phong thịnh. Nghĩa của chữ 豊 không chỉ dùng để nói về vật chất dồi dào mà còn có thể mở rộng sang sự phong phú về tài năng, tri thức, đức hạnh và đời sống tinh thần.

Theo hình thể chữ Khải, chữ 豊 gồm hai thành phần: 曲 + 豆
Chữ 曲 (Khúc) mang nghĩa cong, uốn, khúc; trong hình thể của 豊, phần này nằm phía trên và góp phần tạo nên hình dáng tổng thể của chữ.
Chữ 豆 (Đậu) vốn là hình một loại đồ đựng dùng trong nghi lễ thời cổ, thường dùng để đựng lễ vật. Trong chữ 豊, 豆 gợi hình ảnh một vật chứa lễ được đặt bên dưới phần 曲.
Có thể trình bày: 豊 = 曲 + 豆
Khi kết hợp 曲 + 豆, có thể gợi nên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy đặn, biểu thị sự đầy đủ và sung túc.
豆 gợi hình ảnh vật chứa lễ vật, còn 曲 góp phần tạo nên hình thể của chữ. Từ hình ảnh lễ vật đầy đủ trong các nghi lễ cổ, chữ 豊 phát triển thành những ý nghĩa như phong phú, dồi dào, sung túc và thịnh vượng.
Vì vậy, 豊 có thể được ghi nhớ qua hình ảnh: “Lễ vật đầy đủ, của cải dồi dào → phong phú, sung túc.”

Các từ ngữ quen thuộc có chữ này
豊富 (Phong phú): dồi dào, nhiều và đa dạng.
豊饒 (Phong nhiêu): màu mỡ, sản vật dồi dào, phong phú.
豊盛 (Phong thịnh): đầy đủ, sung túc, thịnh vượng.
豊年 (Phong niên): năm được mùa, mùa màng dồi dào.
豊穣 (Phong nhượng): mùa màng phong phú, sản vật dồi dào.
豊滿 (Phong mãn): đầy đặn, sung mãn, đầy đủ.

Nhìn từ góc độ chiết tự, 豊 = 曲 + 豆 gợi lên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy, tượng trưng cho sự đầy đủ và sung túc. Hình ảnh ấy giúp người học dễ liên tưởng đến ý nghĩa phong phú, dồi dào, thịnh vượng của chữ.

Vì vậy, chữ Phong 豊 không chỉ gợi đến sự giàu có về vật chất mà còn có thể được hiểu rộng hơn là một trạng thái đầy đủ và dồi dào trong cuộc sống. Một đời sống “phong” không nhất thiết chỉ nhiều của cải, mà còn có thể là phong phú về tri thức, giàu có về tình nghĩa và đầy đặn về đức hạnh.
 
                                                                     Dịch Thuật Hán Nôm