BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

HƯ VÔ – Thơ Đặng Xuân Xuyến


   

(Với Nguyễn Toàn Thắng)

Ừ, thì thêm vài chén
Cho tỉnh chìm vào say
Ta đã ngán loay hoay
Đến đâu? Từ đâu đến?
 
Ừ, đời là chuỗi bến
Chỉ âm thầm đổi ga
Cõi trần xoay hối hả
Nụ cười hằn vết nhăn
 
Ừ, kiếp sống khó khăn
Gán niềm tin cá độ
Đời đã là bể khổ
Thôi, trả về hư vô..
 
Hà Nội, sáng 13 tháng 9/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

BÀI THƠ THÁNG CHÍN, HẠNH PHÚC KHI ĐỜI CẠN KHỔ ĐAU – Thơ Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


   

Bài Thơ Tháng Chín
 
Chiếc bóng hoàng hôn dần xuống thấp
mùi cau gió thoảng dịu dàng hương
gà con chiu chít quanh gà mẹ
họat cảnh yên bình thật dễ thương …
 
Nét họa khắc sâu từ tháng chin
khơi gợi hồn ta những nhớ nhung
lăn tăn gợn sóng lùa hoa súng…
trăng gió giao thoa nước lạnh lùng
 
Hành trang trỉu gánh quê hương nặng
há dễ nào phai nhạt cõi lòng
cho dù xa nửa vòng trái đất
quyến luyến theo ta tận chốn cùng …
 
Nghe từ gió lạnh đầu mùa đến
nước ngập mênh mông phủ láng đồng
mưa rơi thấm ướt bờ vai mỏng
lắm kẻ đan bè đợi bến sông ...
 
Ta từ lánh nạn đời xa xứ
nương cuộc trầm luân cõi tạm dung
rán quên cố sự tang thương cũ
dấu kín niềm đau xé nát lòng !
 
Ghi lại đôi vần thơ tháng chín
gởi giữa tầng không hỏi gió mây
ai thấu cho mình đời lãng từ
còn ai cảm hết nỗi niềm đây !
 
Tháng chín vườn xưa ngày tuổi mộng
nắng sớm hoe vang tiếng dế mai
hàng tre chênh chếch chiều nghiêng gió
ngõ xóm quanh co,  bãi cát dài…
 
Tháng chin nước dâng đàn cá nhảy
là lệ khai mùa lũ mỗi năm
truyền rằng tháng chín ngày “trùng cửu”
không mưa “điềm” dở bán cày ăn (*)
 
Ngồi buồn lại nhớ mưa tháng chín
nhớ cảnh ngày xưa mước lụt tràn
nhớ cảnh đồng xa cò sải cánh
nhớ vườn nhớ rú nhớ miên man…
 
Tháng chín đem về nợ gió mưa !
tuổi già thân cũng phải sang mùa
đời cũng xế chiều nghiêng bóng đỗ
nhắc chuyện cảm hoài tháng chín xưa !
 
                    Hạ Thái Trần Quốc Phiệt
Từ thung lũng Hoa Vàng Jul 17/2026.
 
(*)  “Mồng chín tháng chin không mưa
         Cha con bán cả cày bừa mà ăn
                                                (ca dao)

NHÀ THƠ HỮU LOAN – Thơ Nguyễn Khôi

Lời thưa:
Nhân sự kiện dân làng quê xếp hàng khuân đá Xây mộ Nhà thơ Hữu Loan, Nguyễn Khôi có đôi vần cảm tác


“Sống đập đá sống nhờ bán đá,
Chết, bà con xếp đá xây mồ .
Những nòi Ác bá xin đừng đến,
Để đá Thanh Hoa xanh hồn thơ”.
 
                  Hà Nội 15-9-2026
                    Nguyễn Khôi
……

- Thanh Hoa là tên cũ của Xứ Thanh , sau Nhà Nguyễn kỵ huý , bắt đổi là Thanh Hoá.

BỐN THÁNG TRÊN ĐẢO HOÀNG SA – Hồi ký của Hoa Nghiêm

Một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa ghi lại những ngày nhọc nhằn lẫn thích thú khi theo gót Robinson Crusoe sống một thời gian trên hòn đảo hoang vắng.
 
