BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

CHÙM THƠ THĂM HOA LỤC CỦA NGUYỄN KHÔI

   
   

(Tặng Nhã Mỹ)
Trung Hoa rộng lớn nào đi hết
thì đển Nam Kinh ngắm Ngô Đồng (1)
Quyền thế ngất trời rồi cũng chết
Tình Yêu còn mãi với non sông.
———
( 1) Đường phố cây Ngô Đồng ở Nam Kinh do Tưởng Giới Thạch trồng tặng Tống Mỹ Linh
 
1/ NAM KINH
 
( Bởi mê Hồng Lâu Mộng
Nên tìm đến Nam Kinh)
Mộng đến Kim Lăng thăm Cảnh Ảo
tìm cô gái Việt ở Nam Kinh
hồn xưa còn giấu trong nếp áo
thơ xưa tơ liễu rủ hương tình
Trông lên phương bắc mang mang gió
Chim đậu cành Nam ngó đất trời
qua bao bình lửa cho gặp gỡ
Trung Sơn ta đứng lặng bên Người.
“ Sơn thủy cổ thành tương ỷ” tuyệt
ai hay Thiên Quốc hận Thái Bình ?
nắng hắt Trường Giang cồn khói sóng
buồm ai cô lữ tới Nam Kinh.
 
2/ ĐI DỌC TIỀN ĐƯỜNG
(Sóng êm Phúc kiến, lửa tàn Chiết Giang)
 
Mênh mông con nước Tiền Đường
triều dâng hoa sóng dễ nhường mắt ai
tàu qua huýt tiếng còi dài
Chuyện xưa bỗng nhớ để hoài xót thương.
Đoạn nào Kiều đã trầm gương
bến nào gặp vãi Giác Duyên  đón về ?
gió chiều se lạnh tái tê
ai người Quân tử sẻ chia Đoạn trường
bâng khuâng đi dọc Tiền Đường
trăm năm đâu chốn mồ chôn Nàng Kiều ?
 
3/ VỚI SÔNG TƯƠNG
 
Tàu đi theo nẻo Sông Tương
đôi bờ phẳng lặng như dường đón ai
núi đồi thon tựa bờ vai
mưa tuôn lệ Liễu bay hoài tương tư
xxx
Cuộc đời trôi nổi bôn ba
gặp sông Tương thấy thật là dịu êm
đầu sông bao cuộc đảo điên (1)
ai châm ngọn lửa đốt miền tre xanh ?
một phen khuấy động Kinh thành
Nông dân vùng dậy thác ghềnh sóng xô
Sông Tương thì cứ lặng tờ
để cho Dương Tử , Hoàng Hà réo sôi.
——
(1) Hồ Nam quê Mao Trạch Đông
 
4/ THĂM HÀN SƠN TỰ

Chùa cổ, thơ đề, vẳng tiếng chuông,
Ngàn năm ngưỡng vọng đến Hàn Sơn.
“ Cô Tô thành ngoại “ in bóng nguyệt
Để khách đa tình phải vấn vương.
xxx
Nắng gắt , người chen, ánh chiều tà,
bờ Phong xoà  bóng , Liễu thướt tha.
Chuông động hồn xưa Hàn Sơn tự,
lên tháp vời trông sóng Vận Hà.
 
 5/ DẠO PHONG KIỀU LỘ
 
Chiều sương dạo phố Phong Kiều
tựa đình Chiết Liễu gió reo đôi bờ
thuyền ai về bến Cô Tô
lửng lơ nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
 
6/ NHỚ LỖ TẤN (1)
 
Qua làng chẳng thấy AQ
nhà cao cửa rộng liền kề tương thân
rượu quê một chén Thiệu Hưng
ai say thời cuộc mà không Chí Phèo ?
——
(1) Văn hào Trung Quốc với nhân vật AQ… VN có Nhà văn Nam Cao với nhân vật Chí Phèo.
                                                             Chiết Giang 18/6/2006
                                                                    Nguyễn Khôi

TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn



Trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, 2026, chúng tôi – một nhóm Phật tử cao niên U70, U80 và U90 từ nhiều vùng miền Hải ngoại và Việt Nam – có dịp thăm viếng, gặp gỡ và chia sẻ với chư tôn đức, quý đạo hữu và thế hệ Phật tử tuổi trẻ mang tính kế thừa về những vấn đề Phật sự; đặc biệt là những thách thức trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình tu học và hoằng pháp. Vô hình chung, vấn đề nổi cộm và tiêu biểu nhất là sự hiện hữu với những tác dụng và thách thức chưa từng có tiền lệ về Trí Tuệ Nhân Tạo (AI).
 

