BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

VỀ “CHUYỆN NGỦ” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN – Bài viết của Phương Việt Kháng



Một tác phẩm văn học thực sự chạm đến trái tim người đọc không cần phải là những triết lý đao to búa lớn, mà đôi khi chỉ là một mảnh ký ức nhỏ, một tiếng cười hồn nhiên được nhặt nhạnh từ những ngày nghèo khó. "Chuyện Ngủ" của nhà văn Đặng Xuân Xuyến chính là một lát cắt như thế.
 

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

MÔ HÌNH ĐẠI HỌC THI TUYỂN VÀ ĐẠI HỌC GHI DANH Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975 – Nguyễn Thy Anh



Nền đại học miền Nam Việt Nam từ 1955 đến 1975 là một mô hình hỗn hợp độc đáo, vừa mang dấu ấn hàn lâm tinh hoa của Pháp, vừa chuyển dần sang mô hình đại chúng thực dụng của Hoa Kỳ. Trong đó, sự tồn tại song song của hai hình thức: đại học thi tuyển và đại học ghi danh đã tạo nên một hệ thống vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa đảm bảo chất lượng cho những ngành then chốt.

LỪNG LẪY MỘT THỜI: NGUYỄN TẤT NHIÊN, THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH – Phạm Chu Sa


         Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên(thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm.
Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài "Vì tôi là linh mục" tuyệt hay: 

“Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”
 
Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

BÀI THƠ “VIẾNG BẠN” ĐÃ TỪNG BỊ PHÊ PHÁN THẾ NÀO - Bảo Thư



“Viếng bạn” được được Hoàng Lộc viết năm 1947 và in trong tập bút ký “Chặt gọng kìm Đường số 4”. Bài thơ viết về sự hy sinh anh dũng của một chiến sĩ tên tên là Th vào ngày 8-1-1948 trong trận Bố Củng. Vì lúc rút lui còn phải khiêng mấy đồng chí bị thương, nên đồng đội đành phải đào một cái huyệt nhỏ để chôn Th. Nhìn thi thể đồng đội không có áo quan, ai cũng khóc.
 
Năm 1949, tạp chí Văn Nghệ đăng bài thơ này và gây sự xúc động mạnh trong giới văn nghệ sĩ kháng chiến. Cho đến nay "Viếng bạn" được xem là bài thơ hay nhất viết về tình đồng đội, về người liệt sĩ trong kháng chiến.
 
Tuy nhiên, bài thơ này đã từng bị “đánh” tơi bời trong phong trào “Chỉnh huấn – chỉnh quân” trong thập niên 1950. Tháng 12-1953, trên Nội san Giáo Dục số 12 xuất hiện diễn đàn: “Chúng ta cùng thảo luận”, chủ đề xoay quanh nội dung tư tưởng của bài thơ “Viếng bạn”. Khởi xướng mở diễn đàn thảo luận bài thơ Viếng bạn là Nguyên Chương, một cây bút lý luận phê bình kỳ cựu .
Với tựa đề “Nhân giảng bài Viếng bạn: Đả phá óc mê tín” đăng tạp chí Giáo Dục số 12 năm 1953, tác giả Nguyên Chương đưa ra 3 luận điểm phê bình bài “Viếng bạn”:
 
1) Bài thơ Viếng bạn cổ súy tư tưởng phong kiến, mê tín, dị đoan, duy tâm thần bí;
2) Nghệ thuật trong bài thơ Viếng bạn là sáo cũ, giả tạo;
3) Ảnh hưởng của bài thơ Viếng bạn đến học sinh là rất xấu.
 
