BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC: MỘT GÓC NHÌN TỪ THI CA – Bài viết của Đỗ Trường



Thời gian gần đây, tôi được đọc khá nhiều văn thơ do các bác sĩ, kỹ sư viết. Với lời văn, câu thơ giản dị cùng sự tưởng tượng, tư duy logic cho tôi nhiều điều bất ngờ. Và mối quan hệ, tính logic ấy đã làm nên chân dung, tính đặc trưng riêng biệt cho mỗi nhà văn. Nếu nói, toán học gói ghém cái cụ thể nhất, (thì) văn thơ Toàn Phong mở cái trừu tượng của không gian vũ trụ Nguyễn Xuân Vinh. Và Đỗ Hồng Ngọc cũng vậy, thi ca là chìa khóa mở ra con đường dẫn ông đến y khoa, đến với nơi cửa thiền. Do vậy, đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy sự nghiệp, và thi ca Đỗ Hồng Ngọc không chỉ cứu chữa thể xác con người, mà còn vá lại những linh hồn rách nát.
 
Thật vậy, tiến sĩ y khoa Đỗ Hồng Ngọc là người đa tài. Với trên sáu chục tác phẩm từ thơ ca, văn xuôi truyện ngắn, cho đến sách y khoa và Phật học, có thể nói Đỗ Hồng Ngọc đi sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Ở lãnh vực nào hình ảnh, chân dung ông cũng lừng lững cả. Tuy nhiên, trong (khuôn khổ) bài viết này, tôi chỉ đủ khả năng viết về khía cạnh thi ca Đỗ Hồng Ngọc mà thôi.
 
Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Lagi, Bình Thuận. Ông đến với thi ca rất sớm. Khi còn là học sinh, hay sinh viên trường Đại học y khoa, ông đã có thơ đăng hầu hết trên các trang báo Văn học Saigon thời đó, với bút danh Đỗ Nghê. Đỗ Hồng Ngọc tốt nghiệp tiến sĩ y khoa năm 1969, rồi làm việc tại Bệnh viện nhi Saigon, và giảng dạy đại học cho đến ngày hưu trí. Hiện ông đang sống, và viết tại Saigon.
 
Sở trường Đỗ Hồng Ngọc là thơ tự do, ngắn và cô đọng. Tính triết lý làm giàu cho nhận thức, đưa đến những liên tưởng, với sự tưởng tượng phong phú là nghệ thuật đặc sắc của thi ca Đỗ Hồng Ngọc:

“Đất động ta cũng động/ Sóng thần ta cũng sóng/ Giật mình chợt nhớ ra/ Vốn xưa ta là đất” (Đất).
 

CÁI LÝ NGŨ HÀNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN – Bài viết của Thiên Việt


 
Đọc bài TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN LÝ CỦA NGŨ HÀNH của tác giả Đặng Xuân Xuyến, cảm giác đầu tiên là sự nhẹ nhõm. Nhẹ nhõm vì ông không dùng những từ ngữ đao to búa lớn mà ông viết như đang tâm sự cách nhìn đời qua lăng kính của Ngũ hành một cách tỉnh táo và nhân bản. Ông không nhìn lá số theo kiểu "vơ đũa cả nắm" hay hù dọa bằng những lời tiên tri huyền bí, mà tỉ mỉ bóc tách từng lớp quan hệ giữa Mệnh, Cục, Cung và Sao. Đây chính là một cống hiến thực tế, giúp người học Tử vi thoát khỏi cách đoán mò để bước vào thế giới của sự logic và định lượng.
 

CÔNG CHÚA NHÀ THANH ĐƯỢC HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG CẦU HÔN LÀ AI ? - Nguồn từ Giai Thoại Xưa



Đây là một trong những câu chuyện khiến giới sử học bàn luận suốt hơn hai trăm năm qua. Vị anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, người từng đại phá 29 vạn quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789, lại có lúc chủ động cầu hôn con gái của chính vị hoàng đế mà ông vừa đánh bại trên chiến trường.
 
Nhưng công chúa ấy là ai?
 