THI SĨ NGUYÊN SA VÀ MỐI TÌNH DUY NHẤT THUỶ CHUNG SUỐT ĐỜI – Bài viết của Niệm Quân


                      Bà Trịnh Thúy Nga khi làm hiệu trưởng trường Văn Học ở Sài Gòn

Cả cuộc đời mình, thi sĩ Nguyên Sa chỉ có một mối tình duy nhất là người vợ đã gắn bó với ông từ thuở học trò cắp sách đến trường cho tới tận khi trút hơi thở cuối cùng, bà Trịnh Thuý Nga. Chính tình yêu với bà đã cho ông niềm cảm hứng dạt dào để khởi sự trở thành một nhà thơ.Mối duyên của họ bắt đầu từ những ngày mùa đông trên đất Pháp như trong lời kể của bà Thuý Nga:

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên thật nhà thơ Nguyên Sa là Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy buôn bán lớn, sợ Việt Minh làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông”.

HỮU LOAN NGƯỜI THƠ BẬN VIỆC LÀM NGƯỜI - Bài viết của Nguyễn Duy

Thành phố Hồ Chí Minh, một ngày thu năm 1988. Tôi đang điều hành cuộc họp cơ quan thường trực phía Nam của tuần báo Văn Nghệ tại trụ sở 43 Đồng Khởi, chợt có người đến tìm gặp, xưng là nhà thơ Hữu Loan, từ quê vào. Lật đật chạy xuống phòng khách, tôi thấy một ông già hom hem, râu tóc lam nham, áo quần xốc xếch, hao hao giống “đười ươi thi sĩ” Bùi Giáng, ngồi co một cẳng lên ghế. Cái cách đó, đích thị Hữu Loan rồi, theo hình dung của tôi. Tôi ôm chầm lấy ông như người quen thân lâu ngày gặp lại.


Nhớ, năm 1988,sau khi được "phục hồi" quyền được viết cùng với tư cách hội viên (sáng lập) Hội Nhà văn VN, "thi sỹ xe thồ" này đã làm cuộc "Nam tiến" bằng xe lửa và xe đạp vào Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Ông đến thăm tôi và sau đó tôi đã mấy lần về quê thăm ông, tại xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn. tỉnh Thanh Hóa. Nay tôi rất vui nhận được tin Thanh Hóa vừa đặt tên đường phố HỮU LOAN. Xin chúc mừng tỉnh nhà và gia đình thi sỹ. Nhân sự kiện văn hóa này tôi post lại bài viết về lần đầu gặp gỡ giữa hai người thơ Thanh Hóa tại Sài Gòn, tháng Tám năm 1988. (Bài viết vào dịp tang lễ cụ Tú Loan, 2010, đã được đăng trrên vài tờ báo hồi đó và in trong GHI & NHỚ - tuyển tập bút ký của Nguyễn Duy (nxb Hội Nhà văn).
Ông là nhà thơ đàn anh, người đồng hương xứ Thanh của tôi, nơi nổi tiếng “địa linh, nhân kiệt”. Ông thuộc lọai “nhân kiệt”, không chỉ là “hào kiệt” mà còn là “cùng kiệt”, một thường dân kiệt quệ theo nghĩa đen.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

VỀ TỐ HỮU - Trích hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh

           “Pouchkine có từ điển, sao Tố Hữu không có từ điển”!