Để chứng minh “Viếng bạn” là bài thơ “gọi hồn”, mê tín dị đoan, Nguyên Chương thực hiện một cuộc điều tra, khảo sát học sinh tại 3 lớp đã nghe giảng bài thơ Viếng bạn và đặt ra 3 câu hỏi trong cuộc điều tra này là:

- “ Khôn thiêng xin chỉ mặt là thế nào? Có phải linh hồn anh bộ đội chết đó còn sống và khôn thiêng phải không?”
- “ Ai tin rằng sau khi xác thịt chết thì linh hồn còn sống?”
- “ Thế thì em nào sợ ma, tin có ma cứ thành thật cho biết”   
Và tác giả dẫn kết quả điều tra như sau:
a) Ở câu hỏi thứ nhất có một số học sinh trả lời “Linh hồn anh bộ đội ấy khôn thiêng, linh hồn anh còn sống”;
b) Ở câu hỏi thứ hai có 28/ 125 em tin là sau khi chết thì linh hồn còn sống;
c) Ở câu hỏi thứ ba có 92/125 học sinh sợ ma.
 
Đến đây, tác giả bài viết đưa đến kết luận: con em Việt Nam còn mê tín nhiều và cần phải “làm công việc giải độc”. Và việc một tác phẩm như bài thơ Viếng bạn có hiện tượng người sống “đang nói với người chết; hỏi người chết có khôn thiêng thì chỉ mặt kẻ thù” là biểu hiện rõ ràng tư tưởng, tình cảm “phong kiến, duy tâm, thần bí” và “hoen ố màu sắc siêu hình”.
 
Ở phương diện nghệ thuật, tác giả bài viết cũng phê phán Viếng bạn là bài thơ sáo rỗng, giả tạo. Nguyên Chương dẫn chứng rằng: “Gọi anh chẳng thành lời mà hàm răng dính chặt”. Răng dính chặt thế mà đoạn dưới và đoạn sau anh nói quá nhiều, anh nói rõ ràng lắm. Hình ảnh không thống nhất, ta có cảm tưởng là thơ giả tạo”.
 
Về hệ quả, tác giả cho rằng bài thơ có ảnh hưởng rất xấu đối với thanh thiếu niên: “con số 92/125 kể trên quả là một thương tâm bắt buộc chúng ta phải thận trọng trong lời nói, trong câu văn. Nếu không đập tan mê tín thì ít nhất đừng gieo rắc mê tín”. Và tác giả cảm thấy “ân hận đã đem bài Viếng bạn giảng cho học sinh trong ngày thương binh- tử sĩ” vì việc giảng dạy bài thơ Viếng bạn không những không đạt được mục đích căm hờn kẻ địch, thương người chiến sĩ hi sinh mà chỉ gieo rắc tư tưởng mê tín dị đoan.
 
Cuối cùng, tác giả Nguyên Chương đề nghị không dạy bài thơ Viếng bạn cho học sinh vì bài thơ này “đánh thức phần yếu đuối, phản khoa học nép trong tâm não thanh niên”.
 
Thế đấy, một tác phẩm văn học xúc động như vậy nhưng dưới lăng kính u tối của một số người thì rất có thể đây là bài thơ “có vấn đề” chỉ bởi tác phẩm đó được viết theo cách thể hiện khác.
Tự nhiên tôi rón rén đi trên băng mỏng của đại dương chữ nghĩa
 
                                                                                            Bảo Thư

"CHỮ QUỐC NGỮ" ? - Nguyễn Chương Mt


Nhà nguyện, nằm trong khuôn viên Tòa Tổng giám mục TGP Sài Gòn. Đây vốn là ngôi nhà của Đức Thầy Cả (Cha Cả) Bá Đa Lộc, được di dời từ vùng Lăng Cha Cả về đây

/1/ Bấy lâu nay chúng ta vẫn quen cách gọi "CHỮ QUỐC NGỮ" là chữ viết dùng để ghi tiếng Việt bằng hệ thống abc Latin.
Thực ra, thời còn dùng CHỮ NÔM thì thứ chữ này đã được gọi là "CHỮ QUỐC NGỮ" - chữ ghi lại quốc âm trong tiếng Việt, để minh định khác với chữ Hán là thứ chữ ghi tiếng của người ở lân bang phương Bắc!
/2/ Đơn cử, gần hơn, vào gần cuối thế kỷ 18 - năm 1774, Đức Thầy Cả Vê-rô (*) soạn sách giáo lý và in ra bằng CHỮ NÔM, mang tựa "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" ( )
Cách gọi "CHỮ NÔM" hoàn toàn KHÔNG có trong âm Hán-Việt của chữ Hán. "Chữ Nôm" (𡦂 ) , ở đây, được gọi là "Chữ Quốc ngữ" (𡦂 ).