Ảnh chụp bài viết trên bán nguyệt san Thời Nay số 284 (1972)
 
Đại đội chúng tôi còn năm hôm nữa sẽ xuống tàu ra đồn trú ở đảo Hoàng Sa. Đơn vị chúng tôi là đại đội tiếp lực đóng tại Vĩnh Điện thuộc Tiểu đoàn X. Sau những năm dài vào sinh ra tử chiến đấu cam go, nay có dịp xả hơi nên tuy phải đổi ra một đảo hoang vắng mọi người đều có vẻ thoải mái. Ngay từ khi mới nhận được lệnh, chúng tôi liền giở thư báo tin cho người nhà biết và mua sắm các loại vật dụng cùng thực phẩm cần thiết.
 
Biết rằng Hoàng Sa là một quần đảo hoang vu không có dân cư, để chuẩn bị thức ăn tươi, ngoài số quan nhu vật thực do đơn vị đảm trách, các trung đội họp nhau vạch kết hoạch chung tiền mua hạt giống ra củ, đậu cà, mua gà con, heo giống đem theo nuôi, người ta còn mua cả lưỡi câu, lưới, chỉ, ny lông để bắt cá. Riêng cá nhân mỗi người đều sắm sửa mang theo nào tiêu, ớt, hành, tỏi, dầu, đường, bột mì. Người thì mang theo thuốc lá, cà phê hộp, sữa, sách, truyện, có người mang theo cả chó con, mèo và cả chim sao nữa. Chúng tôi chuẩn bị sống cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết Lỗ Bình Sơn trên hoang đảo.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

MỘT CÕI ĐI VỀ, NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN – Bài viết của Nguyễn Tuấn




Tôi rất thích ca khúc ‘Một cõi đi về’ của Trịnh Công Sơn, và hát nghêu ngao không biết bao nhiêu lần. Để rồi một ngày mình nhận ra thông điệp của bài hát.
Một cõi đi về được Trịnh Công Sơn sáng tác vào khoảng cuối năm 1974, hay đầu năm 1975. Đó là thời điểm đầy biến động của Việt Nam. Tuy nhiên, phải đợi đến năm 1980 ca khúc mới được phổ biến rộng rãi.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

GÁC CU “THÚ NGU”TAO NHÃ – Bài viết của Ngô Văn Tuấn


                                                              
Dân gian ta có câu “Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lảnh nợ, gác cu, cầm chầu”. “Nghề” gác cu được xếp vị trí thứ 3 tức “đệ tam ngu”. Mấy cái ngu như làm mai, lảnh nợ thì hệ quả đã rõ ràng, còn như gác cu, dù là “tam ngu”nhưng xem ra cái ngu này đã khiến nhiều người mê mẩn , quên ăn, quên ngủ. Có người còn bảo đây là cái ngu tao nhã, ngu phong lưu, cái ngu mà rất ít người học được.
 
Nhà tôi ở làng Phước Bình Tân An, La Gi Bình Thuận.  Nhà vườn rộng, trồng toàn  mít với đào. Sáng nào thức dậy quét lá cũng nghe tiếng cu gáy rân vườn. Buổi trưa treo võng nằm hóng gió, lại cũng thẫn thờ với tiếng gáy chim cu. Nghe riết rồi quen, rồi ghiền, bữa nào thức dậy thấy vắng tiếng chim,nghe nó buồn buồn, quạnh hiu sao ấy.
 
Tôi đã vậy, cạnh nhà lại có thêm chú em Ba Ánh bị nghiện nặng thú gác cu. Hai anh em hễ bận thôi, rảnh là mang lồng, đem cu mồi đi nhữ. Dòng sông Dinh vào mùa hè chim chóc líu lo. Những rẫy mít, rừng bụi là nơi cu hò hẹn trao tình, tiếng gáy, tiếng gù cứ như có ma lực cuốn hút khó cưởng.
Lại nói về cu: Cu có nhiều loại, cu đất, cu cườm, cu ngói, cu xanh… Ở nông thôn Việt Nam ai mà chẳng từng nghe cu gáy. Tiếng chim cu cũng đã đi vào thơ ca rất dịu dàng , đằm thắm :
“Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao/ Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ/ Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự…”
 

RƯỢU ĐẾ TRONG DÂN GIAN TÂY NAM BỘ - Bùi Tuý Phượng



Khó có thể biết được rượu ra đời từ lúc nào, ở đâu, song nói về rượu, về tác dụng chữa bệnh, về văn hóa uống rượu thì tất cả các dân tộc trên thế giới đều có. Ở Việt Nam, rượu gắn với sinh hoạt cộng đồng, với các nghi lễ, hội hè, đình đám, với những lời thề ước, nhưng nếu uống rượu quá đà cũng gây nhiều phiền lụy...
 
