BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2026

GIẾNG XƯA – Thơ Đặng Xuân Xuyến


   

(Viết tặng chị Trịnh Thị Nhâm)
 
Giếng xưa trơ đáy cả rồi
Chị còn thơ thẩn đứng ngồi với xưa
Chị nào hờn trách nắng mưa
Chỉ là trăng khuyết như vừa vặn đây.
 
Một đời sương gió hao gầy
Chị ngồi gọi nhớ cho đầy giếng xưa
Vọng từ xa tiếng đò đưa
Chị đan giọt nắng vào trưa tháng Mười.
 
Ai về cho gửi tiếng cười
Gửi theo giọt nắng rạng ngời ngõ xưa
Mà nghe tiếng vọng nhặt thưa
Chị mời gáo nước giữa trưa tháng Mười.
 
              Hà Nội, sáng 30 tháng 10/2026
                   ĐẶNG XUÂN XUYẾN

THU HÀ NỘI 2026 - Thơ Nguyễn Khôi


 
      
“Hà Nội mùa thu “ chẳng có thu ,
Nắng nóng, bụi toang tỏa sương mù .
Lớp lớp Cao tầng ngoi lên thở,
Còn khoảnh trời nào để cho Thơ ?

                    Nguyễn Khôi
        (Hà Nội , 31/10/2026- 33oC)

LÀM BÁO VĂN NGHỆ (KỲ 3) - Hồi ký Nguyên Ngọc (trích)

                                                                           Tòa soạn báo Văn Nghệ

Lê Ngọc Trà mở đầu bài viết của mình nhẹ nhàng, thận trọng, nhưng liền đó cũng tỏ ngay ý muốn bàn lại chuyện này một lần cho rành rõ. Anh viết: “Mấy chục năm qua đất nước chúng ta sống chủ yếu bằng đời sống chính trị. Cách mạng, chiến tranh, các sự kiện chính trị, sinh hoạt chính trị đi vào cuộc sống hằng ngày. Mọi thứ đều được đo bằng chính trị… Do tầm quan trọng của nó, vấn đề chính trị và văn nghệ trở nên một đề tài có cái gì như là hơi “thiêng”, và vì vậy ít người dám bàn hoặc giả có bàn thì cũng chỉ nói một cách kính cẩn. Mà trong khoa học đã cung kính như thế thì khó có thể có ý kiến gì cho mới mẻ, sáng tạo…”. Tức anh bảo ta nên thử giải “thiêng” mà nói chyện này một cách trần tục hơn, tức thật hơn, đời hơn, xem sao. Và anh nói thẳng: “Chính trị là cái cốt yếu quan trọng của xã hội, nhưng cuộc đời rộng hơn chính trị…”.
Mà văn học thi nói về cuộc đời, nên nó rộng hơn chính trị. Rộng hơn và lâu dài hơn.

XUÂN PHÂN, HẠ CHÍ, THU PHÂN VÀ ĐÔNG CHÍ - Bài viết của Thi Lê



Chiều nay mấy cậu học sinh cũ của tôi ngồi nhậu cãi nhau chuyện thiên văn. Có em gọi điện cầu cứu: "Thầy ơi vì răng ngày giữa mùa Xuân, mùa Thu thì gọi là Phân (Xuân phân,, Thu phân) mà ngày giữa mùa Hạ và mùa Đông thì lại gọi là ngày Chí (Hạ chí, Đông chí). Thầy đăng lên fb lời giải thích (ngắn gọn) chứ bọn em chừ "líu lưỡi" cả rồi. Nghe qua điện thoại không nhớ để cãi". Xin trả lời mấy ông "đệ tử" của Lưu Linh thân yêu.

NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ - Kim Khánh (theo Fb Phannguyên Psg



Doãn Quốc Sỹ sinh năm 1923. Cha ông là Doãn Hưu, một nhà nho và người em trai của ông là Doãn Nho (Doãn Nho là nhạc sĩ, Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, tác giả của các bài hát Tiến bước dưới quân kỳ, Người con gái sông La, Năm anh em trên một chiếc xe tăng, Chiếc khăn Piêu...)
Năm 1946, Doãn Quốc Sĩ lập gia đình với con gái nhà thơ Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) là bà Hồ Thị Thảo. Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào Nam.
Ông dạy học, là giáo sư trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn, Đại học Văn Khoa Sài Gòn và viết văn, làm thơ. Ông du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và rồi trở về nước tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975.

PHẠM HUỲNH TAM LANG: HUYỀN THOẠI KHIẾN CẢ BÓNG ĐÁ VIỆT NAM NGẢ MŨ - Theo iThethao TV



Hơn nửa thế kỷ qua, bóng đá Việt Nam đã chứng kiến biết bao tài năng xuất chúng, những con người góp công đưa nền bóng đá nước nhà từng bước khẳng định vị thế. Nhưng giữa rất nhiều huyền thoại ấy, Phạm Huỳnh Tam Lang luôn chiếm một vị trí đặc biệt. Ông không chỉ là một trung vệ xuất sắc, một nhà cầm quân tài ba mà còn là hình mẫu hiếm có về nhân cách, sự khiêm nhường và tinh thần trách nhiệm. Với đồng nghiệp, ông là người đáng kính. Với các thế hệ cầu thủ, ông là người thầy tận tụy. Còn với người hâm mộ, ông là biểu tượng của một thời bóng đá đẹp, nơi tài năng luôn song hành cùng đạo đức và sự tử tế. Khi ông qua đời ngày 2/6/2014, bóng đá Việt Nam mất đi một cây đại thụ, nhưng những giá trị ông để lại vẫn còn nguyên vẹn trong lòng những người yêu môn thể thao vua.

BÓNG QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng


   

Bóng  Quê
 
1.
Bao năm người mới quay về
Tìm làng xóm cũ, tình quê ngập lòng…
Đò ngang rời bến rạng đông
Nắng vàng soi bóng xuống dòng sông sâu
Trời xanh, xanh thẳm một màu
Bãi ngô tươi lá, ruộng dâu xanh trời
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi ngọt lành
Con đường nhỏ, lũy tre xanh
Ngã nghiêng bóng nắng, chòng chành tỉnh say
Đồng vàng thẳng cánh cò bay
Em tôi gánh lúa, gánh đầy ước mơ
Cánh diều bay bổng vào thơ
Cánh cò cõng nắng đơn sơ một mình
Nắng qua kẽ lá lung linh
Rơi trên áo tím chung tình tươi xinh…
 
2.
Bâng khuâng đồng vắng một mình
Hình như lòng đã say tình chơi vơi
Người về giờ đã cuối đời
Bên sông rụng tím một trời hoa Mua…
Quê hương mưa nắng hai mùa
Mẹ già gánh cả nắng mưa vơi đầy
Áo tơi, nón lá, vai gầy
Lo toan cơm áo những ngày… xa xưa
Mẹ đi cùng nắng, cùng mưa
Tảo tần, vất vả sớm trưa lưng còng
Một đời ngô lúa nghề nông
Mồ hôi đổ xuống cánh đồng vàng tươi…
Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng mẹ trong tôi nhớ hoài
Nợ Người chữ Hiếu không phai
Một bông hồng trắng… con cài Vu Lan…
  