Chú ý:  Ồ, sao CHỮ NÔM vẫn có dòng chữ Hán "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ"?
Trong chữ Hán, CHỈ có âm Hán-Việt, loại bỏ quốc âm của tiếng Việt chúng ta!
Còn CHỮ NÔM: gìn giữ hết thảy quốc âm của tiếng Việt + một số âm Hán-Việt (chữ Hán) được chọn lọc, đã đi vào từ vựng của người Việt.

(*) Hiện nay đã quen với danh xưng "Giám mục", nhưng vào thế kỷ 17, 18 gọi là "ĐỨC THẦY CẢ" (giữ lại cách gọi này để bảo đảm tính chân thực của ngôn ngữ vào từng thời kỳ lịch sử). "Vê-rô", là một cách phiên âm khác, cũng là "Phê-rô" - từ "Pedro".
Có cách CHUYỂN ÂM (không phải phiên âm như "Vê-rô", "Phê-rô") là "Bá Đa Lộc"! Đức Thầy Cả Vê-rô, tức là Đức Thầy Cả (còn gọi "Cha Cả") Bá Đa Lộc.

Cách gọi "Bá Đa Lộc", từ đâu?

Đức Thầy Cả (giám mục) này trước khi đến nước Nam, đã có thời gian dài sống ở Macao. Ở đó, nói tiếng Quảng Đông. Tên thánh của vị này là "Pedro", người Quảng Đông đọc thành /pe-to-lo/, ghi chữ Hán 伯多祿 (ba chữ Hán này, tiếng Quảng Đông đọc /pe-to-lo/).
Âm Hán-Việt của 伯多祿 là "Bá Đa Lộc"! Tên thánh của Đức Thầy Cả (giám mục) là "Bá Đa Lộc" = "Pedro" (Phê-rô).
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

MỘT BÀI THƠ DŨNG CẢM, SẮC BÉN VÀ CÓ NỘI LỰC MẠNH MẼ - Vũ Minh Huệ

Tôi với nhà thơ Lê Văn Hồng cùng làng Thạch Cầu – Ngôi làng cổ 500 tuổi bên sông Hồng. chúng tôi thường hay chia sẻ đàm đạo về thơ. Hôm trước ông có gửi tôi tin nhắn: " “Nhà văn nghĩ gì về bài thơ đăng báo này". Tôi hẹn ông sẽ đọc kỹ và đàm đạo sau với ông.
 

                                                            (Ảnh Ái Nhân và Vũ Minh Huệ)

ĐỐI THOẠI VỚI GIAN THAM
 
Ô hô!
ngươi chê thơ nghèo
nhưng thơ thanh bạch
lương tâm trong sạch
bạn khắp nhân gian, ve gái trăm miền…
Thơ dẫu không nhiều tiền
nhưng triệu phú “lời vàng, ý ngọc”
mỹ nữ nhân gian mải mê tranh đọc
rắc trăng mơ màng lên mắt ngọc
chắp cánh thơ bay tận chín tầng trời
hò hẹn với Hằng Nga
chọc quê chú Cuội…
Chẳng như lũ ngươi mưu mô lắm tội
gái đẹp, rượu Tây mà u mê hóa dại
hành xử nhiễu nhương, dặt phường vô lại
bất chấp kỷ cương làm hại đồng bào
tội các ngươi muôn đời sao rửa sạch?
Ta thư thái ung dung
sáng cầu lông
trưa cơm nhà
chiều đánh cờ
tối làm thơ
đêm sờ vú vợ…
Chạnh lòng thương các ngươi một đời mắc nợ
nơm nớp sợ, lo, cơm cân... “chăn kiến”
đầu óc các ngươi chứa tiền và bã đậu
toan tính mánh mung, tối ngày ăn nhậu
mắc bả hư danh, tham vàng bỏ ngãi
lũ lượt dắt nhau dài dài vô khám…
Trời đọa đày các ngươi kiếp hèn ăn bám
hút máu lương dân
lương tâm mất cắp
hư danh, bon chen, luồn lách
tội các ngươi muôn đời quở trách
giàu sang của các ngươi như phù du sương khói
nhơ nhuốc hư vinh…
Ta đầu đội trời, chân đạp đất
vẫn tin cuộc đời không phải chỉ có điêu ngoa gian trá
mà nhân tâm lương thiện vẫn còn nhiều
Ta mơ giấc mơ quân vương - oai phong Vua mộng
thơ bay lồng lộng giữa trời…
Ta viết thơ yêu lũ bay không đọc
ta vót thơ làm tên, làm móc
bắn vào đầu lũ gian tham, bất nhân, ô trọc
moi tim, gan, óc… lũ ma quái giả người phơi bày cho kền kền dùng bữa!
Ta coi khinh lũ văn nô bưng bô, xu nịnh
thơ phú ngây ngô a dua ngâm vịnh
ngắm mỹ nữ cởi truồng mà thủ dâm tự sướng…
A ha!
Thơ là nghiệp, là đam mê
chắt hương đời ủ men cất rượu
đâu cần lập thân, mưu cầu danh lợi
Tôn vinh lòng: Nhân ái - Đẹp - và Thơ!
 