Chính vì vậy, chẳng biết tự bao giờ, rượu đã đi đời sống văn hóa của người bình dân và bằng cách này hay cách khác nó đã tồn tại trong cộng đồng người Việt nói chung, trong đó có người dân đồng bằng sông nước Cửu Long.
 
Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam, phần được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 4.000 km2, chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, một số đảo (lớn nhất là đảo Phú Quốc) cùng một vài dãy núi thấp ở phía Tây An Giang, Kiên Giang. Lịch sử hình thành vùng đất này gắn liền với bước chân những người đi mở cõi thế kỷ XVII – XVIII
 
Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũng kinh
 

KHI TÂM LÀNH SỐ PHẬN SẼ BÌNH YÊN – Bài viết của Đào Anh Dũng

(Viết khi đọc bài thơ “Lãng Tử” của Đặng Xuân Xuyến)


Đọc "Lãng Tử" của Đặng Xuân Xuyến, người ta dễ nghĩ đây chỉ là vài câu thơ vịnh cảnh giao mùa hay cái cớ để sẻ chia với một kiếp sống cô độc. Nhưng với những ai hay nhìn đời qua lá số Tử Vi, bốn câu tứ tuyệt này lại giống như một bức tranh định mệnh thu nhỏ. Tác giả đã mượn chuyện trăng sao, thiên can để nói về những trắc trở, lận đận của đời người. Đằng sau những câu chữ tặng cho người bạn tri âm Mạc Phong Tuyền là một cái nhìn rất người, mở ra lối thoát cho số phận bằng chính sự thức tỉnh trong tâm hồn. Đó là sự dịch chuyển từ việc chấp nhận vận số sang việc tu sửa hướng thiện cho cái tâm của chính mình.

LÃNG TỬ...
(Tặng Mạc Phong Tuyền)
 
Nguyệt (1) đáo Tỵ cung (2) hội chữ Canh (3)
Mệt người lãng tử áo mỏng manh
Năm canh gió lạnh lùa vai lạnh
Tiết Xuân thắc thỏm ngọn gió lành!
------
(1): là sao Thái Âm (Nguyệt) trong khoa Tử vi
(2): là 1 trong 12 cung của lá số Tử vi
(3): là 1 trong 10 Can của phép tính Âm dương Ngũ hành.
 
Hà Nội, 1g59 ngày 14/04/2023
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

KỶ NIỆM MỘT THỜI SỐNG NGHÈO VỚI NGUYỄN BÍNH Ở RẠCH GIÁ – Bài viết của Kiên Giang Hà Huy Hà


     
Nhà thơ Nguyễn Bính 

Nguyễn Bính là nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ Thơ Mới thập niên 1930 - 1940, còn thi sĩ – soạn giả Kiên Giang là một tên tuổi nổi bật của thi đàn miền Nam trước năm 1975.

Giữa họ đã từng có một cuộc tương phùng thú vị, được chính Kiên Giang kể trong một bài báo năm 1968 ở sau đây:

Hồi đó khoảng năm 1944, một người bạn cho tôi hay Nguyễn Bính hiện đang tá túc tại nhà của 1 công chức ở xóm biển của quê hương tôi (Rạch Giá- Kiên Giang). 

LẠC NHAU – Thơ Lê Kim Thượng


  

Lạc Nhau
 
1.
Cái thời thuở ấy chưa chồng
Cỏ Khâu may áo, áo hồng đào rơi
Nhớ ngày thuở ấy chung đôi
Bây giờ xa cách vẫn ngồi nhớ em…
Nhớ môi hồng thắm ướt mềm
Lắng nghe hơi thở nhẹ êm ngọt ngào
Hãy yêu cho thật dạt dào
Tiếng em thủ thỉ lời trao nhẹ mềm…
Dỗi hờn, hờn dỗi chi em
Đem tình tôi thả xuống miền ưu tư
Dìu em vào cõi mộng du
Mây hồng lãng đãng mùa thu nắng tà
Hẹn thề mình mãi không xa
Dù cho trắc trở, vẫn là của nhau
Dù tình ngang trái thương đau
Tôi em vẫn giữ tình đầu mãi yêu…
 