Và liệu cuộc hôn nhân ấy có thực sự tồn tại hay chỉ là một nước cờ ngoại giao đầy toan tính?
Con Gái Hoàng Đế Càn Long Được Vua Quang Trung Cầu Hôn Là Ai?
Năm 1789, sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa vang dội, Hoàng đế Quang Trung không chỉ khiến triều Thanh kinh ngạc mà còn buộc Hoàng đế Càn Long phải nhìn nhận lại sức mạnh của Đại Việt. Thay vì tiếp tục đối đầu, hai bên nhanh chóng nối lại quan hệ bang giao.
Từ đây bắt đầu một trong những giai thoại ly kỳ nhất lịch sử Đông Á.
 
Theo nhiều tài liệu như Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Nam chính biên liệt truyện và các thư tịch ngoại giao thời Tây Sơn, vào năm 1792, vua Quang Trung đã cho soạn một biểu văn đặc biệt gửi sang triều Thanh, đề nghị cầu hôn một công chúa của Hoàng đế Càn Long.
Người được giao chấp bút cho văn kiện này chính là danh sĩ Ngô Thì Nhậm, một trong những trí thức kiệt xuất của triều Tây Sơn. Giáo sư Lê Văn Lan từng xác nhận biểu văn này thực sự tồn tại, và đây không phải là chuyện hư cấu.

NHẠC SĨ PHẠM DUY VÀ NHẠC PHẨM “BÊN CẦU BIÊN GIỚI” (1947) - Nguồn: amnhac.net



"Bên cầu biên giới" - nhạc phẩm khiến Phạm Duy bị chỉ trích
Nhạc sĩ Phạm Duy viết ra ca khúc "Bên cầu biên giới" khi ông đang ở Lào Cai và nhớ tới một người con gái đẹp. Tuy nhiên, đây cũng là ca khúc gây tranh cãi một thời.
 
Ca khúc "Bên cầu biên giới" ra đời trong hoàn cảnh nào?
 
Phạm Duy là một nhạc sĩ tài hoa của nền tân nhạc Việt Nam. Ông đi nhiều nơi và trên đường rong ruổi đã gặp nhiều người, sáng tác nên nhiều ca khúc bất hủ. Một trong những người bạn có ảnh hưởng khá lớn đến Phạm Duy chính là nhạc sĩ Văn Cao. Văn Cao đã nhìn thấy tiềm năng âm nhạc trong người Phạm Duy vì thế đã khuyên ông nên đi theo nghiệp sáng tác.
 
Đầu tháng 5/1947, Phạm Duy cùng đoàn kịch Giải Phóng đến Lao Kay thì gặp Văn Cao. Văn Cao lên Lao Kay từ đầu năm 1947, phụ trách Đội điều tra Công an Liên khu X. Ông mở quán ca nhạc mang tên "Quán Biên Thùy" ở bên kia cầu Cốc Lếu để làm vỏ bọc hoạt động cho mình.
 

Gặp lại Văn Cao ở quán Biên Thùy với không gian âm nhạc ấm cúng, lãng mạn, Phạm Duy liền bỏ đoàn kịch Giải Phóng để ở lại với Văn Cao. Tại vùng đất biên thùy này, trong một lần đứng giữa cây cầu nối liền biên giới Việt - Trung, nhạc sĩ Phạm Duy đã sáng tác nên bản tình ca hiếm hoi của thập niên 1940. Ca khúc mang tên "Bên cầu biên giới" (1947). Ca khúc này ra đời trong khoảnh khắc chàng nhạc sĩ tạm quên đi thời cuộc, quên đi những đau thương ở chốn làng cũ quê xưa, để nghĩ về tình cảm riêng tư của mình.

ÁI ƯU 愛憂 - Bài viết của Khánh Ly, Trích từ Tri thư đạt lễ



Ái ưu, chữ Hán viết 愛憂. Trong đó Ái là yêu thương, gắn bó; Ưu là lo lắng, trăn trở. Ái ưu diễn tả một mối quan hệ thừa tiếp rất đỗi tự nhiên của con người - vì yêu nên mới sinh lo, mà nỗi lo ấy cũng chính là biểu hiện của tình yêu.

Từ đây trong văn chương và các trước tác cổ, người ta thường phát triển thành những cụm từ quen thuộc như Ưu quốc ái dân 憂國愛民 hoặc Ưu dân ái quốc 憂民愛國, nghĩa là lo cho dân, cho nước và yêu dân, yêu nước. Đây là một lý tưởng sống lớn lao và là phẩm chất đạo đức quan trọng, đặc biệt là đối với kẻ sĩ: Đặt bản thân vào mối quan hệ với quốc gia và sinh dân, xem trách nhiệm gánh vác nỗi lo chung như một điều hiển nhiên.

