BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

HUYỀN THOẠI PHẠM VĂN RẠNG: NGƯỜI GÁC ĐỀN VIỆT NAM TỪNG KHIẾN VUA BÓNG ĐÁ PELE BÓ TAY! - Theo iThethao TV



Trong lịch sử bóng đá Việt Nam, có những cái tên chỉ cần nhắc đến cũng đủ khiến bao thế hệ người hâm mộ bồi hồi, tự hào. Phạm Văn Rạng chính là một huyền thoại như thế! Ông không chỉ là một thủ môn xuất sắc của bóng đá Việt Nam mà còn từng khiến giới chuyên môn và truyền thông quốc tế phải dành sự ngưỡng mộ. Biệt danh “Lưỡng thủ vạn năng”, hay danh xưng “Đệ nhất thủ môn Á châu” cùng những câu chuyện được lưu truyền về tài năng của ông đã tạo nên một tượng đài đặc biệt trong ký ức bóng đá nước nhà.

ĐỒNG ÂM MINH TINH 明星,銘旌 - Tri thư đạt lễ


Trong tiếng Việt, minh tinh là một từ vựng đặc biệt với hai nguồn gốc và hai nét nghĩa hoàn toàn khác nhau, với một nghĩa dùng để chỉ người nổi tiếng, nghĩa còn lại thì liên quan đến nghi thức tang lễ truyền thống.

Theo ý nghĩa quen thuộc được sử dụng rộng rãi hiện nay, minh tinh được viết là 明星. Trong đó, Minh 明 có nghĩa là sáng sủa; còn Tinh 星nghĩa là ngôi sao. Ban đầu trong sách cổ Trung Quốc, minh tinh dùng để chỉ sao Kim, tức thần Vệ Nữ. Trải qua quá trình phát triển ngữ nghĩa, từ này được dùng để chỉ những phụ nữ nổi tiếng trong xã hội, rồi mở rộng để gọi những người có sức ảnh hưởng trong một lĩnh vực nhất định như diễn viên, ca sĩ, nghệ sĩ hay vận động viên nổi tiếng. Tiếng Việt đã tiếp nhận trọn vẹn lớp nghĩa này. 

Và, ít người biết rằng, trong tiếng Việt còn có một chữ minh tinh khác, được viết là 銘旌.
 

                    

Minh 銘 nghĩa là khắc, ghi chép. Bài "bi minh" khắc trên bia mà ta nghe chính là chữ Minh này. Tinh 旌 là lá cờ, gặp trong từ tinh kỳ. Minh tinh theo nghĩa trên chỉ một dải lụa buộc vào cành tre, trên đó ghi thông tin như tên họ, thụy hiệu, chức tước, học vị của người đã khuất. Theo phong tục xưa, minh tinh được dựng ở phía đông linh sàng. Khi đưa tang, người ta cầm minh tinh đi trước quan tài, đến lúc hạ huyệt thì phủ dải lụa ấy lên quan tài.

                       

Ngày nay, minh tinh với ý nghĩa này ít được sử dụng hơn, dẫu vậy thì dấu vết của lớp nghĩa này vẫn còn được lưu giữ trong văn học dân tộc:

“Cóc chết lại có minh tinh,
Thất nghiệp nằm đình có trống cầm canh.”
                                                    (Ca dao)
 
“Non nước tan tành hệ bởi đâu?
Rầu rầu mây bạc cõi Ngao Châu
Ba triều công cán vài hàng sớ,
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu.
Ải Bắc, ngày trông tin nhạn vắng,
Thành Nam đêm chạnh tiếng quyên sầu.
Minh tinh chín chữ lòng son tạc,
Trời đất từ đây mặc gió thâu!”
                             (Nguyễn Đình Chiểu)

                                                       Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮

GIÁO SƯ HOÀNG XUÂN HÃN, NGƯỜI CÓ HỌC THỨC THẬT, GIỎI THẬT KHI LÀM LÃNH ĐẠO - Nguyễn Thị Bích Hậu

Người trong hình là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và mỹ thuật của chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945. Thành tựu của cụ trong 4 tháng làm Bộ trưởng ngắn ngủi là làm ra cho nước ta chương trình trung học đầu tiên dạy bằng Việt ngữ. Cụ cũng là người làm ra cuốn sách các danh từ khoa học bằng tiếng Việt đầu tiên giúp người Việt có các từ này để sử dụng tới bây giờ. 
 