                              Vua Mộng Ái Nhân

LÒNG TRẦN – Thơ Đặng Xuân Xuyến


  


LÒNG TRẦN
 
Bạn rủ tôi về thăm làng Đá
Sao mãi ngẩn ngơ gốc đa già
Nụ cười sao thoảng nhiều nét lạ
Mắt thắm sao giờ đắm xót xa.
 
Ờ, xóm Chùa kia đâu có xa
Sao bước chân đi lạ lạ là
Ngập ngừng đứng mãi bên chùa Đá
Như ngại chuông chiều chợt ngân xa.
 
Lòng trần chưa dứt bụi đường xa
Vin mãi nghiệp duyên cõi Ta Bà
Mái chùa ngói cũ rêu phong quá
Bước lạc đường quen, mãi thế a?
 
Làng Đá, chiều 12 tháng 07-2026
        ĐẶNG XUÂN XUYẾN

NGỌT LÀNH – Thơ Lê Kim Thượng


  


Ngọt  Lành
 
1.
Quê hương đẹp mãi trong mơ
Tình quê gắn với tuổi thơ xa vời
Quê nhà đẹp mãi ngàn đời
Nhớ ngày xưa cũ rong chơi trên đồng…
Trời xanh, xanh thẳm mênh mông
Bức tranh Thủy Mặc dòng sông, con đò
Bờ sông đợi, bến nước chờ
Có người viễn xứ bên bờ nhớ xưa
Quê nhà mưa nắng hai mùa
Thảo thơm hạt gạo nắng mưa ngọt lành
Nhà nghèo vách đất, mái tranh
Nồi cơm chín tới, bát canh đậm đà
Cơm chiều mắm muối ngày qua
Bình yên, thanh đạm chan hòa vui tươi
Tri âm chén rượu, nụ cười
Xưa nay ai cũng quý người thủy chung…
 
2.
Cuộc đời có có, không không
Còn chăng chỉ một tấm lòng yêu quê
Bình thường mà lắm đam mê
Để người xa xứ sơn khê ưu phiền
Cuộc đời điên đảo, đảo điên
Về quê tìm lại một miền thảnh thơi
Mong gì tìm được một nơi
Xóa đi phiền muộn một đời chênh chông…
Con về nhà đã vắng không
Nhớ hình bóng Mẹ trong lòng xót đau
Mẹ đi mãi mãi về đâu
Lung linh nến cháy hai đầu áo quan
Bàn thờ lặng lẽ khói nhang
Lòng con quặn thắt bàng hoàng ngu ngơ
Nghẹn ngào nhớ Mẹ ngày thơ
Rưng rưng nước mắt bơ vơ cuối đời…
 
              Nha Trang, tháng  07. 2026
                     LÊ KIM THƯỢNG

MƯA Ở NGOÀI KIA, RU GIẤC CHIÊM BAO, CÓ NƠI NÀO HƠN QUÊ HƯƠNG - Thơ Tịnh Bình


   

 
MƯA Ở NGOÀI KIA...
 