CHÙM THƠ KHÚC HẠ CỦA ÁI NHÂN


   
Nhà thơ ÁI NHÂN
Tên thật: Bùi Cao Thế
Hội viên Hội VHNT – Hưng yên
Hội viên Hội nhà văn Hà nội
Đã in riêng 12 tập thơ tình tại NXB Hội NV
ĐC: 139 Ngõ 399 đường Ngọc lâm – Long biên – HN
ĐT: 0984470914
TK: 10524096395016 Tecombank
 
 
Mắt hạ
 
Hạ cứ trong ngần trong mắt thơ
Thuyền yêu đắm đuối đáy dòng mơ
Tương tư chết khát bên bờ nhớ
Cả gió trăng kia cũng thẫn thờ
 
Ai còn lưu luyến mùa ký ức
Áo trắng hồn nhiên thuở đến trường
Mắt em trong vắt, mây ngơ ngác
Lóng lánh ánh cười thương thật thương
 
Hạ đã sang rồi xuân vội qua
Đâu mùa ký ức bóng kiêu sa
Áo như mây trắng môi thoa nắng
Phượng chiều cháy đỏ, tiếng ve xa
 
 
Gọi hè
 
Miên man gió hát đợi hè
Chênh chao nắng gọi tiếng ve giật mình
Dòng sông ngơ ngác chùng chình
Bờ tre kéo khúc nhạc tình tháng tư.
 
Cánh cò cõng nắng, hình như
Con diều no gió say từ chiêm bao
Thoảng nghe có tiếng thì thào
Lập lòe lựu đỏ, hoa mào gà tươi
 
Rập rờn đồng lúa đôi mươi
Khoe màu con gái giữa trời ngát xanh
Chập chờn lảnh lót vàng oanh
Tiếng yêu khao khát mong manh… gọi hè!
 

TRÒ CHUYỆN VỚI AI VỀ THƠ AI VÀ THƠ NGƯỜI – Bài viết của Đặng Xuân Xuyến



Cuộc trò chuyện này được khởi nguồn từ cuộc tranh biện gay gắt giữa Tiến sĩ Hà Thanh Vân và Nhà thơ Trần Hạ Vi những ngày đầu tháng 5 năm 2026 về những lời “cáo buộc” việc sử dụng AI trong sáng tác thơ ca và phản biện văn chương.
 
Tôi đưa ra 3 bài thơ của tôi và 3 bài thơ của Nhà thơ Trần Hạ Vi (nằm trong vòng nghi vấn "sản phẩm của AI" của Tiến sĩ Hà Thanh Vân) với 2 phong cách hoàn toàn trái ngược để thực hiện một cuộc "thăm dò" trực diện với AI: Liệu chính AI có nhận diện được hơi thở của con người trong câu chữ hay nó sẽ bị đánh lừa bởi những thuật toán hoặc sự “dẫn dắt” của người “đối thoại” hay từ định kiến của chính mình? Và cuối cùng cũng là để tìm câu trả lời: 3 bài thơ của Nhà thơ Trần Hạ Vi có thực sự là “sản phẩm của AI” như “cáo buộc” của Tiến sĩ Hà Thanh Vân?
 
Tôi nhập lệnh: - Này AI. Bài thơ này là AI viết hay người viết đấy:
 
VIẾT CHO KHỜ
 
Triền sông chiều nay cạn gió
 
Ai dụi câu hò
Ai dúi cánh cò líu ríu qua sông
Ai lùa gió đốt lòng
Ai bủa giăng chim trời mà đợi
Khờ hỡi...
Biết rồi
Sao còn vít vương tơ rối.

Ngẩn ngơ chi thì thầm lời của gió
Thương nhớ gì lộc cộc tiếng ngõ khuya
Thì kệ nắng quái trưa
Thì mặc mưa mút mùa
Thì thả nụ yêu quá thì chìm nổi
Để rồi tong tẩy cuộc người
Để rồi xéo xắt miệng đời
Để rồi nụ cười bảy chìm ba trôi chín rối...

Khờ hỡi
Biết rồi
Sao nặng lòng vít vương tơ rối...

Về thôi!
 