                    Nha Trang, tháng  10. 2026 
                             Lê Kim Thượng

VÀI CHUYỆN BÌNH THƠ VĂN – Bài viết của Đặng Xuân Xuyến



Tôi nhớ có lần gặp bài nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Hữu Quyền bình thơ của ông trên trang facebook cá nhân. Tôi đọc rất thích nhưng lúc đó có việc gấp, vội quá tôi không kịp lưu lại để đọc thêm nên cứ tiếc mãi. Xưa nay, thường là người này bình thơ cho người kia, người kia bình thơ cho người kia nữa chứ trường hợp tự bình thơ của mình như nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Hữu Quyền thì (hình như) thật hiếm. Người ngoài nhìn vào có thể sẽ băn khoăn, e ngại chuyện “tự hát tự khen” nhưng đã đọc bài ông tự bình thơ của mình tôi lại rất thích vì hiểu được ý đồ và những nỗi niềm ẩn trong con chữ mà nếu không có gợi mở từ ông thì người đọc khó giải mã chính xác. Đọc ông viết, tôi không thấy những câu phân tích khô khan về niêm luật, về ý tứ mà như thấy tác giả đang tự mổ xẻ chính mình, như nghe được, cảm được cái run rẩy rất thật của người làm ra những câu chữ đó. Tôi nghĩ, khi chính tác giả tự bình thơ của mình, sẽ có những ưu điểm mà không một nhà phê bình nào làm được:

CHÙM THƠ TỨ TUYỆT THÁNG 11 – 2026 CỦA NGUYỄN KHÔI


  
 

1/ XÓM QUÊ
Những dãy nhà xây vắng bóng người,
bỏ Quê lên Phố sống cả rồi.
Trai gái phương trời nơi Xuất Khẩu,
Đình chùa rêu phủ Bướm dong chơi.
 
2/ TRÚC XINH
Trúc xinh trúc đứng một mình
Trúc đi Xuất khẩu để Đình trơ vơ
Lối ao nào có ai chờ
Hoa xoan tím rụng chẳng hờ dấu chân.
 
3/ GIẾNG XƯA
Giếng xưa soi bóng ta mình
Ao xưa tắm lội lung linh trăng thề
Bao năm về lại thăm quê
Chẳng đâu còn giếng nằm kề bên ao.
 
4/ El NINO
Bằng lăng, Phượng nở trái mùa
Cuối thu nắng nóng hóng chờ sang đông
Ngày xưa sợ Nắng miền Trung
Nay thì đội nắng Hồ Gươm vỡ đầu.
 
5/ HIỆU ỨNG MATTHEW
Người ta tranh chấp Mỏ dầu
Đạn bom tên lửa vỡ bầu trời yên
Người giầu thì lại giầu thêm
Để cho điên đảo Dân đen mơ giầu.
 
                        Hà Nội, 2-11-2026
                            Nguyễn Khôi

MỘT PHẦN BẢN TỰ KIỂM ĐIỂM CỦA "NHÀ TRIẾT HỌC DUY NHẤT NGƯỜI VIỆT" TRẦN ĐỨC THẢO – Theo Face book Duong Thang


Triết gia Trần Đức Thảo

Ông phải bị áp lực như thế nào mới viết ra bản tự kiểm thảo theo mẫu như thế này!
Trước ông, và sau ông cho đến nay, xứ Việt ta chưa xuất hiện nhà triết học thứ hai!
Cuối đời ông được sang Pháp danh nghĩa dưỡng bệnh và chết tại Paris trong nỗi cô đơn và bệnh tật!
 Ông đúng là một người
OANH - LIỆT.
Mà đoạn bị "liệt" quá dài!

CHỮ HÁN, ÂM ĐỌC HÁN VIỆT – Theo Tri Thư Đạt Lễ



Trong tiến trình tiếp xúc văn hoá, nhiều yếu tố ngôn ngữ, đặc biệt là từ vựng tiếng Hán đã du nhập vào tiếng Việt. Những yếu tố vay mượn này được người Việt tiếp nhận, biến đổi và đồng hóa, qua thời gian dần hình thành nên hệ thống lớp từ có số lượng lớn là từ Hán Việt, được sử dụng rộng rãi và ổn định trong tiếng Việt hiện nay.
Có thể nói từ Hán Việt và từ vựng tiếng Hán hiện đại vẫn duy trì mối quan hệ họ hàng gần gũi, do cùng bắt nguồn từ một gốc chung trong lịch sử tiếng Hán. Song do sự khác biệt về lịch sử, văn hóa và lối tư duy của hai dân tộc qua thời gian nên giữa tiếng Hán, âm Hán Việt và từ Hán Việt tồn tại những khác biệt quan trọng. Cần phân biệt chúng như sau:

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

HUYỀN THOẠI PHẠM VĂN RẠNG: NGƯỜI GÁC ĐỀN VIỆT NAM TỪNG KHIẾN VUA BÓNG ĐÁ PELE BÓ TAY! - Theo iThethao TV



Trong lịch sử bóng đá Việt Nam, có những cái tên chỉ cần nhắc đến cũng đủ khiến bao thế hệ người hâm mộ bồi hồi, tự hào. Phạm Văn Rạng chính là một huyền thoại như thế! Ông không chỉ là một thủ môn xuất sắc của bóng đá Việt Nam mà còn từng khiến giới chuyên môn và truyền thông quốc tế phải dành sự ngưỡng mộ. Biệt danh “Lưỡng thủ vạn năng”, hay danh xưng “Đệ nhất thủ môn Á châu” cùng những câu chuyện được lưu truyền về tài năng của ông đã tạo nên một tượng đài đặc biệt trong ký ức bóng đá nước nhà.

ĐỒNG ÂM MINH TINH 明星, 銘旌 - Tri thư đạt lễ


Trong tiếng Việt, minh tinh là một từ vựng đặc biệt với hai nguồn gốc và hai nét nghĩa hoàn toàn khác nhau, với một nghĩa dùng để chỉ người nổi tiếng, nghĩa còn lại thì liên quan đến nghi thức tang lễ truyền thống.

Theo ý nghĩa quen thuộc được sử dụng rộng rãi hiện nay, minh tinh được viết là 明星. Trong đó, Minh 明 có nghĩa là sáng sủa; còn Tinh 星nghĩa là ngôi sao. Ban đầu trong sách cổ Trung Quốc, minh tinh dùng để chỉ sao Kim, tức thần Vệ Nữ. Trải qua quá trình phát triển ngữ nghĩa, từ này được dùng để chỉ những phụ nữ nổi tiếng trong xã hội, rồi mở rộng để gọi những người có sức ảnh hưởng trong một lĩnh vực nhất định như diễn viên, ca sĩ, nghệ sĩ hay vận động viên nổi tiếng. Tiếng Việt đã tiếp nhận trọn vẹn lớp nghĩa này. 

Và, ít người biết rằng, trong tiếng Việt còn có một chữ minh tinh khác, được viết là 銘旌.
 

                    

Minh 銘 nghĩa là khắc, ghi chép. Bài "bi minh" khắc trên bia mà ta nghe chính là chữ Minh này. Tinh 旌 là lá cờ, gặp trong từ tinh kỳ. Minh tinh theo nghĩa trên chỉ một dải lụa buộc vào cành tre, trên đó ghi thông tin như tên họ, thụy hiệu, chức tước, học vị của người đã khuất. Theo phong tục xưa, minh tinh được dựng ở phía đông linh sàng. Khi đưa tang, người ta cầm minh tinh đi trước quan tài, đến lúc hạ huyệt thì phủ dải lụa ấy lên quan tài.

                       

Ngày nay, minh tinh với ý nghĩa này ít được sử dụng hơn, dẫu vậy thì dấu vết của lớp nghĩa này vẫn còn được lưu giữ trong văn học dân tộc:

“Cóc chết lại có minh tinh,
Thất nghiệp nằm đình có trống cầm canh.”
                                                    (Ca dao)
 
“Non nước tan tành hệ bởi đâu?
Rầu rầu mây bạc cõi Ngao Châu
Ba triều công cán vài hàng sớ,
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu.
Ải Bắc, ngày trông tin nhạn vắng,
Thành Nam đêm chạnh tiếng quyên sầu.
Minh tinh chín chữ lòng son tạc,
Trời đất từ đây mặc gió thâu!”
                             (Nguyễn Đình Chiểu)

                                                       Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮

GIÁO SƯ HOÀNG XUÂN HÃN, NGƯỜI CÓ HỌC THỨC THẬT, GIỎI THẬT KHI LÀM LÃNH ĐẠO - Nguyễn Thị Bích Hậu

Người trong hình là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và mỹ thuật của chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945. Thành tựu của cụ trong 4 tháng làm Bộ trưởng ngắn ngủi là làm ra cho nước ta chương trình trung học đầu tiên dạy bằng Việt ngữ. Cụ cũng là người làm ra cuốn sách các danh từ khoa học bằng tiếng Việt đầu tiên giúp người Việt có các từ này để sử dụng tới bây giờ. 
 