Khi người tài làm Bộ trưởng Giáo dục, trong 4 tháng họ làm được gì?
 
Cụ Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thuở nhỏ cụ học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. 18 tuổi, cụ đậu bằng Thành chung, ra HN học trung học tại trường Bưởi, sau đó 19 tuổi cụ chuyển qua học Toán ở trường Lycée Albert Sarraut. Một năm sau, cụ đỗ thủ khoa tú tài toàn phần Pháp và nhận học bổng qua Pháp học. Cụ theo học tại trường Bách khoa Paris, sau đó học trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris). Từ năm 1934 đến năm 1936 Hoàng Xuân Hãn trở lại Pháp sau 4 tháng về nước, học và đậu cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne.
Học cao hiểu rộng, năm 1936 cụ về nước dạy trường Bưởi, hoàn tất cuốn Danh từ khoa học đầu tiên của VN, "một công trình rất đặc sắc để “khai đường mở lối” cho nền học thuật bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ. Năm 1942, sách ra đời. 
 

DÒNG ĐỜI – Thơ Lê Kim Thượng


   


Dòng Đời
1.
Đưa tay vuốt mái tóc em
Sợi thương, sợi nhớ nhẹ mềm trong anh
Tiếng em giọng nói thanh thanh
Dịu dàng hai tiếng “Em…Anh…” ngọt ngào
Giữ tình chẳng để hư hao
Sắt son thề hẹn trước sau một lòng
Tặng en chín chín đóa hồng
Tình yêu tha thiết tấm lòng tinh khôi
Gió đưa tà áo buông lơi
Trắng màu trinh nữ, mây trời bay bay
Thề bồi “Muối mặn… gừng cay…”
Đậm đà tha thiết đắm say tình nồng
Tình yêu, yêu thật một lòng
Vượt qua gian khổ chờ mong tháng ngày
Người yêu nửa tỉnh, nửa say
Nụ hôn đằm thắm, vòng tay ấm nồng…
 
2.
Còn gì nhớ nhớ mong mong
Cuộc tình rơi xuống giữa dòng đời trôi
Con tim thao thức bồi hồi
Sao nghe tê tái đơn côi một mình
Lỡ vay em một mối tình
Trăm năm chưa trả, riêng mình, riêng đau
Bao giờ cho hết mưa Ngâu
Ngưu Lang – Chức Nữ qua cầu thành đôi
Xưa rồi lâu lắm xa xôi
Một thời hạnh phúc, một thời yêu xa
Ngày em làm vợ người ta
Thơ tình gói lại làm quà trao tay…
Mừng vui gặp lại hôm nay
Vẹn nguyên kỷ niệm những ngày thương đau
Mười năm mới gặp nhau
Tóc xưa nay đã bạc màu thời gian…
 
                              Nha Trang, tháng  07. 2026
                                    LÊ KIM THƯỢNG

CHUYỆN CŨ CHƯA CŨ – Đặng Xuân Xuyến



Một ngày cuối tháng 6 năm 2020, Nguyễn Đăng Hành bảo tôi: Chú làm bài cho Tết âm lịch như “Tưng tửng 7 chuyện...” đi. Tôi mặc cả: - Nhưng anh là nhân vật chính và em sẽ kể thật đến 90%. Nguyễn Đăng Hành cười: - Chú vô tư đi. Anh nghe chửi quen rồi.

QUAN PHU 鰥夫 – Theo trang “Ngày ngày viết chữ”

       
                 


Hôm trước giới thiệu từ “tục huyền”, có bạn nói mình biên từ “quan phu” nữa nha, nên giờ có bài này.

“Quan phu”, chữ Hán viết là 鰥夫, trong đó:

– Quan là người goá vợ, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “người goá vợ, người lớn tuổi mà không có vợ”. Trong bản Gia huấn ca (được cho là) của Nguyễn Trãi có câu:

Thương người quan quả cô đơn,
Thương người lỡ bước lầm than kêu đường*.

Trong đó “quan” 鰥 là người goá vợ, “quả” 寡 là người goá chồng, “cô” 孤 là mồ côi cha mẹ, “đơn” 單 (chính ra là “độc” 獨 nhưng vì niêm luật thơ mà ở trên dùng “đơn”) là già không con cái. “Quan quả cô độc” được gọi là “tứ cùng” (四窮), tức bốn nhóm người có tình cảnh đáng thương hơn cả theo quan niệm xưa.