2.
Tình ta giông bão đã nhiều
Nhắc làm chi nữa trăm điều xót xa
Tình ta chát đắng đậm đà
Người đi xa mãi, bỏ ta thất tình
Sao không nói thật lòng mình
Đinh ninh lời hẹn, đinh ninh lời thề…
Tình xa sao vẫn si mê
Bóng xưa em vẫn đi về… trong mơ
Lâu rồi vẫn đợi, vẫn chờ
Trở nghiêng gối mộng, hững hờ canh thâu
Em về đâu… Anh về đâu…
Trăm năm mình đã lạc nhau giữa đời
Giờ đây người đã xa người
Còn tôi thao thức giữa trời mưa Ngâu
Tôi về gom nhặt thương đau
Gom tình đã lỡ qua cầu… buông trôi…
 
              Nha Trang, tháng  09. 2026
                    LÊ KIM THƯỢNG

MÀ SAO MỘT MỚ BÙNG NHÙNG – Thơ Đặng Xuân Xuyến

              (Viết tặng status của NHQ)
   

Ta tìm một góc đi hoang
Mà sao chỉ có gió choàng lạnh vai
Ta chờ ai? Ta đợi ai?
Mà sao bước ngắn bước dài hụt hơi.
 
Tiếng chào đã rải khắp nơi
Mà sao chỉ vọng mấy lời chát chua
Tính liều cược ván được thua
Mà sao cứ sợ gặp vua xứ khùng.
 
Lòng ta một mớ bùng nhùng
Khát yêu lại sợ trùng trùng sóng xô.
 
Hà Nội, sáng ngày 5 tháng 9/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

KHẢI HOÀN 凱還 – Bài viết của Ung Chu


- khải : khúc nhạc mừng khi quân đội chiến thắng trở về, hoán dụ chỉ chiến thắng, thắng lợi, có liên quan chữ "khải" nghĩa là vui mừng

- hoàn : trở về, như trong "châu hoàn Hợp Phố" 珠還合浦 (châu về Hợp Phố), "hoàn hồn".

"Khải hoàn" 凱還 nghĩa là thắng trận trở về, đây là từ lâu đời trong Hán ngữ. Bài ca mừng thắng trận trở về là "khải ca" 凱歌, "khải hoàn ca" 凱還歌. Tuy nhiên, trong tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Hàn, người ta thường dùng từ "khải toàn" 凱旋. "Toàn" nghĩa là quay tròn, quay lại, quay về.

Cổng vòm Arc de Triomphe (arc de triomphe de l'Étoile) là một trong những biểu tượng nổi tiếng của nước Pháp, toạ lạc giữa Quảng trường Charles-de-Gaulle (tiếng Pháp: place Charles-de-Gaulle) tại thủ đô Paris, trước đây gọi là Quảng trường Étoile (tiếng pháp: place de l'Étoile). Người Việt Nam gọi Arc de Triomphe là Khải Hoàn Môn (danh từ riêng).

Cổng này thuộc dạng công trình cổng chào mừng chiến thắng ở châu Âu, kế thừa kiến trúc La Mã cổ đại, ta gọi chung là các "khải hoàn môn" 凱還門 (danh từ chung). Tiếng Pháp gọi là "arc de triomphe" với "arc" chỉ cổng vòm, "triomphe" nghĩa là chiến thắng, tiếng Anh gọi là "triumphal arch" (triumph: chiến thắng, thắng lợi lớn; arch: cổng vòm).

Trong khi người Việt Nam gọi "Khải Hoàn Môn" và "khải hoàn môn", thì các ngôn ngữ kia gọi là "Khải Toàn Môn" 凱旋門 và "khải toàn môn" 凱旋門. Tiếng Nhật đọc là "gai-sen-mon" がいせんもん, tiếng Hàn đọc là "gae-seon-mun" 개선문, tiếng Trung Quốc viết giản thể là 凯旋门.