Khi người tài làm Bộ trưởng Giáo dục, trong 4 tháng họ làm được gì?
 
Cụ Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thuở nhỏ cụ học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. 18 tuổi, cụ đậu bằng Thành chung, ra HN học trung học tại trường Bưởi, sau đó 19 tuổi cụ chuyển qua học Toán ở trường Lycée Albert Sarraut. Một năm sau, cụ đỗ thủ khoa tú tài toàn phần Pháp và nhận học bổng qua Pháp học. Cụ theo học tại trường Bách khoa Paris, sau đó học trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris). Từ năm 1934 đến năm 1936 Hoàng Xuân Hãn trở lại Pháp sau 4 tháng về nước, học và đậu cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne.
Học cao hiểu rộng, năm 1936 cụ về nước dạy trường Bưởi, hoàn tất cuốn Danh từ khoa học đầu tiên của VN, "một công trình rất đặc sắc để “khai đường mở lối” cho nền học thuật bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ. Năm 1942, sách ra đời. 
 

DÒNG ĐỜI – Thơ Lê Kim Thượng


   


Dòng Đời
1.
Đưa tay vuốt mái tóc em
Sợi thương, sợi nhớ nhẹ mềm trong anh
Tiếng em giọng nói thanh thanh
Dịu dàng hai tiếng “Em…Anh…” ngọt ngào
Giữ tình chẳng để hư hao
Sắt son thề hẹn trước sau một lòng
Tặng en chín chín đóa hồng
Tình yêu tha thiết tấm lòng tinh khôi
Gió đưa tà áo buông lơi
Trắng màu trinh nữ, mây trời bay bay
Thề bồi “Muối mặn… gừng cay…”
Đậm đà tha thiết đắm say tình nồng
Tình yêu, yêu thật một lòng
Vượt qua gian khổ chờ mong tháng ngày
Người yêu nửa tỉnh, nửa say
Nụ hôn đằm thắm, vòng tay ấm nồng…
 
2.
Còn gì nhớ nhớ mong mong
Cuộc tình rơi xuống giữa dòng đời trôi
Con tim thao thức bồi hồi
Sao nghe tê tái đơn côi một mình
Lỡ vay em một mối tình
Trăm năm chưa trả, riêng mình, riêng đau
Bao giờ cho hết mưa Ngâu
Ngưu Lang – Chức Nữ qua cầu thành đôi
Xưa rồi lâu lắm xa xôi
Một thời hạnh phúc, một thời yêu xa
Ngày em làm vợ người ta
Thơ tình gói lại làm quà trao tay…
Mừng vui gặp lại hôm nay
Vẹn nguyên kỷ niệm những ngày thương đau
Mười năm mới gặp nhau
Tóc xưa nay đã bạc màu thời gian…
 
                              Nha Trang, tháng  07. 2026
                                    LÊ KIM THƯỢNG

CHUYỆN CŨ CHƯA CŨ – Đặng Xuân Xuyến



Một ngày cuối tháng 6 năm 2020, Nguyễn Đăng Hành bảo tôi: Chú làm bài cho Tết âm lịch như “Tưng tửng 7 chuyện...” đi. Tôi mặc cả: - Nhưng anh là nhân vật chính và em sẽ kể thật đến 90%. Nguyễn Đăng Hành cười: - Chú vô tư đi. Anh nghe chửi quen rồi.

QUAN PHU 鰥夫 – Theo trang “Ngày ngày viết chữ”

       
                 


Hôm trước giới thiệu từ “tục huyền”, có bạn nói mình biên từ “quan phu” nữa nha, nên giờ có bài này.