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
 

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

PHÙ LƯU 芙畱, TRẦU (GIẦU, BLẦU...) - Ung Chu



Tìm về các làng cổ của người Việt ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ là một cách hay để nghiên cứu về tiếng Việt cổ, chữ Hán và chữ Nôm. Hình thái tiếng Việt được ghi nhận trong thế kỉ 17 bởi người phương Tây là tiếng Việt trung đại, trực tiếp phân hoá thành các phương ngữ hiện đại. Trước đó vài trăm năm, tiếng Việt cổ có nhiều khác biệt với thời nay mà ta cần sự trợ giúp của các ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm để có thể phục dựng.
--
Phường Đông Ngàn tại thành phố Từ Sơn (tính đến tháng 6/2025), tỉnh Bắc Ninh có khu phố Phù Lưu vốn là làng Phù Lưu hay còn gọi là làng Giầu. Trung tâm làng là chợ Giầu ngày xưa nổi tiếng buôn bán mặt hàng trầu cau (giầu cau).

TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU, RU KHÚC VE TRƯA, NGOẢNH NHÌN HẠ CŨ – Thơ Tịnh Bình


   

 
TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU...
 
Phía biển xa kia là gì ?
Sao cánh buồm xuôi mãi
Chân trời màu đỏ thẫm
Vời vợi mắt hoàng hôn
 
Có hay không niềm bình yên vĩnh cửu
Cánh thiên di lưu trú tận đường trời
Tiếng gọi nào hư thực
Một lần dắt ta đi...
 
Lay đơn độc mùi khói hương không tuổi
Quay mặt lại là bờ bến cũ
Những bông hoa dệt nghìn tia ánh sáng
Cố hương xưa muôn ức tinh cầu
 
Ta tìm bản thể ta
Chưa khôn khuây nỗi nhớ
Trước biển hỏi nghìn câu thinh lặng
Chỉ sóng bạc đầu mãi một ngôn âm...
 

ÔNG NGUYỄN PHI KHANH YÊN NGHỈ TRÊN ĐỈNH NÚI BÁO ĐỨC (CHÍ LINH) - Theo trang Giai Thoại Xưa



Mất ở Trung Quốc, vì sao thân phụ Nguyễn Trãi lại yên nghỉ trên đỉnh núi Báo Đức?
Có một ngôi mộ nằm lặng lẽ trên đỉnh núi cao ở Chí Linh, muốn lên được đến nơi, có người phải đi từ sáng đến quá trưa mới trở xuống. Con đường ấy vòng vèo qua rừng, có đoạn dốc dựng, có đoạn cây cối che kín lối đi. Thế nhưng suốt nhiều đời qua, hậu duệ dòng họ Nguyễn Quy và những người yêu lịch sử vẫn tìm về nơi ấy để thắp hương cho một bậc đại nho đặc biệt: cụ Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi.
 

"TÁM" MẤY CHUYỆN VỀ NỐT RUỒI – Đặng Xuân Xuyến



Sáng mấy hôm trước đi làm lại Căn cước ở trụ sở công an phường, anh công an lớn tuổi nhìn tôi ngạc nhiên hỏi: - "Anh mới tẩy nốt ruồi ở bên cánh mũi trái à?". Tôi ngớ người: - "Không! Mình cũng không biết mũi mình có nốt ruồi.". Anh công an ít tuổi nghe tôi nói vậy cứ tủm tỉm cười nhìn tôi đầy nghi hoặc. Tôi vội phân trần: - "Thật mà! Mình không hề biết mình có nốt ruồi ở mũi và cũng không biết tại sao nốt ruồi đó lại biến mất.". Có vẻ 2 anh công an đều không tin lời tôi nói vì việc một người không hề hay biết về một đặc điểm nhận dạng ngay trên khuôn mặt mình suốt mấy mươi năm là một điều vô lý.
 

LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM, VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN – Thơ Đỗ Anh Tuyến


   

 
LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM
 
Tháng Năm rồi mà trời trở gió ngang
Chút rét mồ côi đậu trên nhành lá biếc
Anh đứng đợi em, lòng riêng thầm tiếc
Nắng đâu rồi? Để lạnh buốt bàn tay.
 
Cứ ngỡ mùa này phượng đã đỏ hây hây
Sen hồ kia đã bắt đầu xòe cánh mỏng
Ai biết được cái hanh hao se bóng
Lại tìm về giữa mùa hạ chói chang.
 
Áo mỏng chờ nhau, gió tạt ngỡ ngàng
Cái rét ngọt cứ len vào nấc cửa
Em có đến hay em còn lần lựa
Sợ ngoài đường sương muối đọng vai thon.
 