                                                                        Bài viết của Ung Chu

TÂN CƯƠNG - PHONG CẢNH, LỊCH SỬ, VĂN HOÁ VÀ CÂU HỎI VỀ SỐ PHẬN LỊCH SỬ

Vùng đất Tân Cương (Xinjiang) ở miền Tây Bắc Trung Quốc là một thế giới hoàn toàn khác biệt, nơi giao thoa giữa các nền văn hóa Á - Âu, được khắc họa qua ba nét chính về phong cảnh, lịch sử và văn hóa: 

I. Phong Cảnh — Một Thế Giới Thu Nhỏ, Kỳ vĩ,  Đa dạng và Cực đoan

Tân Cương là tỉnh lớn nhất Trung Quốc, chiếm một phần sáu tổng diện tích lãnh thổ — rộng gấp bốn lần tiểu bang California của Mỹ. Địa hình của vùng này phi thường đến mức khó tin: những sa mạc rộng lớn nhất thế giới, những dãy núi cao nhất châu Á, những ốc đảo màu mỡ xanh tươi giữa lòng hoang mạc, và những thảo nguyên bao la trải dài đến tận chân trời. Tân Cương nổi tiếng với địa hình "tam sơn giáp lưỡng bồn" (ba dãy núi kẹp hai bồn địa):

Hai bồn địa khổng lồ: Bồn địa lòng chảo Tarim (nơi có sa mạc Taklamakan – một trong những sa mạc cát dịch chuyển lớn và khắc nghiệt nhất thế giới) nằm ở phía nam, nơi mà người Duy Ngô Nhĩ gọi là "vào đó không ra được"; và Bồn địa Dzungarian ở phía bắc. Urumqi — thủ phủ của vùng — là thành phố xa biển nhất trên toàn thế giới.

Những dãy núi hùng vĩ: Dãy Thiên Sơn (Tian Shan) cắt ngang Tân Cương, chia đôi vùng đất này thành Nam Cương và Bắc Cương. Xa hơn là ranh giới của dãy Côn Lôn ở phía nam (Kunlun), và Altai. miền bắc.

Sự tương phản ngoạn mục: Chỉ cách nhau vài giờ di chuyển, bạn có thể chứng kiến một bên là sự khô cằn, hoang vu đến nghẹt thở của sa mạc, bên kia lại là những thảm cỏ xanh mướt của thảo nguyên Y Lê (Ili), những hồ nước thuộc vùng núi cao trong vắt như ngọc bích (như hồ Kanas, hồ Sayram), hay những đỉnh núi phủ tuyết trắng quanh năm.

Chính vị trí địa lý này — nằm giữa tám quốc gia, kẹp giữa Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, và Ấn Độ — đã biến Tân Cương thành ngã tư của các nền văn minh trong suốt mấy ngàn năm lịch sử.

SAO ANH CHỌN THÁNG CHÍN TRỜI NÓNG BỨC? – Thơ Quách Như Nguyệt


   

Tháng Chín hè trời nóng như bốc lửa
Giọt mồ hôi nhỏ xuống trái tim nồng
Nắng mầu hồng nhẩy múa đốt tim non
Tình của em anh bán rẽ mấy đồng?
 
Tháng Chín hè em cầu mong mưa xuống
Trời nóng hầm bỏng đỏ trái tim đau
Lời nói xuông em nghe tưởng nhiệm mầu
Em tin anh như tin lời kinh thánh
 
Đầu tháng Chín nắng vàng lóng lánh
Buổi tối hè trăng rực sáng long lanh
Làm sao đây để chữa lành tim vỡ?
Làm sao đây em có thể quên anh?
 
Bức xúc mất tình, em muốn gào lên khóc
Lý trí em nó nói “dại gì buồn”?
Nhưng trái tim lại than van mệt óc
Buồn mất tình, chẳng có buồn nào  hơn!
 
Tình đã mất sao em còn tìm kiếm?
Tại tim buồn nó thúc hối em thôi
Dẫu biết rằng anh không còn tha thiết
Anh giết tình bóp nát trái tim côi
 
Nước mắt rơi, ràn rụa rơi trên má
Tình nhân ơi anh tàn nhẫn thật mà
 
Tháng Chín hè, trời nóng như thiêu đốt!
Thấy nhớ anh, thấy buồn phiền ủ dột
Em thật tình rất muốn quên, quên anh!
Loại anh ra khỏi trí nhớ của mình!
Trái tim em có muôn nghìn vết cắt
Anh nhẫn tâm anh dập tắt lửa tình
Không muốn trách nhưng em hoài thắc mắc
Sao anh đành, anh nỡ phụ tình em?
 