“Quan phu”, chữ Hán viết là 鰥夫, trong đó:

– Quan là người goá vợ, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “người goá vợ, người lớn tuổi mà không có vợ”. Trong bản Gia huấn ca (được cho là) của Nguyễn Trãi có câu:

Thương người quan quả cô đơn,
Thương người lỡ bước lầm than kêu đường*.

Trong đó “quan” 鰥 là người goá vợ, “quả” 寡 là người goá chồng, “cô” 孤 là mồ côi cha mẹ, “đơn” 單 (chính ra là “độc” 獨 nhưng vì niêm luật thơ mà ở trên dùng “đơn”) là già không con cái. “Quan quả cô độc” được gọi là “tứ cùng” (四窮), tức bốn nhóm người có tình cảnh đáng thương hơn cả theo quan niệm xưa.

– Phu là chồng, người chồng, người đàn ông như phu thê (夫妻) là vợ chồng, vị hôn phu (未婚夫) là chồng chưa cưới, tiều phu (樵夫) là người đốn củi.

“Quan phu” là người đàn ông goá vợ, cũng có thể chỉ người đàn ông lớn tuổi mà không có vợ. Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ giảng “người đàn ông độc thân, ở một mình, không vợ”. Ứng với “quan phu” là “quả phụ” (寡婦), nghĩa là người đàn bà goá chồng.

Bài Hạ trung tiếp đáo khuê vi hung tấn ai cảm kỷ thực (Giữa mùa hạ nhận tin vợ mất, ghi lại nỗi đau buồn) của Phan Huy Ích có câu:

Ky tình bôn phó vị tri kỳ,
Thiên lý quan phu trường uất kết.
 
羈情奔訃未知期,
千里鰥夫腸鬱結。
 
Tạm dịch: 
  
Thương xót nơi xa nào bày tỏ,
Ngàn dặm quan phu dạ kết sầu.
….
* Cũng có bản chép “Thương người đói rét/đói rách lầm than kêu đường”.
                                                       Theo trang “Ngày ngày viết chữ”

HUYỀN VŨ - NGƯỜI TƯỜNG THUẬT ĐÁ BANH HẤP DẪN QUA ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN TRƯỚC 1975 – Văn Quang

 Nhớ Huyền Vũ
Bài viết của nhà văn Văn Quang (1). Xin chia sẻ lại trong lời cảm ơn.                                                                                 
                                                                                  Trịnh Anh Khôi


Đã từ lâu, tôi (Văn Quang - TAK chú thích) vẫn đinh ninh rằng “ai cũng có thể thay thế được, dù cho đó là một thiên tài”. Nhưng đến hôm nay thì tôi nghĩ khác: “Có một người mất đi mà khó có ai thay thế được”.

Và cũng chắc chắn đã có khá nhiều bài viết về ông Huyền Vũ. Nhưng người ở Sài Gòn thì chưa chắc đã có ai viết về sự kiện này. Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà tôi viết về ông, tôi viết vì có một bổn phận thôi thúc phải viết, một tiếng nói của người hiện còn đang sống ở Sài Gòn tưởng nhớ và thương tiếc ông. Tôi không là đại diện cho ai cả, tôi viết với tính cách của một “fan” của ông cùng với một số bạn bè tôi, với nỗi tiếc thương.

CUNG TIẾN VÀ BẢN NHẠC HOÀNG HẠC LÂU – Bài viết của Đỗ Viết Thanh

                   
           


Cung Tiến là một nhạc sĩ tài hoa của âm nhạc miền Nam, một trí thức trầm lặng, một nhà phê bình  nghiên cứu và dịch thuật (ký tên Thạch Chương) khi cộng tác với nhóm Sáng Tạo. Cung Tiến không chỉ là một nhạc sĩ, ông là nhà trí thức nghệ thuật có mối quan tâm rộng lớn hơn âm nhạc.
Ông bắt đầu sáng tác nhạc lúc còn rất trẻ, năm 15 tuổi đã viết Thu Vàng và Hoài Cảm, tuyệt tác âm nhạc.

