BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI KỶ HỢI 2019 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2019

TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA VIỆT NAM - Hoàng Đằng


                
                                    Tác giả Hoàng Đằng


          TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA VIỆT NAM
                                    (Ngôn ngữ và văn tự)
                                                                               Hoàng Đằng

Thời gian này, có ý kiến trái chiều về việc lấy tên giáo sĩ Francisco De Pina và giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre De Rhodes) đặt tên cho hai con đường nào đó tại Đà Nẵng.
Qua những ý kiến đưa ra, tôi thấy đang có sự lẫn lộn giữa TIẾNG NÓI và CHỮ VIẾT (Ngôn ngữ và văn tự) ngay cả trong giới trí thức.

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

ALEXANDRE DE RHODES VÀ SỰ TƯỞNG TƯỢNG VỀ LỊCH SỬ CẬN ĐẠI CỦA NỀN SỬ HỌC VIỆT NAM - Khôi Nguyễn

Nguồn:
https://usvietnam.uoregon.edu/vi/2019/11/27/alexandre-de-rhodes-va-su-tuong-tuong-ve-lich-su-can-dai-cua-nen-su-hoc-viet-nam/?fbclid=IwAR0FFflok2L4KV0VHhyeOPGCeRDdWh1xRklsnPm2Z6LmzdKGIE2Oe_VUHj4

               
                         Alexandre de Rhodes Ảnh: Internet


ALEXANDRE DE RHODES VÀ SỰ TƯỞNG TƯỢNG VỀ LỊCH SỬ CẬN ĐẠI CỦA NỀN SỬ HỌC VIỆT NAM

                                                                  Tác giả: Khôi Nguyễn 
                                                              (Đại học Oregon, Hoa Kỳ)

Gần đây, thành phố Đà Nẵng muốn lấy tên Alexandre de Rhodes để đặt tên đường phố. Một số trí thức, trong đó có nhiều người giảng dạy lịch sử trong môi trường đại học, viết thư phản đối, cho rằng Alexandre de Rhodes là một nhà truyền giáo mang tư tưởng thực dân, là kẻ có tội với Việt Nam. Lá thư của họ khiến cho thành phố Đà Nẵng rút lại ý định.
Tuy vậy, những người phản đối ấy hoàn toàn dựa theo những niềm tin có tính tưởng tượng về Alexandre de Rhodes nói riêng và hình ảnh “Tây phương” nói chung, được kiến tạo từ trước 1975 ở miền Bắc.
Bài viết này nhắc lại một cách ngắn gọn những tưởng tượng về lịch sử ấy để gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về sử học, giáo dục và chính trị đương đại.

KHÁM PHÁ HỒ TÂY: NHÀ TRANH, GỐC LIỄU CỦA THẠCH LAM - Nguyễn Ngọc Tiến


                                     Nhà văn Thạch Lam và các tác phẩm tiêu biểu


       KHÁM PHÁ HỒ TÂY: 
       NHÀ TRANH, GỐC LIỄU CỦA THẠCH LAM 
                                                                   Nguyễn Ngọc Tiến

Hồ Tây gắn liền với những văn sĩ tài hoa bậc nhất của thi đàn Việt Nam, từ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, cho đến sau này là Thạch Lam, tác giả của “Hà Nội ba sáu phố phường”. Nhà văn yểu mệnh này có căn nhà soi bóng xuống Hồ Tây, đã đi vào thơ bạn bè mà không hề tô vẽ: Tây Hồ có danh sĩ/ Nhà thì ở nhà tranh/ Cửa trúc cài phên gió/ Trước thềm bóng liễu xanh…”
  

KHÁM PHÁ HỒ TÂY: PHAN KẾ BÍNH VÀ “ĐÊM TRĂNG CHƠI Ở HỒ TÂY” - Nguyễn Ngọc Tiến


                                                         Học giả Phan Kế Bính


KHÁM PHÁ HỒ TÂY: PHAN KẾ BÍNH VÀ “ĐÊM TRĂNG CHƠI Ở HỒ TÂY
                                                                    Nguyễn Ngọc Tiến

Thụy Khuê là làng bên Hồ Tây có truyền thống văn học. Làng có văn chỉ ở cạnh đình Đoài. Về học hành, có ông Nguyễn Đoan (1473 - ?) đỗ tiến sĩ đời vua Lê Hiến Tông (1502). Đến đời Nguyễn, ít người đỗ đạt hơn, chỉ có gia đình cụ Tú nho sinh ra Phan Kế Bính là học hành cao hơn cả. Bài ký Đêm trăng chơi Hồ Tây của ông có thể coi là một áng văn tuyệt bút viết về thắng cảnh lừng danh này của Thăng Long - Hà Nội.

QUỐC HIỆU ĐẠI NGU THỜI NHÀ HỒ MANG Ý NGHĨA GÌ? - Nguyễn Thanh Điệp




Theo Từ điển bách khoa Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt:

Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ, tồn tại từ năm 1400 đến khi cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị bắt năm 1407.
Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu vào tháng 3 năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau đó vào tháng 4 năm 1407, nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và tên Đại Ngu không được dùng làm quốc hiệu từ thời điểm đó. Sau khi nhà Hậu Lê chiến tranh giành lại độc lập, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt.
Chữ “Ngu” () trong quốc hiệu “Đại Ngu” (大虞) của nhà Hồ có nghĩa là “sự yên vui, hòa bình", không phải chữ "Ngu" () mang nghĩa là "ngu ngốc". “Đại Ngu” có thể hiểu là ước vọng về một sự bình yên rộng lớn trên khắp cõi giang sơn.

Có một thuyết khác cho rằng họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn, là một trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ. Sau này con Ngu Yên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần, gọi là Hồ công Mãn, sau dùng chữ Hồ làm tên họ.[cần dẫn nguồn] Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu.


QUỐC HIỆU ĐẠI NGU THỜI NHÀ HỒ MANG Ý NGHĨA GÌ?
                                                                          Nguyễn Thanh Điệp

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Hồ Quý Ly trước có tên Lê Quý Ly, tự là Lý Nguyên, sinh năm Ất Hợi (1335), quê ở tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Hồ Quý Ly có 2 cô làm phi tần của Trần Minh Tông, một bà sinh ra Trần Nghệ Tông, một sinh ra Trần Duệ Tông, nhờ đó nên được vua Trần tin dùng.


Theo sách “Việt Nam sử lược”, từ lúc làm vua cho tới khi làm thái thượng hoàng, Trần Nghệ Tông một mực tin dùng Hồ Quý Ly, bất chấp mọi sự can ngăn của hoàng thân quốc thích.


Theo sách “Lịch triều hiến chương loại chí”, sau khi thượng hoàng Trần Nghệ Tông qua đời năm 1394, Hồ Quý Ly ngày càng chuyên quyền. Đến tháng 3/1400, ông phế bỏ cháu ngoại là vua Trần Thiếu Đế tự xưng làm vua.


Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly cho xây dựng kinh đô mới ở Vĩnh Lộc (Thanh Hoá) đổi tên nước thành Đại Ngu và tập trung xây dựng quân đội. Hồ Quý Ly đổi quốc hiệu nước ta từ Đại Việt sang Đại Ngu, với mong muốn xây dựng một quốc gia phồn thịnh. Đại Ngu theo tiếng Hán còn có nghĩa “Sự yên vui, hoà bình”.


Theo “Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục”, Hồ Quý Ly từng cho thống nhất lại chuẩn đo lường để buôn bán; quy định người đỗ thi Hương phải qua kỳ thi Toán pháp mới được thi Hội; lưu thông tiền giấy.


Không được nhân dân ủng hộ, nhà Hồ nhanh chóng thất bại như Hồ Nguyên Trừng đã nói: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”.


Theo sách “Việt Nam sử lược”, nhà Hồ trị vì từ năm 1400-1407, trải qua 2 đời vua gồm Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương. Sau khi kháng chiến thất bại, cha con Hồ Quý Ly bị bắt.

                                                                            Nguyễn Thanh Điệp

Nguồn:
https://news.zing.vn/quoc-hieu-dai-ngu-thoi-nha-ho-mang-y-nghia-gi-post1019016.html

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2019

CHÚNG TA MẤT HẾT CHỈ CÒN NHAU, VỊNH TRANH GÀ LỢN - Thơ Vũ Hoàng Chương


      

Theo ông Hoàng Tấn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau” tặng nghệ nhân Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam (danh hiệu NSND), xưa từng là bạn cố tri của nhà thơ Vũ Hoàng Chương.
Hát ca trù cần có “đàn đáy”, do đó nội dung bài thơ sau đây đầy ắp những từ hát cô đầu, âm thanh vang tiếng “sênh, đàn, phách”.


    


CHÚNG TA MẤT HẾT CHỈ CÒN NHAU

Sáng chưa sáng hẳn tối chưa đành
Gà lợn om sòm cả bức tranh
Rằng vách có tai thơ có họa
Biết lòng ai đỏ mắt ai xanh

Dấu hỏi xoay quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thắm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đanh đóng vào săng tiếng trả lời

Chúng ta mất hết cả rồi sao ?
Cả đến âm thanh một thuở nào !
Da trống tơ đàn ôi trúc phách
Đều khổ như khúc hát gầy hao

Đàn mang tiếng đáy mà không đáy
Mất hết rồi sao sợi nhớ thương
Tay phách từ lâu nay lạc phách
Không còn đựng mãi bến Tầm Dương.

Hơi ca nóng đã tan thành tuyết
Để tiếp vào cho nó đỡ xanh
Bạc mệnh hỡi ai hoàn mệnh bạc
Đâu còn ấm nữa rượu tàn canh ?

Hay là đêm ấy Ngưu lìa Chúc
Xé nát mình ra hoen mắt ai?
Còn có gì đâu cho mắt trống
Đập lên hoang vắng đến ghê người !

Âm thanh mất hết còn chi đâu ?
Gắng gượng cho thêm hồn nhọc đau
Ba kiếp long đong ngồi chụm lại
Chúng ta mất hết chỉ còn nhau.

                          Vũ Hoàng Chương

“NHÀ TÔI”, CHIÊU ĐẸP CỦA YÊN THAO - Nguyễn Khôi


            
                                Nhà thơ Yên Thao


Yên Thao (Nguyễn Bảo Thịnh), sinh năm 1927, quê Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1946, anh đi Bộ đội, có Thơ nổi tiếng cùng thời với Quang Dũng, Tất Vinh, Hồng Nguyên...

Năm 1949, anh công tác ở Văn nghệ Liên khu 3, trong một lần cùng đơn vị tham gia đánh  một "đồn" quân Pháp ven sông ở một Làng Đồi; trong lúc chờ nổ súng, anh trò chuyện với một Chiến sĩ quê ở ngay Làng Đồi (địch đang chiếm đóng), mà phía bên ấy còn có mẹ già, vợ trẻ cùng giàn hoa Thiên lý... Qua câu chuyện của đồng đội kể, Yên Thao rất xúc động, đồng cảm liên tưởng cứ như câu chuyện của chính mình, thế là trong đầu anh cảm hứng xuất thần một "tứ thơ" vụt hiện : NHÀ TÔI... Bài thơ được mọi người chép tay, thuộc lòng, nhanh chóng truyền bá vào tới tận Nam Bộ kháng chiến, không chỉ với lính xuất thân nông thôn mà cả với lính thành phố cũng thấy thấp thoáng trong bài thơ những nét hợp với mình.

LỜI BÌNH NGẮN VỀ ‘EM’ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Bùi Đồng


       
                Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến


EM

Ta gạ em cạn chén
Thế là em cạn ta
Nửa đời ta trễ hẹn
Em nồng nàn đốt ta.

Run rẩy, em ghì ta
Quấn vào ta hoang dại
Thẫn người, ta ngây dại
Uống em từng giọt say.

Trời đất như cuồng say
Ngả nghiêng theo nhịp phách
Nửa đời trai trinh bạch
Em nhuộm ta ngả màu.

Hà Nội, đêm 21 tháng 01 năm 2015
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


LỜI BÌNH NGẮN VỀ ‘EM’ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN


        
                       Tác giả Bùi Đồng


Đàn ông bao giờ cũng dại tình, một cái dại tự nguyện!
Tác giả "Em" cũng vậy, cũng chỉ ỡm ờ đó thôi.
Mới là "gạ em" thôi, có nghĩa chưa kịp uống tẹo rượu nào thì tình đã ừng ực... uống mình!

"Ta gạ em cạn chén
Thế là em cạn ta!"

NHỚ THƯƠNG VỀ QUÁ KHỨ - Thơ Lệ Hoa Trần


   


NHỚ THƯƠNG VỀ QUÁ KHỨ

Nhớ những ngày áo trắng
Tay cắp sách đến trường
Lòng chỉ biết yêu thương
Hồn nhiên và trong trắng

Không biết hờn, biết giận
Luôn hớn hở vui cười
Giữa ánh nắng xinh tươi
Vô tư Hoa đùa Bướm

Nhớ ngày vừa mười tám
Chân bé bỏng vào đời
Bước sang vòm trời mới
Ánh mắt còn ngẩn ngơ

Bỡ ngỡ. Ôi! Bỡ ngỡ
Bổn phận người làm vợ
Trách nhiệm người làm mẹ
Vạn khó khăn vô bờ

Nhớ! Nhớ sao là nhớ
Những khoảnh khắc cuộc đời
Lúc xuống Chó, lên Voi
Vầng trán ngà thôi nhẵn

Giờ thân gầy, mái trắng
Ngồi nhìn hướng trời xa
Ngắm trẻ thơ nô đùa
Nhớ thương về quá khứ.

                 Lệ Hoa Trần
                 05-12-2019

ĐAU ĐỚN - Thủy Điền


          


  ĐAU ĐỚN

   Hắn cầm trên tay tờ giấy phạt cùng biên lai chứng nhận đã trả tiền phạt cho Hội Bảo vệ Phụ nữ còn nóng hổi, tức giận, đập bàn. Hắn hét lên to giọng.
Trời ơi trời ! Thế là công lao dành dụm hơn một năm trời của tôi đã bị người ta lấy hết rồi.
Bà vợ từ nhà bếp chạy lên.
- Ông có im được không? Thiên hạ gần bên người ta nghe được là mang xấu cả đời
- Kệ họ, tiền tôi mất là tôi phải đau đớn chứ.
- Nhưng mà tại ông nó mới mất, chứ ai nào cướp lấy của ông đâu.
- Mà cũng tại bà nữa.
- Sao tại tôi, tất cả những mưu toan nầy đều do ông tạo dựng. Tôi là vợ, tôi chỉ biết ừ thôi còn cãi lại thì ông cho là chống đối. Thế ông còn trách tôi là trách cái gì. Thôi chuyện đã lỡ rồi, tôi xin ông hãy bình tĩnh và rút kinh nghiệm.
- Bình tĩnh cái gì mà bình tĩnh, rút cái gì mà rút. Bà im đi cho tôi nhờ.
- Tôi không đôi chối với ông nữa và ngoe ngoảy đi nơi khác.

LỤC BÁT MỖI NGÀY - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn


       
                          Nhà thơ  Nguyễn Lâm Cẩn


LỤC BÁT MỖI NGÀY
(Mến tặng chị em facebook)

1
Em về bát đĩa nở hoa
Bạn bè nở ruột còn ta nở lòng

2
Em về bếp dậy mùi thơm
Tập tàng canh ngọt hạt cơm dẻo mềm

3.
Em về lan nở thêm hoa
Đất xanh thêm lá bò ra bí bầu
Cau như quấn quýt dây trầu
Còn anh mấy sợi trên đầu muốn xanh

4
Em về mèo quấn dưới chân.
Cún con oăng oẳng ngoài sân rước vào.
Con gà cực tác đó mào
Còn anh đi vặt lá đào đón xuân

5
Em về thơ viết thêm câu
Cái đầu ít bạc cái râu ít dài
Cái nồi ước luộc nhiều khoai
Cái ly thích nhắm lai rai rượu tình

                        Nguyễn Lâm Cẩn
                       Hà Nội, 6-12-2019

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2019

THÁNG CHẠP VỀ - Thơ Trần Mai Ngân


   
                            Nhà thơ Trần Mai Ngân


THÁNG CHẠP VỀ

Tháng Chạp về...
Môi thôi không ngoan
Tháng Chạp về
Mắt thôi không nhớ
Tháng Chạp về
Ơi... sao thờ ơ!

Khói sương trời cao xanh thẳm
Đã có chúng mình không anh
Cuối mùa trái tình vẫn xanh
Treo lơ lửng nên chín héo!

Tháng Chạp về
Tiếng xưa... tiếng reo
Tháng Chạp về
Những cánh bèo trôi
Tháng Chạp về
Mỗi ngả xa xôi!

Trần Mai Ngân

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

GẶP LẠI BẠN XƯA - Thơ Tịnh Đàm


        
                  Nhà thơ Tịnh Đàm


GẶP LẠI BẠN XƯA
(Gửi tặng bạn Phương Cần Thơ)

Tình cờ, mình gặp nhau đây
Tóc xanh giờ bạc hao
Còn mình, phố thị mưu sinh gầy nét xưa !
Phận người, thế sự đẩy đưa
Bạn xa phố thị, nắng mưa ruộng đồng .

Trời mênh mông, nước mênh mông
Nợ cơm áo vẫn bận lòng sớm, hôm.
An nhiên, tự tại tâm hồn
Nụ cười, ánh mắt thảo thơm nghĩa tình.


Cơm rau hai bữa tâm tình sẻ chia.
Hẹn lần... cứ hẹn thìa lia
Con yêu, vợ quý mai kia đủ đầy.

Vợ thì an phận thợ may
Xích lô thời hết đặt bày cuộc chơi !
Thôi thì... vé số cầm hơi
Quên đi những tháng năm đời trả vay !

Tuổi già đến sớm nào hay
Cười khan một tiếng... thương thay cuộc đời !
Gặp đây, xin có đôi lời
Mai xa còn nhớ tình người... trong nhau.

                                                   TỊNH ĐÀM

SỰ THẬT LOÀI CHIM “BẮT CÔ TRÓI CỘT” KỲ LẠ CỦA VIỆT NAM - Hà Nguyễn

Không chỉ có tên gọi độc đáo, loài chim bắt cô trói cột còn là loài chim có nhiều đặc điểm kỳ lạ của Việt Nam. Ở Việt Nam, chim bắt cô trói cột có ở hầu hết các nơi từ vùng núi rừng đến vùng đồng bằng.


    
             Chim bắt cô trói cột có tên khoa học là Cuculus micropterus.
                                                       Ảnh: wordpress.
      

SỰ THẬT LOÀI CHIM “BẮT CÔ TRÓI CỘT” KỲ LẠ CỦA VIỆT NAM 
                                                                           Hà Nguyễn

 
Đây là loài chim cu cỡ trung bình, con trống và con mái có vẻ ngoài khá giống nhau. Ảnh: thienduongcacanh.

 
Trên thế giới, chim bắt cô trói cột phân bố ở châu Á, từ Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka đến Indonesia ở phía nam và Trung Quốc. Ảnh: thienduongcacanh.

 
Chim bắt cô trói cột thường sống trong rừng, ở độ cao trên 3.600m. Ảnh: blogspot.

 
Chim bắt cô trói cột có nửa thân trên màu trắng trong khi nửa dưới có nhiều vạch trắng đen. Chim non trong tổ có miệng màu đỏ cam và viền màu vàng. Ảnh: pinimg

 
Loài chim kỳ lạ này thích sống trong các khu rừng thường xanh và xanh tạm thời, tuy nhiên chúng cũng sống trong các khu vườn và bụi cây. Ảnh: birdwatchingvietnam.

 
Ở Việt Nam, chim bắt cô trói cột có ở hầu hết các nơi từ vùng núi rừng đến vùng đồng bằng. Ảnh: pinimg.

                                                                                        Hà Nguyễn

Nguồn:
https://doanhnghiepvn.vn/kham-pha/su-that-loai-chim-bat-co-troi-cot-ky-la-cua-viet-nam/20191201023213526  
                                                                           

GIÁO SĨ ĐẮC LỘ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ - Tạp văn của Hoàng Đằng



        
                             Tác giả Hoàng Đằng

        GIÁO SĨ ĐẮC LỘ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ
                                               Tạp văn của Hoàng Đằng

Có người hỏi tôi: “Vì sao sáng tạo chữ Quốc Ngữ là công trình của nhiều người, mà bây giờ khi nói đến chữ Quốc Ngữ ai cũng chỉ nghĩ ngay đến giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ)?”

Trước khi tìm hiểu và suy luận để có câu trả lời cho câu hỏi trên, tôi xin giải thích mấy từ “Chữ Quốc Ngữ”.

“Quốc”“nước”, “ngữ”“tiếng nói”; “quốc ngữ” là tiếng nói của người trong nước. “Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân” đều nói thứ tiếng ấy, nên thứ tiếng ấy được gọi là quốc ngữ. Người xưa gọi là “quốc âm”
                          (Quốc Âm Thi Tập, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị…)

VÀI Ý VỀ CHỮ DÙNG TRONG THƠ (9) - Nguyên Lạc


              
                               Nhà thơ Nguyên Lạc


    VÀI Ý VỀ CHỮ DÙNG TRONG THƠ (9)
                                                                                         Nguyên Lạc

Tiếp nối theo loạt bài viết “Vài Ý Về Chữ Dùng Trong Thơ” (1) đã đăng trên các trang trong và ngoài nước [*]  hôm nay tôi sẽ tiếp tục phân tích việc dùng chữ trong thơ qua việc in ấn sai chữ cùng sự sáng tạo chữ mới. Xin thưa trước, đây chỉ là ý nghĩ chủ quan.

CÓ PHẢI LÀ THU... - Thơ Quang Tuyết


    
                      Nhà thơ Quang Tuyết


CÓ PHẢI LÀ THU...

Sài Gòn sáng nay hình như vào thu
Ngộ chưa?
Miền Trung mình nghe đâu chừ rét mướt
Mà trong ni trời xanh trong gió mát
Se se da
Thoáng lạnh phút bình minh
Em ngước nhìn hàng cây trong sân
Những chiếc lá hôm qua còn khoe màu xanh thẩm
Giờ thay sắc
Vàng rôm như ánh nắng
Muốn gởi chút hương thu
Se sắt đến quê nhà.

Mẹ khoác áo thu đông
Chị khăn san kín cổ
Lòng em thương sương khói thuở còn thơ
Quê hương ơi
Dòng sông cũ xa mờ
Ngày trở rét
Mẹ lặng cời bếp lửa
Sài gòn thu về chỉ trong một thoáng
Mà niềm thương sao ray rức tràn tim.
Trong mắt em
Mùa đã ngập lá vàng
Màu tóc em
Đời vào đông lặng lẽ

                                        Quang Tuyết
                                            Sáng 4/1

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019

ĐI TÌM CÂU TRẢ LỜI VỀ DƯ LUẬN - Đặng Xuân Xuyến


         
               

       ĐI TÌM CÂU TRẢ LỜI VỀ DƯ LUẬN

(Trích từ DƯ LUẬN VÀ XỬ LÝ DƯ LUẬN trong NHỮNG ĐIỀU HẮN QUAN TÂM; Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Thanh Hóa; 2002)

Ngồi tiếp tôi là gã thanh niên trẻ, quãng ba mươi tuổi, với nụ cười nửa ngạo mạn, nửa thân tình nở trên môi. Giọng nói nhẹ nhàng pha chút vẻ kênh kiệu làm cho khuôn mặt dài nhưng khá ưa nhìn của gã trở nên sống động. Gã không đi vào vấn đề tôi cần biết mà cứ thủng thẳng, dông dài chuyện trên trời dưới biển, chuyện ở những đâu đâu mà tôi không thể biết. Những cái rướn mày pha chút vẻ kênh kiệu và nụ cười nửa ngạo mạn, nửa thân tình kia không thể đánh lừa tôi cái cảm nhận: đằng sau vẻ kênh kiệu, bất cần đời là một tâm hồn dạt dào sức sống, một trái tim tha thiết tình người, một tấm lòng mênh mông những nghĩa cử...

TRƯỜNG TRUNG HỌC BÌNH TUY VÀ TÔI - Đoàn Thuận


          
                       Tác giả Đoàn Thuận


         TRƯỜNG TRUNG HỌC BÌNH TUY VÀ TÔI 
                                                                             Đoàn Thuận

 Về lại Quê Nhà, nhưng với tôi, Lagi còn nhiều điều lạ lẫm, vì tôi đã xa quê lưu lạc từ ngày bé thơ, dù có đôi lần đi về.
 Sau đình chiến 1954, tôi về thăm Mẹ, và ở lại chăn trâu gần hai năm, nhưng chỉ quanh quẩn nơi cánh đồng Tân Lý. Năm 1960, khi Má tôi chuyển gia đình từ Bình Châu về xã Phước Hội, huyện Hàm Tân, tôi chỉ về thăm nhà vào dịp Tết, hoặc nghỉ hè...
 Cuối năm 1972, từ Hà Tiên, tôi chính thức chuyển nhiệm sở về Trung học Bình Tuy, gần như trong ngành giáo dục, mọi người xa lạ với tôi. Thường ngày, tôi đến thẳng lớp, dạy xong về nhà, ngại giao tiếp trừ khi cần thiết.

TUỔI SÁU MƯƠI - Thơ Lưu Hương Quế


   
             Tác giả Lưu Hương Quế


TUỔI SÁU MƯƠI

Vắt kiệt chưa ? Ôi cái tuổi sáu mươi !
Khi “cô giáo” được gọi là “bà giáo”
Tay yếu, chân run, xương khớp kêu lạo sạo
Đầu óc lẫn rồi, lúc nhớ lúc quên

Mắt kèm nhèm mở quyển sổ gọi tên
Cô vào điểm hàng trên lên hàng dưới
Chấm tập bài phải ngồi soi suốt buổi
Kính lão hai tròng lẩm nhẩm đọc từng câu.

Một bài văn có những chỗ nông sâu
Đâu dùng thước mà đo gang cho điểm
Đổi mới chuyên môn cũng trở nên lười biếng
Tuổi sáu mươi đầu óc hoá chây ì

Khi lục tuần sức khoẻ chẳng còn gì !
Chân run run... chống gối... trèo bục giảng
Một tay viết, tay vịn vào mép bảng
Nắn nót bao nhiêu vẫn chẳng thể thẳng hàng.

Lại dễ tủi thân trước tình huống trái ngang
Khi trò nhỏ xin chuyển sang lớp khác
Chỉ đơn giản : vì tóc cô đã bạc
Da nhăn nheo, mặt xấu xí đi rồi.

Bài thơ hay, cô đọc bỗng đoản hơi
Nên luyến láy, nghỉ ngừng không đúng chỗ
Leo cầu thang phải hai lần dừng thở
Thử hỏi rằng : Cô dạy dỗ gì đây ?

Đã đến gần “thất thập” hiếm xưa nay
Rời bục giảng khéo phải lo “hậu sự”
Ai may mắn gặp đôi lần bác sỹ
Được bao mùa rồi tính chuyện “quy tiên”

Chỉ ước ao sớm được về vườn
Để được thảnh thơi trồng rau, trông cháu
Hay chả lẽ : Ngày mai cô yếu lão
Đành ngại ngần viết giấy cáo dạy thay?!

Tuổi “làm phiền” cũng đến từ đây
Nay nhức mỏi, ngày mai đau ốm
Dạy trên lớp mà lòng còn thắc thỏm :
Nồi cá kho đã tắt bếp hay chưa ?

Cống hiến hy sinh nên ở mức đủ vừa
Phải quy định ngành nghề cho phù hợp
Hãy xuống xem những giáo viên đứng lớp
Họ làm gì ở cái tuổi SÁU MƯƠI ?

                      Yên Thành, 23 / 11/2019
                            Lưu Hương Quế