Sao không chọn Tháng Ba trời mát mẻ?
Sao không chọn Tháng Mười thu đẹp đẻ?
Không chọn giùm tháng Giêng gió não nùng?
mà lạnh lùng chọn Tháng Chín xa em?
 
Sao anh đành chọn tháng Chín xa em?
 
                            Quách Như Nguyệt
                             August 25th, 2010

VÀI LỜI VỚI HOÀNG HẢI VÂN - Huỳnh Ngọc Chênh


Nhà văn Nguyên Ngọc

Viết một bài rất công phu với lời lẽ cay độc bôi nhọ và xúc phạm một người lớn tuổi đáng kính vào ngay dịp mừng thọ 90 của người ấy thì chỉ có thể là hai loại người sau đây:
- ganh ghét đố kị vì người đó được ca ngợi
- có thù oán cá nhân nên  chửi mắng cho hả lòng căm thù
Tôi không tin rằng anh Hoàng Hải Vân khi viết về ông Nguyên Ngọc vào dịp mừng ông thượng thọ 90 thuộc vào một trong hai trường hợp kể trên.
Lẽ ra tui không cần nói gì với anh  nữa sau khi đã có khá nhiều bài viết phân tích khá hay về hai bài viết bậy bạ của anh về Nguyên Ngọc.
Đó là những bài viết xuất sắc của Thái Hạo, Thích Thanh Thắng, Duong Tu, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Thông và vài người khác.
Những người đó bằng những lời lẽ ôn hòa và xây dựng đã cố giúp anh thấy cái sai của anh qua hai bài viết vừa rồi.

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

HƯƠNG LAN MÙA KHAI TRƯỜNG – Thơ Bùi Chí Vinh

Hôm nay dẹp mọi thị phi trong xã hội. Nhân ngày khai trường, nhớ lại những bài thơ viết cho tuổi mới lớn gây xôn xao trên báo Hoa Học Trò, Mực Tím một thời....
                                                                             BÙI CHÍ VINH

    

 
KHAI TRƯỜNG
 
Cổng trường đóng cửa trong ba tháng
Có một con tằm ngồi ươm tơ
Suốt ba tháng, thơ anh hạn hán
Dù sóng và mưa vẫn vỗ bờ
 
Ba tháng ủ ê vườn thiên lý
Hoa trên trái đất đều không thơm
Anh giận một mùa hè ích kỷ
Giam em trong cá chậu chim lồng
 
Ba tháng tưởng đâu em mất tích
Sài Gòn quên áo lụa Hà Đông
Đường phố toàn màu đen ngỗ nghịch
Nhớ ai kia mắt biếc môi hồng
 
Bây giờ thì nói chi ba tháng
Trái thị hồn anh đã chín rồi
Cô Tấm khai trường hương áo trắng
Anh lại làm thơ "xịn" gấp đôi!

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

ĐẠI LỘ BÚN BÒ HUẾ - Tác giả Phanxi Pang


Tác giả Phanxi Pang cùng tô bún bò Huế.
 
Bình chọn món bún xuất sắc và phổ biến nhất thế giới, cam đoan mọi người đều dồn phiếu cho bún bò Huế.
Khắp nước ta và nhiều nơi ở nước ngoài, hầu hết nhà hàng đặc sản Việt Nam đều kê trong thực đơn cái món vermicelle de Hué / Hue vermicelli. Nghĩa là “bún Huế”, song cần hiểu ngầm là bún bò Huế, và nếu cần trình bày cho đầy đủ thì phải ghi: bún + thịt bò + giò heo + chả + các phụ gia thích hợp. Giò heo đây là cẳng lợn, phần móng. Còn chả – người miền Bắc quen gọi là giò – gồm các thứ chả heo như chả lụa, chả bông, chả cây (chả lá), chả quế, chả viên; ngoài ra còn có chả cá và chả cua nữa.Bún bò giò chả là thức quà được bán suốt ngày đêm cho thiên hạ điểm tâm buổi sáng, ăn dặm xế trưa, dùng lỡ ban chiều và lót dạ tối khuya.