Những bước chân gõ trên mái nhà
Tội nghiệp mưa đi lang thang hoài trên phố
Không ngừng hát mãi giai điệu cũ rích
Đêm mơ hồ suy tư
Chiếc bóng rơi trên vách khuya
Dỗ dành giấc mơ mắt ướt
 
Câu thơ lạnh vùi vào ngực nóng
Vịn vào đâu nỗi lấp lánh buồn
Bức tường câm vờ chẳng nghe lời nức nở
Tiếng dỗi hờn mưa gọi ở ngoài kia...
 
Những giấc mơ lạnh lùng có mặt
Ta như kẻ ngoài cuộc dửng dưng quan sát
Bối rối nhịp mưa
Chiếc bóng cười khan
Ngỡ thấy mình đâu đó
Lặng im tiếng vỗ một bàn tay...
 

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

CỔ VŨ 鼓舞 - Theo Nguồn Gốc Của Từ



Cổ vũ, chữ Hán viết là 鼓舞, trong đó:
– Cổ, danh từ là cái trống, động từ là đánh trống, như đồng cổ (銅鼓) là trống đồng, canh cổ (更鼓) là trống canh, trống báo hiệu từng canh trong đêm (xưa một đêm được chia làm năm canh), cổ xuý (鼓吹) là đánh trống và thổi sáo, ý nói hô hào vận động ai đó làm gì, hiện nay thường theo hướng tiêu cực.
– Vũ là múa, như vũ kiếm (舞劍) là múa gươm, khiêu vũ (跳舞) là nhảy múa, vũ hội (舞會) là tiệc nhảy múa. Chữ này có nhiều trường hợp đồng âm mà ta cần lưu ý như “vũ – ” nghĩa là khinh nhờn, coi thường trong vũ nhục (侮辱), “vũ – ” chỉ khoảng không gian như trong vũ trụ (宇宙), “vũ – ” chỉ sức mạnh, uy lực trong vũ khí (武器), “vũ – ” chỉ lông chim trong lông vũ, “vũ – ” nghĩa là mưa trong hô phong hoán vũ (呼風喚雨).

Cổ vũ là đánh trống và nhảy múa, ý nói khuyến khích, thôi thúc ai đó làm điều gì đó, làm cho ai đó phấn chấn lên. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng “vừa đánh trống vừa múa” kèm theo nghĩa bóng là “vui vẻ khuyên người ta làm”.

Bài Bắc Trấn hỷ vũ (Mừng mưa ở Bắc Trấn) của Lê Quý Đôn có câu:

Tỉnh khước cần lao tranh cổ vũ,
Hưởng tư phong túc cộng bình khang.

省却勤勞爭鼓舞,
享茲豐足共平康。

Tạm dịch:

Vơi hẳn nhọc, đua nhau cổ vũ,
Được mùa này, tất cả an vui.
 
                                                                 Theo Nguồn Gốc Của Từ

12 KHÚC ĐỘC VẬN TRƯỜNG THIÊN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến


   


TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
 
Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằm
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
 
Tôi nhớ, người ta một cuối năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
 
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.
 
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...
 
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
 
 
VỀ THĂM HÀ NỘI
- viết tặng Nguyễn Minh-
 
Tôi xa Hà Nội, xa Hà Nội
Mới đó thôi mà bấy năm trôi
Bạn cũ gặp nhau nhìn rất vội
Nụ cười te tẻ hé trên môi.
 
Ờ gió heo may đã mỏng rồi
Mây chiều cũng ít bảng lảng trôi
Giờ còn ai đợi canh chừng tối
Dụ một tiếng reo thả chỗ ngồi?!
 
Tôi lặng nghe lòng chất vấn tôi
Người ta giờ đã khác xưa rồi
Thời gian thì cứ trôi vồi vội
Tôi lại giam mình góc xa xôi.
 