HUẾ, XỨ CỦA MẮM TÔM CHUA VÀ HẾN – Bài viết của Trần Hòa



Tối qua rảnh rỗi, tôi thức khuya coi hết tập 2 của chương trình ‘Quán Nhà Ha Ha’ phát sóng mỗi tối thứ Bảy hằng tuần trên YouTube. Vì Hàn Quốc trước Việt Nam 2 tiếng nên tôi phải thức khuya để coi cho hết.
 
Tổng kết những ấn tượng của tôi về chặng đường ở Huế này là ly chè ở chợ quê có giá 5000 đồng (chưa tới 20 cent Mỹ); O chủ nhà tự làm mắm tôm chua rất độc đáo, và những phương ngữ rất Huế mà dàn nghệ sĩ miền Nam và miền Bắc nghe qua không hiểu được.
 

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC HOÀI THANH TRONG HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

Trong Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh (chương XI dành riêng về Hoài Thanh), giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh ghi lại những kỷ niệm, ấn tượng và quan sát cá nhân về nhà phê bình văn học Hoài Thanh qua các giai đoạn...

Vợ chồng nhà phê bình Hoài Thanh (1909.1982) những ngày công tác ở Huế.
Ảnh: Tạp chí Sông Hương.

Tôi được tiếp xúc với Hoài Thanh nhiều lần.
Hồi công tác ở một cơ quan của Tỉnh đảng bộ Thái Nguyên, tôi đã được nghe ông nói chuyện về thơ kháng chiến, tại một địa điểm ở thị trấn Phúc Trìu. Tiếp đó tôi học ở trường sư phạm trung cấp trung ương (đóng ở Chợ Ngọc, Tuyên Quang). Ở đây tôi lại được nghe ông nói về đề tài ấy một lần nữa. Cả hai lần đều vào năm 1949.
Khi tôi về học ở Đại học sư phạm Hà Nội (từ 1957 – 1960) thì ông đến dạy mấy bài về văn học Việt Nam thời trung đại: Kiều, Cung oán, Hoa Tiên, Phan Trần...

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2026

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO THỜI HIỆN ĐẠI – Trần Kiêm Đoàn



Một trường hợp tham khảo (Case study).
 
Rất cảm kích, nhưng thật tình trong đầu tôi cũng gợn lên một chút ý nghĩ dí dỏm khi đạo hữu Như Hiền, trưởng nhóm Cư sĩ Học Phật ở Canada, gọi tôi là “Trưởng lão cư sĩ Nguyên Thọ”. Lần đầu nghe danh xưng ấy dành cho mình, tôi vừa vui vì tình thân kính, vừa tự hỏi: tuổi già thì đã đến thật rồi, nhưng việc học đạo của mình đã theo kịp tuổi tác hay chưa?
 

CHUYỆN SỐ NGƯỜI, SỐ MÌNH – Đặng Xuân Xuyến



Chặp trước, H.T điện đến nhờ tôi xem lá số cho thằng em trai, sinh năm Bính Dần (1986), hỏi xem năm nào thì nó mới chịu cưới vợ. Vốn dĩ, tôi chỉ là người nghiên cứu về Tử Vi, kiến thức từ tự học cũng không được nhiều, lại không phải là người có số làm thầy nên xưa nay vẫn tự răn mình không được tùy tiện xem số cho người khác kẻo phạm vào điều cấm kỵ "Thiên cơ bất khả lộ". Thế nhưng, phần vì mối quan hệ đặc biệt giữa tôi với H.T, phần không chịu nổi những lời nài nỉ của H.T, tôi đành tặc lưỡi ngồi ngắm nghía lá số của em trai H.T để có đôi lời luận giải. Lúc đấy, qua điện thoại, H.T cứ cằn nhằn chuyện yêu đương của em trai có “vấn đề nặng”, người ta mai mối cho bao nhiêu đám tốt mà tối ngày nó vẫn cứ nằm không một mình. Bố mẹ thì đã già nên mong cậu con trai nhanh nhanh cưới vợ để ông bà sớm có đứa cháu bồng bế cho vui cửa vui nhà.
 