– Phu là chồng, người chồng, người đàn ông như phu thê (夫妻) là vợ chồng, vị hôn phu (未婚夫) là chồng chưa cưới, tiều phu (樵夫) là người đốn củi.

“Quan phu” là người đàn ông goá vợ, cũng có thể chỉ người đàn ông lớn tuổi mà không có vợ. Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ giảng “người đàn ông độc thân, ở một mình, không vợ”. Ứng với “quan phu” là “quả phụ” (寡婦), nghĩa là người đàn bà goá chồng.

Bài Hạ trung tiếp đáo khuê vi hung tấn ai cảm kỷ thực (Giữa mùa hạ nhận tin vợ mất, ghi lại nỗi đau buồn) của Phan Huy Ích có câu:

Ky tình bôn phó vị tri kỳ,
Thiên lý quan phu trường uất kết.
 
羈情奔訃未知期,
千里鰥夫腸鬱結。
 
Tạm dịch: 
  
Thương xót nơi xa nào bày tỏ,
Ngàn dặm quan phu dạ kết sầu.
….
* Cũng có bản chép “Thương người đói rét/đói rách lầm than kêu đường”.
                                                       Theo trang “Ngày ngày viết chữ”

HUYỀN VŨ - NGƯỜI TƯỜNG THUẬT ĐÁ BANH HẤP DẪN QUA ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN TRƯỚC 1975 – Văn Quang

 Nhớ Huyền Vũ
Bài viết của nhà văn Văn Quang (1). Xin chia sẻ lại trong lời cảm ơn.                                                                                 
                                                                                  Trịnh Anh Khôi


Đã từ lâu, tôi (Văn Quang - TAK chú thích) vẫn đinh ninh rằng “ai cũng có thể thay thế được, dù cho đó là một thiên tài”. Nhưng đến hôm nay thì tôi nghĩ khác: “Có một người mất đi mà khó có ai thay thế được”.

Và cũng chắc chắn đã có khá nhiều bài viết về ông Huyền Vũ. Nhưng người ở Sài Gòn thì chưa chắc đã có ai viết về sự kiện này. Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà tôi viết về ông, tôi viết vì có một bổn phận thôi thúc phải viết, một tiếng nói của người hiện còn đang sống ở Sài Gòn tưởng nhớ và thương tiếc ông. Tôi không là đại diện cho ai cả, tôi viết với tính cách của một “fan” của ông cùng với một số bạn bè tôi, với nỗi tiếc thương.

CUNG TIẾN VÀ BẢN NHẠC HOÀNG HẠC LÂU – Bài viết của Đỗ Viết Thanh

                   
           


Cung Tiến là một nhạc sĩ tài hoa của âm nhạc miền Nam, một trí thức trầm lặng, một nhà phê bình  nghiên cứu và dịch thuật (ký tên Thạch Chương) khi cộng tác với nhóm Sáng Tạo. Cung Tiến không chỉ là một nhạc sĩ, ông là nhà trí thức nghệ thuật có mối quan tâm rộng lớn hơn âm nhạc.
Ông bắt đầu sáng tác nhạc lúc còn rất trẻ, năm 15 tuổi đã viết Thu Vàng và Hoài Cảm, tuyệt tác âm nhạc.

HUẾ, XỨ CỦA MẮM TÔM CHUA VÀ HẾN – Bài viết của Trần Hòa



Tối qua rảnh rỗi, tôi thức khuya coi hết tập 2 của chương trình ‘Quán Nhà Ha Ha’ phát sóng mỗi tối thứ Bảy hằng tuần trên YouTube. Vì Hàn Quốc trước Việt Nam 2 tiếng nên tôi phải thức khuya để coi cho hết.
 
Tổng kết những ấn tượng của tôi về chặng đường ở Huế này là ly chè ở chợ quê có giá 5000 đồng (chưa tới 20 cent Mỹ); O chủ nhà tự làm mắm tôm chua rất độc đáo, và những phương ngữ rất Huế mà dàn nghệ sĩ miền Nam và miền Bắc nghe qua không hiểu được.
 