Anh vùi tay sâu trong túi áo sờn
Nghe hơi thở hóa thành làn khói nhẹ
Tháng Năm lạ kỳ, dịu dàng và khe khẽ
Dỗ dành anh bằng một chút heo may.
 
Dẫu có lạnh thêm, anh vẫn đứng đây
Gom hết gió mùa đông vừa lạc tới
Để lúc em sang giữa dòng người mải miết
Ủ ấm bàn tay, bù lại những hao gầy...
 

ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC 洞房花燭 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the

Hình ảnh: Động phòng hoa chúc, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Động phòng hoa chúc 洞房花燭 là một thành ngữ gốc Hán, miêu tả quang cảnh của đám cưới truyền thống, nay chỉ đêm tân hôn. Thành ngữ này xuất hiện nhiều trong văn chương cổ.

Động phòng hoa chúc xuất phát từ bài thơ Hòa Vịnh Vũ của Dữu Tín thời Nam Bắc Triều. Trong đó có câu “Động phòng hoa chúc minh, yến dư song vũ khinh”, tạm dịch là: Phòng sâu nến hoa sáng, đôi én lượn nhẹ nhàng.

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the.

Hoa chúc 花燭 có nghĩa là nến hoa. Đây là tập tục truyền thống không thể thiếu trong nghi lễ cưới xin của người Hán. Thông thường, người xưa sẽ thắp một đôi nến lớn ở đại sảnh và phòng tân hôn. Vì trên thân nến có chạm khắc hoa văn rồng phượng bằng vàng bạc nên gọi là hoa chúc. 

GẶP GỠ TIẾNG MƯỜNG VÀ TIẾNG VIỆT "ĐÀNG TRONG"... - Nguyễn Chương Mt


Trong khung vuông là địa bàn cư trú của người Mường.

/1/ Nhóm của họ, là người Mường ở Thanh Hóa, vô trong Nam sống và làm việc. Một người trong họ thốt lên với vẻ ngạc nhiên, "Ồ, người trong này gọi "mần", sao giống với tiếng Mường vậy!".
Tiếng Việt ngoài châu thổ sông Hồng gọi "làm", người Mường có cách gọi tương tự "là" (nghĩa là "làm"). Và người Mường còn có cách gọi khác nữa là "MẦN". Ở châu thổ sông Hồng người ngoài đó không gọi "mần", nhưng ở miền duyên hải như xứ Nẫu, miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long nhiều người Việt gọi "MẦN"!
Tiếng Mường gọi "MỀN", tiếng Việt châu thổ sông Hồng gọi "chăn". Đâu ngờ, tiếng Việt trong này lại gọi là "MỀN".
Người Việt trong Nam gọi "ƯA", người Mường cũng gọi "ƯA", trong khi tiếng Việt châu thổ sông Hồng không gọi vậy mà thường gọi là "Thích".
Tiếng Mường gọi "Bợi cơm", tiếng Việt trong Nam gọi "BỚI cơm", trong khi ngoài sông Hồng gọi "xới cơm".
... Chỉ đơn cử một chút "phát hiện" như vậy, nằm trong hành trình khám phá ngược dòng về ngôn ngữ - gọi là "VIETIC", trong đó có "proto-Vietic" (tiếng Việt nguyên thủy), "ngữ chi Việt - Mường".
=> Duyên cớ nào - trong lịch sử - đã nối liền thành "VỆT" tiếng Việt ở miền châu thổ Cửu Long với duyên hải xứ Nẩu, xứ Quảng, với tiếng Mường (nằm trong "proto-Vietic") ở Thanh Hóa...?

LẮNG LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng


  

 
Lắng Lòng

1.
Lắng lòng rót mật vào thơ
Tình yêu tuổi nhỏ dại khờ mới nhen
Lần đầu gặp gỡ làm quen
Bỗng nghe “Tiếng sét…” gọi tên “Ái tình…”
Nắng rơi tia nắng lung linh
Gió bay tà áo dáng hình đắm say
Xin Trời sợi chỉ buộc tay
Tơ hồng kết nối ngày ngày yêu thương
Giọt sương trên lá còn vương
Gió lay khẽ rụng trên đường ướt vai
Tóc dài buông xõa chia hai
Bóng em trong nắng đổ dài tinh khôi…
Em ơi… chiều đã muộn rồi
Hoàng hôn tím cả một trời mênh mang
Lối về tím rụng hoa xoan
Tím màu chung thủy tím man mác buồn…
 