TẶNG EM NHÉ MỘT ĐOÁ HOA MẦU TRẮNG – Thơ Quách Như Nguyệt


   
 
Tặng em nhé… một bó hoa mầu trắng
 
Người thương ơi, sáng nay nghĩ đến anh
Nghĩ đến vô thường, nghĩ đến ngày nằm xuống
Nước mắt rơi nhưng tim em không lạnh
Thấy ấm nồng, đời đẹp lắm mầu xanh
 
Cảm ơn anh và bó hoa gửi tặn
Hoa hồng nhung tuần lễ cuối tháng Mười
Anh dễ thương vì luôn nghĩ đến em
Bảo sao em không thỉnh thoảng mĩm cười
 
Luôn ước mình sẽ là người đi trước…
Vẫn mong anh đừng quá đỗi muộn phiền
Đời sống này ngắn ngủi, lắm phước duyên
Ta hãy sống từng phút giây hạnh phúc,
 
để đến lúc ra đi mình chúc phúc
Mừng cho nhau thoát khỏi kiếp hiện tiền
 
Khi em đi… đừng đau buồn anh nhé
Đừng tìm đọc thơ em rồi nhỏ lệ
Nên cảm ơn đời sống không gì tệ
Một đời người! chẳng qua…một cơn mê
 
Tặng em nhé, một bó hoa mầu trắng
Mầu em yêu, hôn nhé…một đóa hoa
Khi ngắm trăng, đừng nước mắt chan hòa
Mà nhớ lại những ngày ta hạnh phúc
 
Mây trắng, ánh trăng, mùa Xuân hoa cúc
Hạ đỏ, nắng vàng, thảm cỏ êm chân
Tháng Mười mùa Thu, tay nắm ân cần
Đông tuyết trắng, đông lạnh lùng thi vị
 
Bó hoa trắng, -ngày em đi giản dị
Xin anh đừng buồn khổ mà chi
Ta chỉ có một cuộc đời để sống
Sống hết mình, khỏi tiếc nuối khi đi
 
                            Quách Như Nguyệt
                               Oct 30th, 2018

SIN SUỐI HỒ YÊU, ĐÊM 20 - Thơ Châu Thạch


   


SIN SUỐI HỒ YÊU!
        
Em đến Sin Suối Hồ
Cảnh Thiên Đàng trên núi
Đất trời không chút bụi
Ta thấy em thần tiên
Áo bay trời thanh thiên
Tóc mùi hương quyến luyến
Bước em đường mây quyện
Ta yêu đời như nhiên
Nắng trên trời nhung lụa
Tơ vàng bay muôn tủa
Mắt xanh màu núi biếc
Em là hoa bốn mùa
Sin Suối Hồ mây bủa
Ngũ sắc chân trời xa
Em đứng gần bên ta
Ta nghe rừng thở lặng
Làm bài thơ ta tặng
Một đỉnh núi quang vinh
Em và ta cuộc tình
Nơi đây không trái cấm!
 
          
ĐÊM 20!
 
Đêm 20, đêm tháng 10 ấm áp
Ta bên em nằm nhớ tuổi 20
Tuổi của yêu và của những tiếng cười
Yêu từ dưới ngón chân lên sợi tóc
Da em tựa như da trời trăng mọc
Mịn lông tơ xếp rẽ quạt từng hàng
Tóc em dài uốn lọn thật là sang
Hơi em thở hương hoa quỳnh thơm ngát
Ta yêu chết, yêu si, yêu dào dạt
Yêu như điên, như dại, với như khùng
Tạ ơn trời còn mãi khối tình chung
Nửa thể kỷ tình vẫn còn như mới
Đêm 20 đêm tháng 10 đang tới
Sóng tình xưa xao động mặt hồ nay
Ta nằm yên cho hương nhụy tràn đầy
Chìm giấc ngủ trong mối tình chung thủy!

                                               Châu Thạch