THU KHÚC, MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG, HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN – Thơ Tịnh Bình


   

 
THU KHÚC
 
Rụng vào thu xưa chiếc lá
Neo hồn ta giữa đa mang
Heo may luồn kim se chỉ
Đong đưa một phiến thu vàng
 
Thầm gọi đôi lời quá vãng
Độc bình hoa tím đơn côi
Mênh mang nẻo về sương khói
Thơ xưa nét chữ nhòe rồi
 
Tri âm bạn đà đi vắng
Cầm lên xác bướm khô rơi
Người gần như xa quá đỗi
Thì thôi thu hát bên trời
 
Khẽ chuyến mây trôi bằng lặng
Vườn thu mắt cỏ đẫm sương
Lãng đãng lời chi chuông gió
Ngỡ em phía lối hoang đường...
 
 
MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG
 
Nắng mưa rát mặt cánh đồng
Cơm mùa giáp hạt đèo bòng sắn khoai
Nhọc nhằn tay ải tay ai
Phôi thai từ buổi hạ dài sang thu
 
Bờ hoang an phận mù u
Gieo neo chi gió đánh đu phận người
Cuối mùa sen ngỡ còn tươi
Lá xanh nõn ngó búp cười mà đau
 
Nhớ xưa thầm trách chi nhau
Gió đưa hương bưởi rụng vào nhà ai
Lời ru quay quắt đêm dài
Trầu cay một mớ vẫn hoài đa mang
 
Gọi nhau trẩy hội mùa vàng
Tay liềm tay hái mơ màng thảo thơm
Quê nhà ướt bóng chiều hôm
Ngát hương cơm mới rạ rơm phơi lòng...
 
 
HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN...
 
Khi những cánh diều không cõng nổi ước mơ
Ta biết nói gì cùng mùa hạ
Giá có thể trở lại làm đứa trẻ sà vào lòng mẹ
Khóc một trận thỏa thuê
 
Nhắn bước chân thôi hãy về đi
Mái nhà xưa
Lũ rêu hoang bám gờ giếng cạn
Mùa hạ lặng thầm
Cây nhài cũ đơm bông
 
Mặc những ngổn ngang
Bàn chân lấm bụi
Những đứa trẻ giả vờ như chưa lớn
Bên chái bếp còn nghe mùi khói rụng
Hương nhài cũ chưa tan...
 
                                        TỊNH BÌNH

CÕI TRẦN – Thơ Lê Kim Thượng


   


Cõi  Trần
 
1.
Người về tìm thuở thiếu thời
Quê hương in dấu một đời Mẹ Cha
Sông quê nước chảy hiền hòa
Đón người lữ khách phương xa mới về
Gió lùa qua mái tranh tre
Lời ru đằm thắm trưa hè “ À… ơi…”
Lời ru theo gió chơi vơi
Bâng khuâng xao xuyến đậm lời thơ ca…
Người về vui với quê nhà
Lúa ngô, khoai sắn thật thà chân quê
Mẹ về, bóng Mẹ trên đê
Hanh hao cái nắng tái tê chín vàng
Lẫn trong ngọn gió vừa sang
Hương thơm lúa chín đồng vàng xa đưa
Nắng qua kẽ lá lưa thưa
Sông quê vọng tiếng đò đưa thuở nào…
 
2.
Quê nhà hai tiếng ngọt ngào
Người xa vạn dặm nôn nao bồi hồi
Lòng còn đau đáu người ơi
Trông về quê cũ, phương trời mù xa…
Quê nhà hai tiếng thiết tha
Nhà xưa có Mẹ, có Cha mong chờ
Nhớ về năm tháng tuổi thơ
Nhớ về tiếng Mẹ “Ầu… ơ…” nhẹ nhàng…
Một mùa báo hiếu Vu Lan
Cài bông hồng trắng hai hàng lệ rơi
Mẹ giờ đã khuất bóng đời
Âm dương cách biệt, hết thời chờ mong
Lung linh những ngọn nến hồng
Chắp tay con vái cầu mong Mẹ hiền
Mẹ về cõi Bụt, cõi Tiên
Bỏ gian nan, bỏ ưu phiền… nhân gian…

         Nha Trang, tháng  08. 2026
               LÊ KIM THƯỢNG