Tôi biết nhưng mà biết vậy thôi
Chuyện xưa còn giữ được mấy hồi
Tôi về Hà Nội thăm Hà Nội
Mua chút niềm riêng ngủ quên rồi...
 
Hà Nội, ngày 9 tháng 2-2025
 
 
TÔI BIẾT
 
Tôi biết người ta cố quên tôi
Ước thề chỉ để thoảng đầu môi
Gặp tôi người cứ ne né vội
Như sợ chạnh buồn phía xa xôi
 
Tôi đã dằn lòng phải thế thôi
Người ta giờ đã khác xa rồi
Chữ tình khéo bẻ thành trăm lối
Dụ khách say tình, lén chuốc vôi.
 
Tôi sẽ về thăm lại lần thôi
Để nghe gió lạnh thốc mé hồi
Để xem u uẩn chiều loang lối
Để ngó mây trời lững lững trôi.
 
Hà Nội, ngày 06 tháng 03-2024
 
 
EM RỦ RỈ RẰNG...
 
Em rủ rỉ rằng chỉ hôm nay
Gom mây nhột gió để nhốt ngày
Chả cần vịn đến lời bỏng cháy
Mà ánh trăng cuồng líu ríu say.
 
Em lại thì thầm chỉ đêm nay
Vãi trăng rắc sáng trải làm ngày
Cuộn gió làm mồi nhen lửa cháy
Cho khối kẻ khờ ngất ngư say.
 
Em lại... Ừ thì, ta đêm nay
Kê nắng làm đêm gió làm ngày
Vì em ta nguyện làm mồi cháy
Đốt cạn đêm cuồng líu qíu say!
 
Hà Nội, đêm 23 tháng 10/2023
 
 
CẠN LÒNG
- viết tặng 1 người -
 
Ta trở về làng buổi chớm Đông
Đường xưa nhạt nắng vẹt gió đồng
Gió chiều xưa đấy sao mà lộng
Mướt cả triền đê, mướt cả sông.
 
Ta ngẩn ngơ lòng đến bến đông
Hỏi dò từ đấy có về không?
Chín năm, ờ nhỉ, bao biến động
Người ấy giờ sao chửa lấy chồng?!
 
Ta lặng lẽ tìm giữa thinh khôn
Ngược nắng mưa xưa ngược gió đồng
Chợt hiểu lòng người sâu hơn rộng
Nửa đời ngờ nghệch sắc sắc không.
 
Ta đành tạ lỗi với hư không
Tạo hóa trớ trêu nợ vợ chồng
Người ấy vì yêu mà sầu mộn
Vét cạn tơ lòng đốt cháy sông.
 
Hà Nội, 08:08 ngày 23/07/2023
 
 
GỬI ĐÊM
 
Em lại ra ngồi ngóng đợi ai
Để se sợi nhớ thắt thêm dài
Để dìu ánh mắt thêm hoang hoải
Để ríu cười buồn thêm mắt ai
 
Em lại ra ngồi ngóng đợi ai
Để líu ríu đêm tiếng thở dài
Để ngân ngấn lệ đêm trống trải
Để nhói đêm dài một dáng ai!
 
Hà Nội, 09:30 ngày 19/04/2023
 
 
THÌ ĐÃ NHỦ RẰNG...
 
Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu
Mà tin to nhỏ những mỹ miều
Mà nhìn đăm đắm mùi hàng hiệu
Mà tín ai kia bởi dáng kiều
 
Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu
Mà than gió lạnh ngả ngớn chiều
Mà vin nắng nhạt chao ôi điệu
Mà vịn mây buồn lững lững phiêu.
 
Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu
Mà sao khóe mắt lệ cứ nhiều
Mà sao thổn thức từng ngữ điệu
Mà dáng đổ dài bóng xiêu xiêu. 
Làng Đá, 03 giờ 35 - 09/04/2023

MIÊN MAN 綿蠻 - Theo Tri thư đạt lễ 知書達禮

Thật ra Miên man, chữ Hán viết 綿蠻, vốn không phải từ láy như chúng ta hay nghĩ mà là một từ Hán Việt đẳng lập.
 