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC HOÀI THANH TRONG HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

Trong Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh (chương XI dành riêng về Hoài Thanh), giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh ghi lại những kỷ niệm, ấn tượng và quan sát cá nhân về nhà phê bình văn học Hoài Thanh qua các giai đoạn...

Vợ chồng nhà phê bình Hoài Thanh (1909.1982) những ngày công tác ở Huế.
Ảnh: Tạp chí Sông Hương.

Tôi được tiếp xúc với Hoài Thanh nhiều lần.
Hồi công tác ở một cơ quan của Tỉnh đảng bộ Thái Nguyên, tôi đã được nghe ông nói chuyện về thơ kháng chiến, tại một địa điểm ở thị trấn Phúc Trìu. Tiếp đó tôi học ở trường sư phạm trung cấp trung ương (đóng ở Chợ Ngọc, Tuyên Quang). Ở đây tôi lại được nghe ông nói về đề tài ấy một lần nữa. Cả hai lần đều vào năm 1949.
Khi tôi về học ở Đại học sư phạm Hà Nội (từ 1957 – 1960) thì ông đến dạy mấy bài về văn học Việt Nam thời trung đại: Kiều, Cung oán, Hoa Tiên, Phan Trần...

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2026

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO THỜI HIỆN ĐẠI – Trần Kiêm Đoàn



Một trường hợp tham khảo (Case study).
 
Rất cảm kích, nhưng thật tình trong đầu tôi cũng gợn lên một chút ý nghĩ dí dỏm khi đạo hữu Như Hiền, trưởng nhóm Cư sĩ Học Phật ở Canada, gọi tôi là “Trưởng lão cư sĩ Nguyên Thọ”. Lần đầu nghe danh xưng ấy dành cho mình, tôi vừa vui vì tình thân kính, vừa tự hỏi: tuổi già thì đã đến thật rồi, nhưng việc học đạo của mình đã theo kịp tuổi tác hay chưa?
 

CHUYỆN SỐ NGƯỜI, SỐ MÌNH – Đặng Xuân Xuyến



Chặp trước, H.T điện đến nhờ tôi xem lá số cho thằng em trai, sinh năm Bính Dần (1986), hỏi xem năm nào thì nó mới chịu cưới vợ. Vốn dĩ, tôi chỉ là người nghiên cứu về Tử Vi, kiến thức từ tự học cũng không được nhiều, lại không phải là người có số làm thầy nên xưa nay vẫn tự răn mình không được tùy tiện xem số cho người khác kẻo phạm vào điều cấm kỵ "Thiên cơ bất khả lộ". Thế nhưng, phần vì mối quan hệ đặc biệt giữa tôi với H.T, phần không chịu nổi những lời nài nỉ của H.T, tôi đành tặc lưỡi ngồi ngắm nghía lá số của em trai H.T để có đôi lời luận giải. Lúc đấy, qua điện thoại, H.T cứ cằn nhằn chuyện yêu đương của em trai có “vấn đề nặng”, người ta mai mối cho bao nhiêu đám tốt mà tối ngày nó vẫn cứ nằm không một mình. Bố mẹ thì đã già nên mong cậu con trai nhanh nhanh cưới vợ để ông bà sớm có đứa cháu bồng bế cho vui cửa vui nhà.
 

TẶNG EM NHÉ MỘT ĐOÁ HOA MẦU TRẮNG – Thơ Quách Như Nguyệt


   
 
Tặng em nhé… một bó hoa mầu trắng
 
Người thương ơi, sáng nay nghĩ đến anh
Nghĩ đến vô thường, nghĩ đến ngày nằm xuống
Nước mắt rơi nhưng tim em không lạnh
Thấy ấm nồng, đời đẹp lắm mầu xanh
 
Cảm ơn anh và bó hoa gửi tặn
Hoa hồng nhung tuần lễ cuối tháng Mười
Anh dễ thương vì luôn nghĩ đến em
Bảo sao em không thỉnh thoảng mĩm cười
 
Luôn ước mình sẽ là người đi trước…
Vẫn mong anh đừng quá đỗi muộn phiền
Đời sống này ngắn ngủi, lắm phước duyên
Ta hãy sống từng phút giây hạnh phúc,
 
để đến lúc ra đi mình chúc phúc
Mừng cho nhau thoát khỏi kiếp hiện tiền
 
Khi em đi… đừng đau buồn anh nhé
Đừng tìm đọc thơ em rồi nhỏ lệ
Nên cảm ơn đời sống không gì tệ
Một đời người! chẳng qua…một cơn mê
 
Tặng em nhé, một bó hoa mầu trắng
Mầu em yêu, hôn nhé…một đóa hoa
Khi ngắm trăng, đừng nước mắt chan hòa
Mà nhớ lại những ngày ta hạnh phúc
 
Mây trắng, ánh trăng, mùa Xuân hoa cúc
Hạ đỏ, nắng vàng, thảm cỏ êm chân
Tháng Mười mùa Thu, tay nắm ân cần
Đông tuyết trắng, đông lạnh lùng thi vị
 
Bó hoa trắng, -ngày em đi giản dị
Xin anh đừng buồn khổ mà chi
Ta chỉ có một cuộc đời để sống
Sống hết mình, khỏi tiếc nuối khi đi
 
                            Quách Như Nguyệt
                               Oct 30th, 2018

SIN SUỐI HỒ YÊU, ĐÊM 20 - Thơ Châu Thạch


   


SIN SUỐI HỒ YÊU!
        
Em đến Sin Suối Hồ
Cảnh Thiên Đàng trên núi
Đất trời không chút bụi
Ta thấy em thần tiên
Áo bay trời thanh thiên
Tóc mùi hương quyến luyến
Bước em đường mây quyện
Ta yêu đời như nhiên
Nắng trên trời nhung lụa
Tơ vàng bay muôn tủa
Mắt xanh màu núi biếc
Em là hoa bốn mùa
Sin Suối Hồ mây bủa
Ngũ sắc chân trời xa
Em đứng gần bên ta
Ta nghe rừng thở lặng
Làm bài thơ ta tặng
Một đỉnh núi quang vinh
Em và ta cuộc tình
Nơi đây không trái cấm!
 
          
ĐÊM 20!
 
Đêm 20, đêm tháng 10 ấm áp
Ta bên em nằm nhớ tuổi 20
Tuổi của yêu và của những tiếng cười
Yêu từ dưới ngón chân lên sợi tóc
Da em tựa như da trời trăng mọc
Mịn lông tơ xếp rẽ quạt từng hàng
Tóc em dài uốn lọn thật là sang
Hơi em thở hương hoa quỳnh thơm ngát
Ta yêu chết, yêu si, yêu dào dạt
Yêu như điên, như dại, với như khùng
Tạ ơn trời còn mãi khối tình chung
Nửa thể kỷ tình vẫn còn như mới
Đêm 20 đêm tháng 10 đang tới
Sóng tình xưa xao động mặt hồ nay
Ta nằm yên cho hương nhụy tràn đầy
Chìm giấc ngủ trong mối tình chung thủy!

                                               Châu Thạch

KHUẤT CHÌM – Thơ Lê Kim Thượng


  

Khuất Chìm
 
1.
Chuyện tình đâu dễ phôi pha
Cố quên càng nhớ, ngày xa đêm dài
Hai bờ hai đứa chia hai
Dòng sông ly biệt chạy dài mù xa…
Nhớ người xa cách giang hà
Nỗi buồn giấu kín nhạt nhòa dịu êm
Một mình tôi với bóng đêm
Nhớ nhung khe khẽ gọi tên một người
Tình như một áng mây trôi
Không duyên, dù có yêu rồi vẫn xa
Trái tim rạn nứt thiết tha
Trải bao ngang trái vẫn là trái ngang
Nợ duyên, duyên nợ lỡ làng
Cuộc tình lận đận dở dang đau lòng
Vọng Phu đã núi trông chồng
Em về phương ấy có trông phương này…
 
2.
Lòng buồn thở ngắn than dài
Tôi – Em giờ đã chia hai lối về
Em đi biền biệt xa quê
Tôi về cùng với lời thề ngây thơ
Thương nhau chín đợi, mười chờ
Nỗi buồn xa cách bơ vơ một người
Hương tình bay mất đi rồi
Vườn yêu xơ xác bồi hồi con tim
Tình xưa giờ đã khuất chìm
Bới lên dĩ vãng đi tìm chân dung
Yêu nhau, yêu tới vô cùng
Thì nay cũng đã ngàn trùng cách xa
Em đi khuất bóng quan hà
Tôi ôm kỷ niệm đôi ta một thời
Bây giờ đôi đứa đôi nơi
Em giờ đã trở thành người… “Ngày xưa”…
 
                   Nha Trang, tháng  10. 2026
                         LÊ KIM THƯỢNG

MÀU QUÊ HƯƠNG, SEN VỀ, KHI SỚM MAI – Thơ Tịnh Bình


   


MÀU QUÊ HƯƠNG
 
Chân phương hạt thóc đồng làng
Bốn mùa cày cấy mùa màng tốt tươi
Giần sàng trải nắng hong phơi
Mùa no ấm rạng môi cười lão nông
 
Hương quê chất phác ruộng đồng
Bờ dâu bãi mía xanh trong khoảng trời
Cánh diều cõng gió đi chơi
Hồn nhiên trẻ nhỏ nói cười rộn vang
 
Dòng sông uốn khúc đa mang
Vầng trăng thổn thức người sang ngang rồi
Xốn xang điệu lý mồ côi
Cuối trời chim trắng bồi hồi lòng ai
 
Chiều không tỏa khói mà cay
Rưng rưng quê mẹ thương hoài ngõ sau
Lục bình tím biếc lao xao
Dòng sông bóng núi nhuộm màu quê hương...
 

KHI CÔ GIÁO BỊ HỌC TRÒ NHẢY LÊN ĐÁNH NGAY TRÊN BỤC GIẢNG, TRÁCH NHIỆM VỀ AI? - Trần Kiêm Đoàn



Hình ảnh một học sinh lớp 12 đánh cô giáo ngay trên bục giảng khiến tôi bàng hoàng.
Trong khoảnh khắc ấy, người bị tổn thương là một cô giáo bằng xương bằng thịt; cô có thể bị đau về xác thịt nhưng  người Việt Nam cả trong và ngoài nước đều nhức buốt cả cảm xúc và tâm hồn!

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2026

ÔNG CÓC ĐI NHỜ VÀ CHIẾC XE LAM CHÚ ĐỈNH SƠN MỸ XỪA – Đinh Hoa Lư



 Chiếc Xe than qua xã Tân Hà tới Tà Mon qua lại trạm Lán Gòn, cái trạm người đi buôn Hàm Tân thường đặt cho cái biệt hiệu 'Láng cón'. Đây là điểm mà bao nhiêu 'trái tim' trên chuyến xe về (cũng như đi) hồi hộp, lo lắng, nhưng  ông "Cóc" thì 'tỉnh bơ"! Mấy người cán bộ Quản Lý Thị Trường chẳng ai 'thèm' hỏi về hai cái 'ruột tượng' gạo ( cái bao vải dài đựng gạo có thể cột hai đầu và vắt qua cổ) mà người cụt chân đang ngồi đè lên. Gã 'đi xin bà con về ăn"- nói vậy thì bà con hay mấy chú du kích gắng mà 'tin' vậy. Rồi chẳng ai làm khó ông ta chút nào. "cùi không sợ lở", ai dám đụng 'vị khách' này xem nào? tiền xe ư? Ông ta lần nữa, nhe hai hàm răng ra cười là xong!

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

HOÀNG HẢI THUỶ: NHỮNG NGƯỜI ĐỌC TRUYỆN DUYÊN ANH – Trần Vũ



Trước 75 không học sinh miền Nam nào không mê Duyên Anh, cả nam sinh và nữ sinh. Tôi trong số các thiếu nhi đó, mê mẩn Dzũng Đakao, Gấu Rừng, Bồn Lừa, Cỏ Non, Cầu Mơ, Hoa Thiên Lý, Đêm Thánh Vô Cùng… Lớn thêm chút, tập mơ mộng với Phượng Vỹ, Cám Ơn Em Đã Yêu Anh, Hôn Em Kỷ Niệm, Về Yêu Hoa Cúc… nhưng sang đến loạt truyện du đãng thì quá khủng khiếp! Đám học trò ở Lứa Tuổi Thích Ô-Mai đang trên Mây Mùa Thu đột ngột bị xô xuống vực thẳm của Điệu Ru Nước Mắt, Trần Thị Diễm Châu, Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang, Kẻ Bị Xóa Tên Trong Sổ Bụi Đời…

Thập niên 70 tôi còn là độc giả trung thành của Hoàng Hải Thủy. Ông phóng tác tiểu thuyết nào là tôi thuê quyển ấy. Kiều Giang, Đỉnh Gió Hú, Như Chuyện Thần Tiên, Thầy Nô (James Bond 007), Mang Xuống Tuyền Đài… Tôi ưa nhất Ngoài Cửa Thiên Đường do Hoàng Hải Thủy phóng tác từ tiểu thuyết Maldonné của Boileau-Narcejac; câu chuyện một nhạc sĩ tên Vũ Ngọc Khôi được thuê giả làm chồng sắp bị ám sát của một thiếu phụ xinh đẹp sống trong ngôi biệt thự sang trọng ở Đà Lạt… Văn mềm mại lôi cuốn, du dương tiếng vĩ cầm bên khóe mắt gợi tình trong soi mói canh chừng của tay quản gia cục mịch và chiếc bóng ẩn núp rình rập của người chồng đích thực…

HUY ĐỨC: EM CÒN NỢ ANH! – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn



Nghe tin Huy Đức ra tù, tôi thấy lòng mình khá lạ. Không reo vui, cũng chẳng ngậm ngùi đến độ phải làm thơ. Tôi thản nhiên như một buổi sáng Sacramento nhìn ra sân, chợt thấy mùa Thu đã về tự lúc nào và mấy chiếc lá vàng đang thong thả rơi xuống đất.
Có những tin vui đến với tuổi già không còn bằng tiếng pháo. Nó đến rất nhẹ. Nhẹ như một tiếng “ừ hè” của Huế. Biết rồi. Mờn rồi. Thôi, để rứa mà thương.

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

CHO MA MEN ĐI LÀM... TU SĨ – Bài viết của Đặng Xuân Xuyến


                       

Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

TÂM NHANG – Thơ Lê Kim Thượng


   

Tâm Nhang
 
1.
Quê hương hai tiếng nhẹ nhàng
Mà sao đằm thắm, dịu dàng khôn nguôi
Nhớ bao kỷ niệm buồn vui
Bước chân lữ khách bùi ngùi về quê…
Lưng còng bóng Mẹ trên đê
Áo nâu vất vả đi về hôm mai
Sông quê vương vấn  lòng ai
Đẹp như dải lụa trải dài thướt tha…
Nắng chiều đổ bóng sân nhà
Mâm cơm lúa mới, chan hòa tình yêu
Chiều hoang tím cả rừng chiều
Đồng quê yên ắng, hiu hiu gió luồn
Núi cao khuất bóng hoàng hôn
Gió Heo May thổi bồn chồn chơi vơi
Ráng chiều tô đỏ chân trời
Cháy tàn ngọn nắng, đêm mời trăng lên…
 

TỪ MỘT CÀNH MAI ĐẾN MỘT MÁI CHÙA – Trần Kiêm Đoàn



Nhân lễ tưởng niệm 20 năm ngày Hòa Thượng Mãn Giác – Thi sĩ Huyền Không viên tịch. Tôi được Ban Tổ chức phân công phát biểu đôi điều qua trải nghiệm thân quý là sinh viên của Thầy tại Đại Học Huế. Thời gian yêu cầu là 10 phút. Dạ tôi xin bắt đầu:
 
Hai hồn thơ Mãn Giác và một dòng tâm thức Việt
 
Mãn Giác Thiền sư thời Lý (1052–1096).
Mãn Giác Thiền sư thời hiện đại (1929–2006).
 
Hai bậc chân tu cùng một pháp danh, cách nhau gần một nghìn năm lịch sử, nhưng dường như đã gặp nhau trong một cõi thi ca không có tuổi.
 
Ngày xưa, Cao Bá Quát từng nói đến bốn bồ chữ của thiên hạ. Nguyễn Công Trứ lại ung dung giữa cuộc đời mà “ngâm một câu thơ vỗ bụng cười”. Chữ nghĩa có thể chất đầy kho sách, nhưng rốt cùng, ngôn ngữ vẫn chỉ là những ký hiệu tạm thời chuyên chở cảm xúc và tư tưởng. Có những điều càng giải thích càng xa. Có những câu thơ vừa đọc lên đã nghe lòng mình chạm đến một miền sâu thẳm không lời.
Thi ca huyền diệu có lẽ ở chỗ đó.