Tố Hữu trông người nhỏ nhắn, nhẹ nhõm như một thư sinh. Nhưng rất hách. Tôi đã nghe Hoàng Cầm nói, ông đã từng ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác bằng sáu tiếng ngắn gọn:
“Gọi nó về, bắt lấy nó”.
Tôi đã chứng kiến Nguyễn Đình Thi sợ ông như thế nào, tôi ví như con cua co dúm người lại trước con ếch.
Tôi đã nghe Hoàng Ngọc Hiến thuật lại về Tố Hữu trong cuộc họp nhà văn đảng viên hồi tháng sắu năm 1979. Nguyên Ngọc trình bầy bản đề cương chống Mao-ít. Tố Hữu đã quạt cho Nguyên Ngọc một trận, cho đây là hiện tượng “ngược dòng”, ông có cách nói mỉa mai rất ác. Nhân thấy Nguyên Ngọc, người thấp, nhân làm đổ cái micro trên bàn chủ tịch đoàn, ông nói:
Cái bục này đối với tôi hơi cao, đối với anh Nguyên Ngọc thì cao quá!”.
Ông còn đến vuốt râu Nguyên Hồng:
“Để râu sớm quá đấy, để trốn họp chi bộ chứ gì!”.
Gần đây Kim Lân còn cho tôi biết, hôm ấy, Tố Hữu đến chỗ Kim Lân, nói:
“Dạo này viết ít quá đấy!”.
Kim Lân buột miệng nói:
“Bác lại phê bình em rồi!”.
Có vậy thôi mà nghĩ sợ quá. Kim Lân nói:
“Tôi nhớ trong truyện Tam Quốc, có hai anh bạn thân, sau một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về những kỷ niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu. Sợ quá!”.
Tôi chắc Kim Lân sợ thì có sợ, nhưng làm gì đến nỗi thế. Bọn nhà văn là chúa hay phóng đại.
Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu nói nhỏ với anh:
“Ông Lành đang nói sao cậu lại cười?”.
Khải sợ quá, vội chối:
“Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu!”.

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

SAO TÌNH DỤC TRONG TỬ VI – Đặng Xuân Xuyến



Tử vi xem tình dục như một động lực chi phối mạnh mẽ tinh thần, tâm linh và thể xác của con người nên người sáng lập ra môn Tử Vi là Trần Đoàn đã mô tả đời sống tình dục của con người qua số lượng các sao tình dục khá đông trong tỷ lệ các chính tinh và phụ tinh. Với số lượng 20 sao tình dục trong 111 sao (theo lý thuyết của Tử vi Việt Nam) cho thấy quan niệm của khoa Tử Vi về ảnh hưởng của tình dục rất sâu rộng trên kiếp sống con người.
 

HỒI ÂM ĐẠO HỮU ĐÀO VĂN BÌNH, NHÂN VIẾT - ĐỌC - PHẢN HỒI VỀ BÀI “TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO VÀ THÁCH THỨC TRÍ TUỆ NHÂN TẠO”- Bài viết của Trần Kiêm Đoàn



“Sep 18, 2026 at 6:01 AM Vital_Info! <daovanbinh@sbcglobal.net> wrote:”

Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn ơi. Intelligence có nghĩa là Thông Minh chứ không phải trí tuệ. Trong nước tiếng Anh kém cho nên dịch bừa là Trí Tuệ và hải ngoại bắt chước theo. Trí Tuệ là Mind hoặc Wisdom. Con chó, con mèo, con cọp con sư tử, thậm chí con rắn cũng rất thông minh nhưng không có Trí Tuệ.
 
Một tên trộm hay sát nhân cũng rất thông minh nhưng không có trí tuệ. Nếu có Trí Tuệ thì đâu có đi ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, giết người. Trí tuệ là sự thông suốt bản thể của cuộc sống và thiên nhiên. Người Âu Châu vì quá thông minh cho nên đi xâm chiếm toàn thế giới và biến họ thành thuộc địa. Nay nhờ có Trí Tuệ soi sáng mà họ thấy đó là tội ác và sai lầm. Thông minh nhiều khi chỉ hại người và là một tội ác. Thông minh khám phá ra nguyên tử. Từ nguyên tử chế thành bom nguyên tử hủy diệt loài người và trái đất này.
 
Chúng ta cần mở mang trí tuệ hơn là thông minh. Tôi dù ngu đần (không Intelligence) nhưng lúc nào cũng cố gắng mở mang trí tuệ để mong đạt tới An Lành, Hạnh Phúc, diệt trừ Tham Sân Si. Càng thông minh con người càng lừa dối, giết hại nhau và thế giới càng đi tới hủy diệt, hỗn loạn. Tôi sợ sự thông minh lắm. Vài hàng chia sẻ với đạo hữu.
                                                                                   Đào Văn Bình
*

THÁI THANH, TIẾNG HÁT MỘT THỜI LÊNH ĐÊNH – Bài viết của Hoàng Hải Thuỷ


Ca sĩ Thái Thanh

Nàng từ chối mọi lời mời của những ông chủ mới để hát những bài hát mới, đứng trên sân khấu mới để hát cho những con người mới.
Sáng sáng, nàng bận bộ bà ba tối màu, vì áo dài bấy giờ đã là một thứ quá xa xỉ, che nghiêng nón lá và bước đi về phía chợ, mua những mẩu bánh mì cũ cho bữa ăn.
Sau khi bán lần mòn trang sức, nàng mở gánh nước bán loanh quanh trong các con hẻm, cung đường nhỏ trong thành phố để kiếm kế sinh nhai cho những đứa con.


Nhưng khi đêm về, tại nhà thân hữu, nàng được âm thầm mặc áo dài, âm thầm phục sức, phấn sáp và rảo tay trên những phím đàn, nhỏ nhẹ ngước nhìn họ và hỏi đầy duyên dáng “Bây giờ, anh muốn nghe bài gì?” như chưa từng có bất cứ sự khó nhọc nào. Khi đó nàng đã trở thành một con người hoàn toàn khác hoặc nàng đang quay về, trở lại là chính nàng, của trước kia.

DỊCH GIẢ HÀ MAI ANH - Theo Fb Nguyễn Thị Bích Hậu



Người trong hình chính là ông Hà Mai Anh, dịch giả của "Tâm hồn cao thượng".
Cuốn sách gối đầu giường của tôi từ bé thơ. Hà Mai Anh quê ở Thái Bình, ông đậu bằng Cao Ðẳng Tiểu học và trường Sư phạm, từng làm giáo học và hiệu trưởng ở các tỉnh ở Bắc Kỳ.
Ông trở thành tác giả giáo khoa. Ngay từ năm 1938 cuốn Công dân giáo dục do ông viết đã được xuất bản tại Nam Định và được  xử dụng làm SGK thời đó.

Vào những năm đầu 1940, ông dịch cuốn Tâm hồn cao thượng (tiếng Ý: Cuore) đoạt Giải thưởng Văn chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội năm 1943, dịch từ tiếng Pháp.


MỘT NÉN NHANG VÀ NHỮNG CÁI ĐẦU ĐÓNG KÍN – Bài viết của Nguyễn Quốc Chính



Mấy hôm rày, thấy lãnh đạo TP.HCM đến dự lễ giỗ Đức Thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt, một số người lại nhảy dựng lên chửi bới.
Họ chửi ông.
Họ chửi người thắp nhang.
Họ chửi luôn cả thành phố đã gìn giữ lăng mộ và hương khói cho ông gần hai thế kỷ.
Gã chỉ muốn hỏi: Các vị đang bảo vệ lịch sử, hay đang nhân danh lịch sử để khoe sự thiếu hiểu biết của mình?

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

CHIẾT TỰ CHỮ PHONG 豊 - Dịch Thuật Hán Nôm



Hán–Việt: Phong
Nghĩa Việt: Phong phú, dồi dào, đầy đủ; sung túc, thịnh vượng.
Phiên âm (Pinyin): fēng

Chữ (Hán–Việt: Phong) là một chữ Hán mang nghĩa phong phú, đầy đủ, dồi dào và thịnh vượng. Chữ này gợi lên hình ảnh lễ vật, của cải được bày biện đầy đủ, từ đó biểu thị trạng thái sung túc, phong thịnh. Nghĩa của chữ không chỉ dùng để nói về vật chất dồi dào mà còn có thể mở rộng sang sự phong phú về tài năng, tri thức, đức hạnh và đời sống tinh thần.

Theo hình thể chữ Khải, chữ gồm hai thành phần: +
Chữ (Khúc) mang nghĩa cong, uốn, khúc; trong hình thể của , phần này nằm phía trên và góp phần tạo nên hình dáng tổng thể của chữ.
Chữ (Đậu) vốn là hình một loại đồ đựng dùng trong nghi lễ thời cổ, thường dùng để đựng lễ vật. Trong chữ , gợi hình ảnh một vật chứa lễ được đặt bên dưới phần .
Có thể trình bày: = +
Khi kết hợp + , có thể gợi nên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy đặn, biểu thị sự đầy đủ và sung túc.
gợi hình ảnh vật chứa lễ vật, còn góp phần tạo nên hình thể của chữ. Từ hình ảnh lễ vật đầy đủ trong các nghi lễ cổ, chữ phát triển thành những ý nghĩa như phong phú, dồi dào, sung túc và thịnh vượng.
Vì vậy, có thể được ghi nhớ qua hình ảnh: “Lễ vật đầy đủ, của cải dồi dào → phong phú, sung túc.”

Các từ ngữ quen thuộc có chữ này
豊富 (Phong phú): dồi dào, nhiều và đa dạng.
豊饒 (Phong nhiêu): màu mỡ, sản vật dồi dào, phong phú.
豊盛 (Phong thịnh): đầy đủ, sung túc, thịnh vượng.
豊年 (Phong niên): năm được mùa, mùa màng dồi dào.
豊穣 (Phong nhượng): mùa màng phong phú, sản vật dồi dào.
豊滿 (Phong mãn): đầy đặn, sung mãn, đầy đủ.

Nhìn từ góc độ chiết tự, = + gợi lên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy, tượng trưng cho sự đầy đủ và sung túc. Hình ảnh ấy giúp người học dễ liên tưởng đến ý nghĩa phong phú, dồi dào, thịnh vượng của chữ.

Vì vậy, chữ Phong không chỉ gợi đến sự giàu có về vật chất mà còn có thể được hiểu rộng hơn là một trạng thái đầy đủ và dồi dào trong cuộc sống. Một đời sống “phong” không nhất thiết chỉ nhiều của cải, mà còn có thể là phong phú về tri thức, giàu có về tình nghĩa và đầy đặn về đức hạnh.
 
                                                                     Dịch Thuật Hán Nôm

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

HƯ VÔ – Thơ Đặng Xuân Xuyến


   

(Với Nguyễn Toàn Thắng)

Ừ, thì thêm vài chén
Cho tỉnh chìm vào say
Ta đã ngán loay hoay
Đến đâu? Từ đâu đến?
 
Ừ, đời là chuỗi bến
Chỉ âm thầm đổi ga
Cõi trần xoay hối hả
Nụ cười hằn vết nhăn
 
Ừ, kiếp sống khó khăn
Gán niềm tin cá độ
Đời đã là bể khổ
Thôi, trả về hư vô..
 
Hà Nội, sáng 13 tháng 9/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

BÀI THƠ THÁNG CHÍN, HẠNH PHÚC KHI ĐỜI CẠN KHỔ ĐAU – Thơ Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


   

Bài Thơ Tháng Chín
 
Chiếc bóng hoàng hôn dần xuống thấp
mùi cau gió thoảng dịu dàng hương
gà con chiu chít quanh gà mẹ
họat cảnh yên bình thật dễ thương …
 
Nét họa khắc sâu từ tháng chin
khơi gợi hồn ta những nhớ nhung
lăn tăn gợn sóng lùa hoa súng…
trăng gió giao thoa nước lạnh lùng
 
Hành trang trỉu gánh quê hương nặng
há dễ nào phai nhạt cõi lòng
cho dù xa nửa vòng trái đất
quyến luyến theo ta tận chốn cùng …
 
Nghe từ gió lạnh đầu mùa đến
nước ngập mênh mông phủ láng đồng
mưa rơi thấm ướt bờ vai mỏng
lắm kẻ đan bè đợi bến sông ...
 
Ta từ lánh nạn đời xa xứ
nương cuộc trầm luân cõi tạm dung
rán quên cố sự tang thương cũ
dấu kín niềm đau xé nát lòng !
 
Ghi lại đôi vần thơ tháng chín
gởi giữa tầng không hỏi gió mây
ai thấu cho mình đời lãng từ
còn ai cảm hết nỗi niềm đây !
 
Tháng chín vườn xưa ngày tuổi mộng
nắng sớm hoe vang tiếng dế mai
hàng tre chênh chếch chiều nghiêng gió
ngõ xóm quanh co,  bãi cát dài…
 
Tháng chin nước dâng đàn cá nhảy
là lệ khai mùa lũ mỗi năm
truyền rằng tháng chín ngày “trùng cửu”
không mưa “điềm” dở bán cày ăn (*)
 
Ngồi buồn lại nhớ mưa tháng chín
nhớ cảnh ngày xưa mước lụt tràn
nhớ cảnh đồng xa cò sải cánh
nhớ vườn nhớ rú nhớ miên man…
 
Tháng chín đem về nợ gió mưa !
tuổi già thân cũng phải sang mùa
đời cũng xế chiều nghiêng bóng đỗ
nhắc chuyện cảm hoài tháng chín xưa !
 
                    Hạ Thái Trần Quốc Phiệt
Từ thung lũng Hoa Vàng Jul 17/2026.
 
(*)  “Mồng chín tháng chin không mưa
         Cha con bán cả cày bừa mà ăn
                                                (ca dao)

NHÀ THƠ HỮU LOAN – Thơ Nguyễn Khôi

Lời thưa:
Nhân sự kiện dân làng quê xếp hàng khuân đá Xây mộ Nhà thơ Hữu Loan, Nguyễn Khôi có đôi vần cảm tác


“Sống đập đá sống nhờ bán đá,
Chết, bà con xếp đá xây mồ .
Những nòi Ác bá xin đừng đến,
Để đá Thanh Hoa xanh hồn thơ”.
 
                  Hà Nội 15-9-2026
                    Nguyễn Khôi
……

- Thanh Hoa là tên cũ của Xứ Thanh , sau Nhà Nguyễn kỵ huý , bắt đổi là Thanh Hoá.

BỐN THÁNG TRÊN ĐẢO HOÀNG SA – Hồi ký của Hoa Nghiêm

Một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa ghi lại những ngày nhọc nhằn lẫn thích thú khi theo gót Robinson Crusoe sống một thời gian trên hòn đảo hoang vắng.
 
Ảnh chụp bài viết trên bán nguyệt san Thời Nay số 284 (1972)
 
Đại đội chúng tôi còn năm hôm nữa sẽ xuống tàu ra đồn trú ở đảo Hoàng Sa. Đơn vị chúng tôi là đại đội tiếp lực đóng tại Vĩnh Điện thuộc Tiểu đoàn X. Sau những năm dài vào sinh ra tử chiến đấu cam go, nay có dịp xả hơi nên tuy phải đổi ra một đảo hoang vắng mọi người đều có vẻ thoải mái. Ngay từ khi mới nhận được lệnh, chúng tôi liền giở thư báo tin cho người nhà biết và mua sắm các loại vật dụng cùng thực phẩm cần thiết.
 
Biết rằng Hoàng Sa là một quần đảo hoang vu không có dân cư, để chuẩn bị thức ăn tươi, ngoài số quan nhu vật thực do đơn vị đảm trách, các trung đội họp nhau vạch kết hoạch chung tiền mua hạt giống ra củ, đậu cà, mua gà con, heo giống đem theo nuôi, người ta còn mua cả lưỡi câu, lưới, chỉ, ny lông để bắt cá. Riêng cá nhân mỗi người đều sắm sửa mang theo nào tiêu, ớt, hành, tỏi, dầu, đường, bột mì. Người thì mang theo thuốc lá, cà phê hộp, sữa, sách, truyện, có người mang theo cả chó con, mèo và cả chim sao nữa. Chúng tôi chuẩn bị sống cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết Lỗ Bình Sơn trên hoang đảo.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

MỘT CÕI ĐI VỀ, NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN – Bài viết của Nguyễn Tuấn




Tôi rất thích ca khúc ‘Một cõi đi về’ của Trịnh Công Sơn, và hát nghêu ngao không biết bao nhiêu lần. Để rồi một ngày mình nhận ra thông điệp của bài hát.
Một cõi đi về được Trịnh Công Sơn sáng tác vào khoảng cuối năm 1974, hay đầu năm 1975. Đó là thời điểm đầy biến động của Việt Nam. Tuy nhiên, phải đợi đến năm 1980 ca khúc mới được phổ biến rộng rãi.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

GÁC CU “THÚ NGU”TAO NHÃ – Bài viết của Ngô Văn Tuấn


                                                              
Dân gian ta có câu “Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lảnh nợ, gác cu, cầm chầu”. “Nghề” gác cu được xếp vị trí thứ 3 tức “đệ tam ngu”. Mấy cái ngu như làm mai, lảnh nợ thì hệ quả đã rõ ràng, còn như gác cu, dù là “tam ngu”nhưng xem ra cái ngu này đã khiến nhiều người mê mẩn , quên ăn, quên ngủ. Có người còn bảo đây là cái ngu tao nhã, ngu phong lưu, cái ngu mà rất ít người học được.
 
Nhà tôi ở làng Phước Bình Tân An, La Gi Bình Thuận.  Nhà vườn rộng, trồng toàn  mít với đào. Sáng nào thức dậy quét lá cũng nghe tiếng cu gáy rân vườn. Buổi trưa treo võng nằm hóng gió, lại cũng thẫn thờ với tiếng gáy chim cu. Nghe riết rồi quen, rồi ghiền, bữa nào thức dậy thấy vắng tiếng chim,nghe nó buồn buồn, quạnh hiu sao ấy.
 
Tôi đã vậy, cạnh nhà lại có thêm chú em Ba Ánh bị nghiện nặng thú gác cu. Hai anh em hễ bận thôi, rảnh là mang lồng, đem cu mồi đi nhữ. Dòng sông Dinh vào mùa hè chim chóc líu lo. Những rẫy mít, rừng bụi là nơi cu hò hẹn trao tình, tiếng gáy, tiếng gù cứ như có ma lực cuốn hút khó cưởng.
Lại nói về cu: Cu có nhiều loại, cu đất, cu cườm, cu ngói, cu xanh… Ở nông thôn Việt Nam ai mà chẳng từng nghe cu gáy. Tiếng chim cu cũng đã đi vào thơ ca rất dịu dàng , đằm thắm :
“Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao/ Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ/ Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự…”
 

RƯỢU ĐẾ TRONG DÂN GIAN TÂY NAM BỘ - Bùi Tuý Phượng



Khó có thể biết được rượu ra đời từ lúc nào, ở đâu, song nói về rượu, về tác dụng chữa bệnh, về văn hóa uống rượu thì tất cả các dân tộc trên thế giới đều có. Ở Việt Nam, rượu gắn với sinh hoạt cộng đồng, với các nghi lễ, hội hè, đình đám, với những lời thề ước, nhưng nếu uống rượu quá đà cũng gây nhiều phiền lụy...
 
Chính vì vậy, chẳng biết tự bao giờ, rượu đã đi đời sống văn hóa của người bình dân và bằng cách này hay cách khác nó đã tồn tại trong cộng đồng người Việt nói chung, trong đó có người dân đồng bằng sông nước Cửu Long.
 
Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam, phần được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 4.000 km2, chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, một số đảo (lớn nhất là đảo Phú Quốc) cùng một vài dãy núi thấp ở phía Tây An Giang, Kiên Giang. Lịch sử hình thành vùng đất này gắn liền với bước chân những người đi mở cõi thế kỷ XVII – XVIII
 
Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũng kinh
 

KHI TÂM LÀNH SỐ PHẬN SẼ BÌNH YÊN – Bài viết của Đào Anh Dũng

(Viết khi đọc bài thơ “Lãng Tử” của Đặng Xuân Xuyến)


Đọc "Lãng Tử" của Đặng Xuân Xuyến, người ta dễ nghĩ đây chỉ là vài câu thơ vịnh cảnh giao mùa hay cái cớ để sẻ chia với một kiếp sống cô độc. Nhưng với những ai hay nhìn đời qua lá số Tử Vi, bốn câu tứ tuyệt này lại giống như một bức tranh định mệnh thu nhỏ. Tác giả đã mượn chuyện trăng sao, thiên can để nói về những trắc trở, lận đận của đời người. Đằng sau những câu chữ tặng cho người bạn tri âm Mạc Phong Tuyền là một cái nhìn rất người, mở ra lối thoát cho số phận bằng chính sự thức tỉnh trong tâm hồn. Đó là sự dịch chuyển từ việc chấp nhận vận số sang việc tu sửa hướng thiện cho cái tâm của chính mình.

LÃNG TỬ...
(Tặng Mạc Phong Tuyền)
 
Nguyệt (1) đáo Tỵ cung (2) hội chữ Canh (3)
Mệt người lãng tử áo mỏng manh
Năm canh gió lạnh lùa vai lạnh
Tiết Xuân thắc thỏm ngọn gió lành!
------
(1): là sao Thái Âm (Nguyệt) trong khoa Tử vi
(2): là 1 trong 12 cung của lá số Tử vi
(3): là 1 trong 10 Can của phép tính Âm dương Ngũ hành.
 
Hà Nội, 1g59 ngày 14/04/2023
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

KỶ NIỆM MỘT THỜI SỐNG NGHÈO VỚI NGUYỄN BÍNH Ở RẠCH GIÁ – Bài viết của Kiên Giang Hà Huy Hà


     
Nhà thơ Nguyễn Bính 

Nguyễn Bính là nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ Thơ Mới thập niên 1930 - 1940, còn thi sĩ – soạn giả Kiên Giang là một tên tuổi nổi bật của thi đàn miền Nam trước năm 1975.

Giữa họ đã từng có một cuộc tương phùng thú vị, được chính Kiên Giang kể trong một bài báo năm 1968 ở sau đây:

Hồi đó khoảng năm 1944, một người bạn cho tôi hay Nguyễn Bính hiện đang tá túc tại nhà của 1 công chức ở xóm biển của quê hương tôi (Rạch Giá- Kiên Giang). 

LẠC NHAU – Thơ Lê Kim Thượng


  

Lạc Nhau
 
1.
Cái thời thuở ấy chưa chồng
Cỏ Khâu may áo, áo hồng đào rơi
Nhớ ngày thuở ấy chung đôi
Bây giờ xa cách vẫn ngồi nhớ em…
Nhớ môi hồng thắm ướt mềm
Lắng nghe hơi thở nhẹ êm ngọt ngào
Hãy yêu cho thật dạt dào
Tiếng em thủ thỉ lời trao nhẹ mềm…
Dỗi hờn, hờn dỗi chi em
Đem tình tôi thả xuống miền ưu tư
Dìu em vào cõi mộng du
Mây hồng lãng đãng mùa thu nắng tà
Hẹn thề mình mãi không xa
Dù cho trắc trở, vẫn là của nhau
Dù tình ngang trái thương đau
Tôi em vẫn giữ tình đầu mãi yêu…
 
2.
Tình ta giông bão đã nhiều
Nhắc làm chi nữa trăm điều xót xa
Tình ta chát đắng đậm đà
Người đi xa mãi, bỏ ta thất tình
Sao không nói thật lòng mình
Đinh ninh lời hẹn, đinh ninh lời thề…
Tình xa sao vẫn si mê
Bóng xưa em vẫn đi về… trong mơ
Lâu rồi vẫn đợi, vẫn chờ
Trở nghiêng gối mộng, hững hờ canh thâu
Em về đâu… Anh về đâu…
Trăm năm mình đã lạc nhau giữa đời
Giờ đây người đã xa người
Còn tôi thao thức giữa trời mưa Ngâu
Tôi về gom nhặt thương đau
Gom tình đã lỡ qua cầu… buông trôi…
 
              Nha Trang, tháng  09. 2026
                    LÊ KIM THƯỢNG