                                             Hình ảnh: Miên man, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt ngày nay, Miên man thường được hiểu là cái gì đó kéo dài vô bờ bến. Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), Miên man nghĩa là “hết cái này sang cái khác, tiếp liền theo nhau không dứt”. Ví như người ta hay nói “suy nghĩ miên man”, “nỗi buồn miên man”, “tiếng hát miên man”,…

GIAI ĐIỆU LÊ UYÊN PHƯƠNG: BÍ MẬT CỦA “NỖI BUỒN TRONG CUNG TRƯỞNG” - Bài viết của Ngu Yên



Phần lớn người yêu nhạc Lê Uyên Phương đến với ông qua cảm xúc: cái nồng nàn, cái khắc khoải, cái buồn da diết. Ít ai dừng lại để hỏi: bằng những thủ pháp âm nhạc nào mà ông tạo ra được hiệu ứng ấy? Nhưng chính khi đặt câu hỏi này, ta mới chạm tới một trong những bí mật thú vị nhất của hiện tượng Lê Uyên Phương, một bí mật mà ngay cả những nhạc sĩ bậc thầy đương thời cũng phải dừng lại suy sâu.
 

HIỂU NGUYỆT 曉月 - Bài viết của Khánh Ly



Hiểu nguyệt, chữ Hán viết, nghĩa là vầng trăng lúc rạng đông.
Hiểu là trời hửng sáng sau một đêm dài. Sách Thuyết văn giải tự giảng: Hiểu là sáng sủa. Chữ này còn phái sinh những nét nghĩa khác như biết rõ, hiểu rõ hoặc làm cho người khác hiểu mà thường gặp trong các từ am hiểu, hiểu ngộ, hiểu dụ,...
Nguyệt là mặt trăng. Những từ quen thuộc trong tiếng Việt như nhật nguyệt, nguyệt quang, nguyệt sắc, nguyệt dạ, nguyệt thực, tuế nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Nguyệt này.

“CÒN ĐÂU CÁNH BƯỚM ?”, TƯỞNG NHỚ NGHỆ SĨ NGÂM THƠ HỒ ĐIỆP – Bái viết của Trịnh Anh Khôi



Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu (Có tài liệu ghi là Nguyễn Thị Tý) sinh năm 1930 tại Sơn Tây. Bà vào Nam năm 1954. Thi sĩ Đinh Hùng đã phát hiện ra tài năng ngâm thơ thiên phú của bà nên đặt cho nghệ danh Hồ Điệp.
Có thể giải thích cái tên được hàng triệu người yêu mến này: Hồ Điệp nghĩa là Cánh Bướm, ý rằng giọng ngâm của bà nhẹ nhàng, mỏng manh, nhưng lại nhiều mầu sắc như những cánh bướm.
 

PHỐ CHIỀU HÀ NỘI – Thơ Đặng Xuân Xuyến


   


Về phố Thái Hà thật là phiêu
Chợ cóc lùi xa, gió mượt nhiều
Và kìa phố nhỏ Trần Quang Diệu
Hè thoáng, vườn hoa trổ sắc yêu.
 
Tôi lạc bước vào Trương Hán Siêu
Phố nay lột xác dáng yêu kiều
Sờ-pa cao cấp, thời trang hiệu
Nhịp sống phồn hoa quá mỹ miều.
 
Ồ, phố Hoàng Cầu đã “xuất chiêu”
Đường sắt trên cao check-in chiều
Quảng trường hồ nước lung linh chiếu
Gom cả hoàng hôn gửi dáng Kiều.
 
Tôi ngẩn ngơ tìm phố Yết Kiêu
Nơi "Tiến quân ca" cuộn thủy triều
Nơi Bùi Xuân Phái khơi huyền diệu
Nơi khúc tâm tư lắng một chiều
 
Tôi rảo bước về một quãng yêu
Hàng cây cổ thụ phủ bóng chiều
Tôi mang cầm cố phố Bà Triệu
Nhặt chút hương thầm giữa lối yêu..
 
Hà Nội, chiều 16 tháng 06-2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN