BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

BÀI THƠ MỪNG NĂM MỚI LÀM SỚM - Trần Vấn Lệ



Những ngày năm sắp Tết thấy ai ai cũng vui... Nhà Thờ, Chùa, chuông rơi rải như trăm hoa nở...
 
Lịch mỗi ngày một gỡ... nhưng lại như dày thêm!  Năm mới là Tân Niên... hình như chim cũng biết?
 
Chim nói gì thân thiết mà người ta cười cười?  "Sắp Tết rồi! Sắp Tết rồi!". Ôi một bầy con nít!
 
Người mình ngộ ngộ thiệt:  Đây là xứ Hoa... Kỳ (*)!  Ờ mà chẳng bận gì, tôi làm thơ Năm Mới...
 
*
Năm mốt năm chờ đợi, năm hai năm tiếp theo, thời gian... gió hiu hiu qua thôi thời dông bão?
 
Lịch thay như thay áo!  Áo mới mặc xun xoe.  Không ai chải tóc thề.... để đăm chiêu quá khứ!
 
Đừng có khuyên ai bỏ!  "Không nhớ thì hẳn quên!".  Chuyện rất là đương nhiên.  Người mình quên nhiều lắm...
 
Nước Mỹ đang mùa nắng, tuyết tan trên đầu non... Mai có thể mù sương, mốt thì ngày rực rỡ...
 
Coi như là nắng lụa.  Áo dài ơi Cố Nhân!  Một chút gì xa xăm trong lòng tôi còn sót?
 
Tôi nghĩ mồ hôi ngọt.  Tôi nghĩ... rất âm thầm!
 
                                                                                     Trần Vấn Lệ
 
(*) Bản đồ thế giới quả thật là không có nước Hoa Kỳ.  Chỉ có nước Mỹ, Liên Bang Hợp Chúng Quốc Mỹ, United States of America, U.S.A, trên châu Mỹ, America.  Hoa Kỳ là Cờ Hoa, người Tàu thấy cờ USA có nhiều sao nên gọi thế. Người mình hầu như xưa nay vốn tin Tàu thật thà...

ĐẶNG XUÂN XUYẾN: ĐI TÌM NIỀM RIÊNG GIỮA DÒNG TRÔI VỒI VỘI – Đỗ Anh Tuyến

                  
Tác giả Đỗ Anh Tuyến
 
Đọc "Về thăm Hà Nội" của Đặng Xuân Xuyến, ta không thấy một Hà Nội rực rỡ vàng son hay ồn ào phố thị, mà bắt gặp một khoảng lặng đầy suy tư, nơi cái "tôi" trữ tình đang loay hoay giữa hai bờ hư thực của ký ức và hiện tại. Phong cách nghệ thuật của bài thơ toát lên vẻ trầm mặc, điềm tĩnh nhưng ẩn chứa một cơn sóng lòng âm ỉ, được thể hiện qua một lối viết giản lược tối đa về hình ảnh để nhường chỗ cho dòng chảy nội tâm.
 
VỀ THĂM HÀ NỘI
- viết tặng Nguyễn Minh-
 
Tôi xa Hà Nội, xa Hà Nội
Mới đó thôi mà bấy năm trôi
Bạn cũ gặp nhau nhìn rất vội
Nụ cười te tẻ hé trên môi.
 
Ờ gió heo may đã mỏng rồi
Mây chiều cũng ít bảng lảng trôi
Giờ còn ai đợi canh chừng tối
Dụ một tiếng reo thả chỗ ngồi?!
 
Tôi lặng nghe lòng chất vấn tôi
Người ta giờ đã khác xưa rồi
Thời gian thì cứ trôi vồi vội
Tôi lại giam mình góc xa xôi.
 
Tôi biết nhưng mà biết vậy thôi
Chuyện xưa còn giữ được mấy hồi
Tôi về Hà Nội thăm Hà Nội
Mua chút niềm riêng ngủ quên rồi...
 
Hà Nội, ngày 9 tháng 2-2025
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
 

GẶP GỠ VÀ CHIA LY VỐN DĨ ĐÃ CÓ AN BÀI – Nguyễn Toàn Thắng


Tác giả Nguyễn Toàn Thắng
 
Trong cõi nhân sinh mênh mông, việc hai người lạ mặt bỗng chốc bước vào đời nhau chưa bao giờ là sự ngẫu nhiên đơn thuần. Có những cuộc gặp tựa như gió thoảng, chạm nhẹ qua hiên nhà rồi tan biến; lại có những người đến và khảm sâu vào tâm khảm, trở thành một phần không thể tách rời của ký ức. Kỳ thực, giữa biển người xuôi ngược, gặp được nhau chính là kết quả của những mối dây liên kết từ tiền kiếp.

TĨNH QUỐC ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC KHANG - Theo Cội nguồn lịch sử và văn hoá



Trần Quốc Khang (1237 – 1300) là con trai trưởng của Vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Tuy nhiên, trên thực tế, ông là con của Khâm Minh đại vương Trần Liễu - anh trai của vua Trần Thái Tông. Mẹ đẻ của ông là hoàng hậu Thuận Thiên.

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

LẠI LÀM KHÓ AI - Son Tran



A. Tôi đưa ảnh chụp dấu triện này vào Gemini và ChatGPT kèm theo dòng lệnh: "Bạn có đọc được những chữ khắc trên đó và dịch sang tiếng Việt không?"
Cả hai ngoan ngoãn trả lời: “Có, tôi sẽ đọc và dịch sang tiếng Việt giúp bạn”.

SẮC TAI THÁN PHÚ – Kha Tiệm Ly


    

Trộm nghe,
Nghề văn muôn thuở như nhau,
Gái đẹp mỗi thời có khác!
Người luôn chê chữ nghĩa giá bèo,
Ai dám bảo hồng nhan phận bạc?
 
Ôi! Cái văn,
Thường được coi là món bổ tinh thần,
Sao lại rẻ hơn thú vui nhục xác?
 
Hẩm hiu thay!
Đợi bài lên báo, ngóng dài cổ vạc cổ cò,
Đến lúc lãnh tiền, đếm được đồng trinh đồng cắc!
Sách kim sách cổ, có ra chi ngọn bút vẽ vời.
Ông cống ông nghè, sao sánh bằng cái mông lúc lắc!
Nhuận bút bài báo, mua không được một cái quần xì,
Tiền thưởng bài văn, sắm chẳng nổi nửa manh áo ngực!
Ngày tối cơn ho lục khục, mồm khạc cục tím cục bầm.
Vợ con cái mặc lem nhem, áo vá miếng chằng miếng đụp!
Thân như bệnh nhân chờ thuốc, ốm tỏng ốm teo,
Nhà như người đẹp khoe lưng, trống huơ trống hoác!

THẬM XƯNG 甚稱 – Ung Chu, Hán Việt Thông Dụng



HYPERBOLE - OVERSTATEMENT - EXAGGERATION - AUXESIS - NGOA DỤ - NÓI QUÁ - PHÓNG ĐẠI - KHOA TRƯƠNG - CƯỜNG ĐIỆU HOÁ - THẬM XƯNG

"Thậm xưng" 甚稱 là một trong những từ người Việt dùng để chỉ phép tu từ nói quá. Một cách khác là "ngoa dụ" .
- thậm : rất, lắm, quá mức, như trong "thậm tệ", trước đây người Việt từng dùng "thậm" làm phó từ chỉ mức độ

- xưng : gọi, xưng hô, nói
- ngoa : không đúng sự thật, như trong "nói ngoa", "điêu ngoa", chữ này mang bộ "ngôn"  (nói, lời nói) và kí âm bằng chữ "hoá" 
- dụ : nói ví von (chứ không nói theo đúng nghĩa đen), như trong "phúng dụ", "ẩn dụ", "hoán dụ", chữ này mang bộ "khẩu"  (miệng) và kí âm bằng chữ "du" .

"Con muỗi to như con voi", "tát biển Đông cũng cạn", "nghĩ nát óc"... là các ví dụ về nói quá, ngoa dụ, thậm xưng. 
Phép tu từ này còn được gọi là "khoa trương" 誇張 theo cách gọi trong các ngôn ngữ khác tại vùng văn hoá Hán tự, "khoa"  nghĩa là khoe khoang, khoác lác (nói quá mức sự thật), "trương"  nghĩa là khuếch đại. Tiếng Nhật đọc là "ko-chō" こちょう, tiếng Hàn đọc là "gwa-jang" 과장. Tiếng Trung Quốc viết giản thể là .

"Khoác" là âm Việt hoá của chữ "khoách / khuếch"  nghĩa là khuếch đại, khuếch trương. Phép nói quá còn được gọi là "phóng đại" 放大 nghĩa là làm cho to lớn ra. Cách gọi khác là "cường điệu hoá" 強調化 hay "cường điệu" 強調 nghĩa là nhấn mạnh (trong ngữ cảnh này là nhấn mạnh do nói quá).

Sách "Việt-Nam văn-phạm" (1940) của Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ viết:
- Cách ngoa-ngữ là cách đem việc tuyệt-nhiên không bao giờ có, mà nói để biểu-diễn một cách rất mạnh cái ý nói không có, không được:

Bao giờ rau diếp làm đình,
Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta. 
                                    (Ca-dao)

Rau diếp là thứ rau dùng để ăn ghém, mà gỗ lim là thứ gỗ tốt dùng để làm nhà, làm đình. Nhưng đây lại nói trái đi để tỏ ý không bao giờ được.
- Cách thậm-xưng là cách dùng tiếng nói quá hẳn sự thực, để làm cho tôn cái ý người ta định nói về một vật gì:

Chìm đáy nước cá lừ-đừ lặn,
Lửng da trời nhạn ngẩn-ngơ sa. 
                                (Cung-oán)

Ý khen cái đẹp đến nỗi cá trông thấy cũng không bơi được nữa, phải lừ-đừ lặn xuống đáy sông; chim trông thấy cũng không bay được nữa, phải ngẩn-ngơ sa xuống đất.
                                                                                Ung Chu
                                                                        Hán-Việt Thông Dụng

THÀ NHƯ GIỌT MƯA – Trần Vấn Lệ




Tuần đầu tiên Năm Mới / trời dứt mưa, thật mừng!
Sáu ngày dài rưng rưng... mưa bay về Long Beach!
 
Những Giọt Mưa Los Angeles mờ Temple City!
Năm nay khác mọi khi.  Năm nay mưa nhiều quá...
 
Bạn thân chừ hết cả, chỉ còn Mưa - Thời Gian!
Thời gian thì thênh thang!  Thời gian... Vòng Tay Lớn!
 
Không lời chào nào muộn khi còn nói lời chào...
Nhớ bàn tay ấm sao mặn mà nhiều năm cũ...
 
Xe Bus đi trong phố... xe Bus đi về đâu?
Thân thiết thường nhớ lâu... mưa bay suốt tuần lễ!
 
*
Có một người ngồi kể chuyện gì đó mình nghe!
Mình là mình, không dè, một mình mà... tâm sự!
 
Là Chuyện Lòng, vui chớ!
Là Chuyện Mình, Tâm Tư!
 
Mười chữ hai câu thơ!  Ba năm làm mới được! (*)
Thơ Giả Đảo thời trước, thơ anh em bây giờ...
 
Thà như giọt mưa...
Thà như giọt mưa...(**)
                                                                                    Trần Vấn Lệ

(*) Thơ Giả Đảo, "Nhị cú tam niên đắc, nhất ngâm song lệ thùy...".
(**) Thơ Nguyễn Tất Nhiên, "Thà như giọt mưa bay quanh tượng đá..."

LẶT LÁ MAI VÀNG – Thơ Lê Phước Sinh


 

Lặt lá Mai hé nụ
để Xuân tỏa nhiều cành
Em ửng hồng má Anh
khúc khích mùa Tuổi mới...
 
                 Lê Phước Sinh

TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM – Thơ Đặng Xuân Xuyến


   

Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằm
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
 
Tôi nhớ, người ta một cuối năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
 
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.
 
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...
 
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

GỌI ANH MÙA XUÂN – Thơ Trần Mai Ngân


   

Anh
Lại ngồi bên em
Cầm đôi tay êm
Lắng nghe cùng nhau
Năm cũ qua mau…
 
Anh
Xuân đang lướt qua
Bằng gió lụa là
Bằng hương ngọc ngà
Như tình đôi ta…
 
Anh
Lại đây với em
Để ta có thêm
Một mùa Xuân vui
Qua bao ngọt bùi
 
Anh
Đôi ta đưa tay
Tiễn năm phôi phai
Cảm ơn tháng ngày
Dẫu có đắng cay
 
Anh
Từ nay, hôm nay
Trái tim Nguyên Đán
Viết tiếp câu chuyện
Không có buồn phiền
 
Em cười rất nhẹ
Nâng chén Xuân say
Đời chếnh choáng đời
Em say… Em say….
 
           Trần Mai Ngân
 
** Những ngày giáp Tết

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

NHẠC SĨ PHẠM DUY KỂ VỀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC “ÁO ANH SỨT CHỈ ĐƯỜNG TÀ”



Cuối năm 1947, tôi từ Việt Bắc (Cao-Bắc-Lạng) xuống Khu Ba (Chợ Đại, Cống Thần) rồi có ý định đi theo Trần Văn Giàu vào Nam chiến đấu. Nhưng khi vào tới Thanh Hóa (Khu 4 - làng Quần Tín) thì tôi gặp tướng Nguyễn Sơn và ở lại đó, gia nhập Ban Văn nghệ của Trung đoàn 304. Tại đây tôi gặp Hữu Loan...
 

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch



Xem clip trên laptop tôi thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). 

Đây cụm từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện, theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự). Bởi vậy, tôi đọc theo âm Hán Việt 二十六 “nhị thập lục quán”, nhưng chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nó không phải là đơn vị đo khối lượng.

Vì không biết tiếng Nhật nên tôi tra từ điển Hán Việt để tìm chữ có chỉ về đơn vị đo khối lượng không? Kết quả như sau:

Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11
Bộ: bối (+4 nét)
Lục thư: hội ý
Hình thái: 毌貝
Nét bút: フフ丨一丨フ一一一ノ丶

Nghĩa:
1. xâu tiền
2. xuyên qua, chọc thủng
3. thông suốt
4. quê quán. 

Tôi không thấy có chỗ nào cho biết  chỉ về đơn vị đo khối lượng cả.
Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như:
 /shì/ THỊ : cái chợ 
hoặc 
巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 

Nên tôi tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.

HÃY CẨN TRỌNG VỀ SỰ BỊA ĐẶT CỦA AI KHI NHỜ AI DỊCH CHỮ HÁN – Bài viết của Son Tran


Ảnh 1
 
Học trò cũ của tôi ở Đại học Phú Xuân là Thu Amy, gửi cho tôi 3 bức ảnh kèm lời nhắn: “Nhờ thầy xem giúp cặp câu đối chữ Hán ở ảnh 1 dịch sang tiếng Việt có đúng như AI dịch ở ảnh 2 và ảnh 3 không?”.

TƯỞNG NHỚ VỚI LÒNG TRI ÂN “THẦY ĐOÀN KHOÁCH” – Bài viết của Uoc Nguyen


Thầy Đoàn Khoách

Bài viết của Uoc Nguyen (1930-2026) là nhà nghiên cứu Hán-Nôm và nhà giáo uy tín. Ông chào đời tại Thừa Thiên Huế, tốt nghiệp Thủ khoa Đại học Sư Phạm Huế năm 1960 với huy chương vàng. Giảng viên ĐH Sư Phạm Huế. Trợ lý Nghiên cứu viên tại Tân Á Nghiên cứu sở thuộc Đại học Trung văn Hong Kong. Giám khảo chính cho International Baccalaureate Organization ở St. Mellons, U.K. Giảng viên Viện Việt học tại Garden Grove, California U.S.A.  Ông đến Hoa Kỳ năm 1989, cư trú tại San Diego, California. Ông qua đời ngày 25/01/2026 tại Mỹ, hưởng thượng thọ 96 tuổi.


Nhiều bài viết của ông từng đăng trong các tạp chí: Đại Học, Văn Học, Văn Lang, Tiếng Sông Hương, Đất Lành, Nhớ Huế, Dòng Việt… Ông còn được biết đến qua các hoạt động hội ngộ cựu giáo chức và sinh viên.
 
SÁCH CỦA ÔNG gồm:

• Nguyễn Trãi Dữ Kỳ Ức Trai Thi Tập (Hồng Kông, 1965).
• Văn Tịch Chí (Huế, 1970).
• Thư Mục Nguyễn Trãi (Sài Gòn, 1979).
• Thư Mục Nguyễn Đình Chiểu (Sài Gòn, 1981).
• Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập (Long An & Bến Tre, 1982 — hợp soạn).
• Sảng Đình Thi Tập (San Diego, 2002).
• Nhàn Trung Tùy Bút (San Diego, 2007
v.v.
                                                                 Bài viết của Uoc Nguyen
*
Ghi chú:
Tôi may mắn được theo học ông suốt 4 năm ĐH Sư phạm Huế (1970-1974)

HAI THẾ KỶ HÀNG HÀNG THIÊN THU - Trần Vấn Lệ



Cuối năm... mưa liên miên, "ra tháng Giêng sẽ ngớt", câu nói tưởng hời hợt thế mà như nguyện cầu!
 
Năm Mới mới bắt đầu, mưa "nhẹ nhàng" thấy rõ.  Trời dễ thương không gió, hoa cỏ dễ thương theo...
 
Những giọt mưa trong veo tiếp theo thưa từng bữa.  Ngày Mồng Ba rực rỡ:  Nắng hé màn Tháng Giêng!
 
Nắng không là của riêng dù có người ôm ấp!  Nhưng nhiều giờ vuột mất, mưa còn nước thì rơi...
 
Cảnh:  Người giỡn với Trời... giống thời người ta nhỏ / tan học về núp gió... rồi chạy ào ra mưa!
 
*
Tôi nhớ lại tuổi thơ thời nhà quê cố quận!  Yêu mưa như yêu nắng!  Nhớ nắng từng khi buồn...
 
Vậy mà cũng lớn khôn... thản nhiên vào dông bão, đời thay bao sắc áo... áo não một kiếp người!
 
Ai tha hương mà cười khi trời mưa rả rích? 
Có con chim chàng nghịch vừa hót trên cành mưa!
 
Có ai mút câu thơ tưởng cà rem không nhỉ?  Trời ơi hai Thế Kỷ... mới mà Hai-Trăm-Năm! (*)
                                                                                     Trần Vấn Lệ

(*) Thế Kỷ 20 bắt đầu năm 1900, nước TA thì từ năm 1954... Thế Kỷ 21 bắt đầu năm 2000, nước TA thì từ năm 1975 đến nay... 2026...  Số thời gian không viết theo số thập phân, là không có chấm hay phết, vì thời gian không bao giờ dừng... Thế Kỷ dài 100 năm, nếu vui thì chớp mắt mà buồn thì Thiên Thu!

NHỮNG NĂM BÍNH NGỌ ĐẶC BIỆT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM - Vũ Thị Hương Mai



Trong lịch sử Việt Nam, các năm Bính Ngọ (chu kỳ 60 năm một lần) thường gắn liền với những bước ngoặt quan trọng về chính trị, quân sự và văn hóa. Dưới đây là những năm Bính Ngọ tiêu biểu.
 
1. Năm Bính Ngọ 1066:
 
Đổi tên nước thành Đại Việt
 
Trong lịch sử Việt Nam, năm Bính Ngọ 1066 (năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 8) dưới triều vua Lý Thánh Tông là một dấu mốc đặc biệt quan trọng với những sự kiện định danh dân tộc và củng cố niềm tin tâm linh.
 
1. Đổi tên nước thành Đại Việt
 
Đây là sự kiện quan trọng nhất của năm 1066, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc:
 
Sự kiện: Vua Lý Thánh Tông quyết định đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt (có từ thời Đinh Bộ Lĩnh) thành Đại Việt.
 
Ý nghĩa: Tên gọi này thể hiện sự tự tôn dân tộc, khẳng định vị thế một quốc gia độc lập, hùng mạnh và ngang hàng với các đế chế phương Bắc. Quốc hiệu Đại Việt đã gắn liền với những thời kỳ huy hoàng nhất của các triều đại Lý, Trần, Lê và tồn tại bền vững suốt 738 năm (đến năm 1804).
 
2. Xây dựng tháp Báo Thiên - "An Nam tứ đại khí"
 
Năm 1066 cũng ghi dấu sự phát triển rực rỡ của Phật giáo và kiến trúc thời Lý:
 
Sự kiện: Vua Lý Thánh Tông cho khởi công xây dựng cây tháp lớn tại chùa Báo Thiên (nay thuộc khu vực Nhà thờ Lớn Hà Nội).
 
Đặc điểm: 
Tháp cao 12 tầng (khoảng 70m), đỉnh tháp đúc bằng đồng. Cùng với đỉnh tháp này, các báu vật khác sau này được dân gian xếp vào nhóm "An Nam tứ đại khí" (4 quốc bảo lớn của Việt Nam thời trung đại). Đây là biểu tượng cho sự thịnh trị và sự kết hợp hài hòa giữa quyền lực nhà nước và tôn giáo.
 
3. Sự kiện thiên văn: Sao chổi Halley xuất hiện
 
Sự kiện: Theo sử sách ghi lại, vào tháng 3 năm Bính Ngọ 1066, một ngôi sao lớn (sao chổi) đã xuất hiện trên bầu trời Thăng Long.
 
Ghi chú: 
Khoa học hiện đại xác nhận đây chính là lần xuất hiện của Sao chổi Halley. Trong bối cảnh thời bấy giờ, điềm báo này được coi là sự thông báo về những biến động lớn hoặc sự ra đời của những quyết sách vĩ đại (như việc đổi tên nước).
 
4. Ổn định và thịnh trị
 
Năm 1066 nằm trong giai đoạn hoàng kim của nhà Lý. Đất nước thái bình, kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân ấm no. Sự ổn định này là tiền đề giúp Lý Thánh Tông xây dựng quân đội hùng mạnh để bảo vệ biên giới và mở mang bờ cõi về phía Nam sau này.
 
Tóm lại, năm Bính Ngọ 1066 là năm của sự định danh và tự cường, khi cái tên Đại Việt chính thức vang lên trên bản đồ thế giới, đánh dấu một kỷ nguyên mới của dân tộc.
 

BÓNG HÌNH – Thơ Lê Kim Thượng


  

Bóng Hình
 
1.
 
Mấy mùa mưa nắng, nắng mưa
Làm sao gặp được người xưa của mình
Làm sao quên được… “Chữ Tình”
Làm sao quên được bóng hình em xưa…
Con đò trong gió lưa thưa
Đón đưa, đưa đón sớm trưa đậm đà
Líu lo chim ríu rít ca
Hừng đông nắng mới chan hòa chứa chan
Nắng vàng ươm sợi tơ vàng
Như thơ, như mộng thênh thang quanh mình
Thương yêu hứa hẹn với tình
Bao nhiêu năm tháng chúng mình vẫn đôi…
Dỗi hờn nước mắt tràn rơi
Trong lòng ray rứt chẳng lời trách nhau
Buồn vui ngày ấy qua mau
Lời thề chung thủy ngàn sau không rời…
 

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

CỦ MẬT 糾密 - Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng



Tháng Chạp trước Tết còn được người Việt từ xưa gọi là tháng củ mật. "Việt-Nam tự-điển" (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức ghi:
- Củ-mật. Nói về độ gần tết hay có trộm cướp, nhà nào cũng phải giữ-gìn cẩn-thận: Tháng củ-mật.