2.
Bây giờ dâu bể dị thường
Cách xa, xa cách bốn phương trời sầu
Vui thời cạn, buồn thời sâu
Nhớ em nỗi nhớ đậm màu thiết tha…
Người ta đi với người ta
Rượu nồng, pháo cưới, xe hoa, áo hồng
Chát chua, chua chát trong lòng
Tình chia hai ngả còn trông đứng ngồi
Nhìn nhau lần cuối rồi thôi
Giang đầu, giang vĩ xa xôi vô thường
Quay lưng chia biệt người thương
Bây giờ hai đứa ngược đường hiu hanh…
Xa nhau từ thưở tóc xanh
Bây giờ gặp lại tóc thành ánh kim
Tình xưa tưởng đã khuất chìm
Mà yêu thương cũ trong tim vẫn đầy…
 
            Nha Trang, tháng  05. 2026
                 LÊ KIM THƯỢNG

MẸ, CHÚT NẮNG ẤM GIỮA MIỀN HƯ KHÔNG – Đặng Xuân Xuyến

(Cảm nhận khi đọc “Mẹ là chút nắng cuối đông” của nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích)

Tác giả bài viết Đặng Xuân Xuyến

Chiều qua, nhận được tập thơ “LỐI VỀ”, món quà quý nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích gửi tặng, tôi ngồi chậm rãi đọc rồi bỗng khựng lại khi gặp bài thơ “Mẹ là chút nắng cuối đông” bởi những hình tượng ẩn dụ vừa lạ vừa quen, nơi “cái nắng cuối đông” mỏng manh lại trở thành biểu tượng bất diệt cho hơi ấm tình mẫu tử. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng hiếu nghĩa mà còn là một khoảng lặng đầy chiêm nghiệm về lẽ vô thường và giá trị của sự hiện diện - một thông điệp nhân văn mà tác giả đã chắt chiu gửi gắm qua từng nhịp thở của chữ nghĩa.
 
MẸ LÀ CHÚT NẮNG CUỐI ĐÔNG
 
Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông
Đủ làm ấm, để em hồng đôi má
Mấy ai nghĩ yếu mềm như tàu lá
Mà lạt mềm gói chặt cái bên trong
 
Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông
Nhè nhẹ lắm như một làn hơi thở
Mẹ ra sưởi, mẹ ngồi trên bậu cửa
Mà liêu xiêu khi con ở xa về.
 
Không còn nồng như cái nắng hè kia
Không yếu đuối trong mưa phùn ẩm ướt
Mẹ ngồi đó là con còn có được
Sưởi ấm lòng dù chỉ nắng mùa đông.
 
Ừ! Biết rằng tất cả sẽ hư không
Chỉ xin giữ trong hồn hình bóng mẹ
Cao như núi, và rộng nào bằng bể
Xin vo tròn trong một chữ tình con.
 
                              Trịnh Đình Bích

MẸ 媄 (CHỮ NÔM) - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

MẸ, chữ Nôm được ghi là . Cấu tạo của chữ gồm có hai phần: Bên trái là bộ nữ và bên phải là chữ mỹ .
MẸ là một chữ Nôm thuộc nhóm chữ Nôm sáng tạo của người Việt, thông qua việc kết hợp giữa thành tố biểu âm và biểu ý. Nghĩa là trong chữ mẹ , nữ là bộ thủ biểu ý chỉ chung cho người nữ, còn mỹ là thành tố biểu âm, cho âm đọc Nôm là mẹ.
Theo nguyên tắc chỉnh vần của chữ Nôm mà thực tế là chỉnh nguyên âm, ta có nguyên tắc: Nguyên âm dòng nào thì chỉnh theo nguyên âm dòng ấy. Chữ mẹ được chỉnh theo nguyên tắc nguyên âm dòng trước là i, iê (ia), ê, e. Cụ thể ở đây là chỉnh từ i → e, từ mỹ → mẹ.
 
Hình ảnh: Chữ Mẹ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.”
(Con cò - Chế Lan Viên)

Lúc chưa biết gì về thế giới, người đầu tiên ta gọi là mẹ. Đến lúc tưởng như đã hiểu hết về đời, tiếng mẹ vẫn là lời còn đó, đôi khi cả đời người cũng chưa thể học xong.
Tiếng “mẹ” bật ra từ môi như một phản xạ, là tiếng gọi phổ thông nhất nằm giữa rất nhiều những tiếng gọi khác trong tiếng Việt như má, u, bu, bầm, mệ, mế, mụ, mạ… Nhóm phụ âm môi (b-ph-v-m) là thứ âm thanh trẻ con dễ bắt chước nhất khi học nói. Vì vậy những từ để gọi người thân như mẹ, bà, ba, bố... đều khởi đầu bằng những âm này.
 

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

PHẠM THIÊN THƯ QUYẾT “GIỐNG” CỤ NGUYỄN DU - Tuệ Lãng

Vô cùng thương tiếc nhà thơ Phạm Thiên Thư, tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người 'thi hóa kinh Phật' vừa từ trần vào 16 giờ 15 phút chiều nay, 7-5- 2026

Phạm Thiên Thư,  khoái nhất là chuyện ông "rất giống" với cụ Nguyễn Du. Ông kể một tràng: "10 tuổi bố Nguyễn Du mất, tớ cũng vậy. Mẹ Nguyễn Du là một người phụ nữ đất quan họ Bắc Ninh, vợ lẽ dòng thứ hai. Gia đình cụ Nguyễn có bốn anh em, cụ lại sinh hạ được bốn người con (?). Tớ cũng y chang như vậy". Ông còn tâm đắc kể thêm "cụ Nguyễn và tớ đều là tú tài. Cụ Nguyễn lưu lạc 10 năm ở Thái Bình, còn bố tớ quê chính cũng là Thái Bình. Cụ Nguyễn mất năm 1840 (?), đúng 100 năm sau, 1940 tớ ra đời…".

Đọc những bài thơ tình của Phạm Thiên Thư, không ai nghĩ ông đã từng trên 10 năm xuất gia tu hành nơi cửa Phật.

"Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao"
                                   (Động hoa vàng).

Tiếng kêu của loài dị điểu trong thơ ông thật bi thảm, vừa cất lên đã rụng xuống dòng sông rộng. Cái chết sinh ra để phụng hiến tình yêu. Yêu đến buồn chết, thật là khó để người đời hình dung một tu sĩ có đời sống phong kín nơi cảnh chùa lại có ý nghĩ như vậy.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

LUẬN VỀ... TIỀN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến


  

 
LUẬN TIỀN
 
Tiền trao tráo nửa nụ cười
Là bao ân nghĩa cả đời đi tong
Lòng người cuộn nước đục trong
Chữ tâm phó mặc tiền đong phận người.
 
Hà Nội, sáng 21 tháng 04/2026
 
 
LUẬT TIỀN
 
Vì tiền mà đến với nhau
Rồi sau cũng lại hại nhau vì tiền
Thế thời đã sẵn đảo điên
Lụy tiền tiền ắt sẽ nghiền kẻ chơi.
 
Hà Nội, 19 tháng 04/2026
 
 
LỤY TIỀN
 
Kẻ tham danh, đứa hám tiền
Dụ nhau vào cuộc đảo điên chợ đời
Tình thân đã bán rẻ rồi
Đức tài chỉ lớp vỏ bồi giả trang.
 
Hà Nội, chiều 22 tháng 04/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

ĐOÀN THƯỢNG, MỘT TƯỚNG LÃNH CÓ KHÍ PHÁCH CUỐI TRIỀU LÝ – Bài viết của Cảnh



Giữa lúc nhà Lý đã nghiêng ngả, có một người vẫn giữ đất, giữ quân và giữ lòng trung với triều cũ đến tận phút cuối. Người đó là Đoàn Thượng.
 
Trong giai đoạn cuối triều Lý, khi triều đình trung ương gần như mất khả năng kiểm soát, các thế lực địa phương nổi lên khắp nơi, lịch sử Đại Việt bước vào một thời đoạn vô cùng rối ren. Giữa bối cảnh ấy, Đoàn Thượng là một nhân vật rất đặc biệt. Trong chính sử, ông có thể bị nhìn như một hào trưởng cát cứ, một sứ quân làm đất nước thêm chia cắt. Nhưng trong ký ức dân gian, nhất là ở vùng Hồng Châu xưa, ông lại được nhớ đến như một con người có khí phách, có thực lực và có lòng trung nghĩa rất rõ rệt.