BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ Ở TẦM MỨC NÀO? – Vũ Bình Lục


Chân dung Thái Sư Trần Thủ Độ (mượn)
1.
NGƯ PHỦ VÀ VỊ CỨU TINH CỦA DÂN TỘC ĐẠI VIỆT

Người mà chúng tôi muốn nói đây, không ai khác, chính là Thống Quốc Thái Sư, Trung Vũ Đại Vương Trần Thủ Độ (1194-1264).
Một nhân vật lịch sử kiệt xuất. Một nhà chính trị, quân sự thiên tài. Một nhân cách lớn. Người đã kỳ công sáng lập triều đại nhà Trần, cải cách và củng cố, đồng thời, xây dựng nó không ngừng lớn mạnh, để không lâu sau đó, Đại Việt có thể đương đầu với tên đế quốc Mông Cổ khổng lồ, hùng mạnh nhất thế giới lúc đương thời.
Công lao như núi Thái Sơn của người cầm lái vĩ đại Trần Thủ Độ đối với nhà Trần, với nước Đại Việt ta, muôn đời bất hủ!
Uy tín chính trị của Trần Thủ Độ, bao trùm cả từ đời Lý sang đời Trần. Ở địa vị và công lao rất lớn như vậy, ông muốn đặc ân gì mà chả được?

HOÀNG HẬU PARAMECVARI (Huyền Trân Công Chúa) CỦA CHAMPA – Theo Góc nhìn An Nam



Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước từ hơn cả ngàn năm trước cho đến những thế kỷ gần đây 15, 16; qua những sự kiện lịch sử ở Trung Hoa và Việt Nam đã có những bậc quân sư đầy mưu lược, trí dũng song toàn trong vấn đề điều binh khiển tướng ; với biết bao quân hùng tướng mạnh hàng hàng lớp lớp. Với gươm đao sắt thép, với hàng vạn mũi tên vô tình thâm độc, với hàng vạn chiến mã, vó ngựa mịt mù cát bụi phủ đầu quân giặc, với những đoàn chiến tựợng hung hãn vượt núi băng sông điên cuồng dẫm nát thây giặc, phá tan thành quách, nhưng không dễ dàng khuất phục được các bậc quân vương Vua chúa trên ngôi cao trị vì bá tánh thiên hạ. Cũng không khống chế được những anh hùng nắm trong tay hàng vạn binh mã, trấn thủ tung hoành một góc trời ngang dọc như anh hùng Từ Hải vai năm tấc rộng thân mười thước cao đã làm cho triều đình Hồ Tôn Hiến bó tay điên đầu:

Anh hùng riêng một góc trời
Gồm hai văn võ xé đôi sơn hà.

Duy chỉ có loại vũ khí bằng xương bằng thịt, dịu dàng mảnh mai, đài trang khuê các đầy sức quyến rũ đó là loài hoa biết nói, những bông hoa đã làm nghiêng thành đổ nước, sụp đổ cả một triều đại huy hoàng, hay đã chế ngự được những anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất, dọc ngang vẫy vùng như anh hùng Từ Hải đã chết đứng giữa trời cũng vì hương sắc khuynh thành của bông hoa biết nói Thúy Kiều.
Đó là trong thi ca, còn trong thực tế qua sự kiện lịch sử, những Vua chúa nhà Hậu Lý đã từng sử dụng “Mỹ nhân kế” lôi kéo những viên Châu Mục tại các vùng Cao Bắc Lạng phía bắc Việt Nam, những lực lượng quân binh thiểu số này sẵn sàng theo Tàu để làm những ngọn lửa có thể bộc phát đốt cháy thiêu rụi cả khu núi rừng Việt Bắc lúc nào không hay: như Vua Lý Thái Tông gả Công Chúa Kim Thành cho đầu mục Châu Phong là Lê Tông Thuận, Vua Lý Thánh Tông gả Công Chúa Khâm Thánh cho Hà Di Khách – châu mục Tuyên Quang và Tuyên Hóa v.v. Đối với Trung Hoa: Chiêu Quân đã cầm chân được giặc Hung Nô. Công Chúa Lý Văn Thành con của Vua Lý Thế Dân đã làm cho Can Bố, một thủ lãnh mà dân Tây Tạng cho là “Thiên Thần xuất thế” trở nên ngoan ngoãn khi kết hôn với nàng Công Chúa họ Lý này ..v.v

ĐỒNG ÂM “BÍCH” TRONG TỪ HÁN VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮

Tiếng Việt có Bích, một âm đọc quen thuộc, đặc biệt phổ biến trong tên người và văn chương dân tộc, thường gợi vẻ đẹp trong trẻo, thanh cao và có phần quý giá. Thế nhưng trong hệ thống chữ Hán, đây là tập hợp của nhiều tự dạng khác nhau, với mỗi chữ đều có nguồn gốc và trường nghĩa bất đồng, góp phần tạo nên những sắc thái phong phú cho âm đọc này khi đi vào tiếng Việt.
 
Chúng là những chữ Bích nào?

Bích nghĩa gốc là một loại ngọc quý hình tròn, ở giữa có lỗ, thường dùng làm lễ khí trong thời cổ. Chữ này thuộc kiểu hình thanh, gồm bộ Ngọc () chỉ ý và chữ Bách làm thanh phù. Theo quan niệm xưa, ngọc bích tượng trưng cho trời, sự viên mãn và hài hòa với hình dạng “ngoài tròn, trong rỗng”. Vì lẽ đó, Bích dần được dùng để chỉ ngọc nói chung, đặc biệt là loại ngọc quý, sau mở rộng sang nghĩa vẻ đẹp trọn vẹn, không tì vết, tốt đẹp, tròn đầy,...
 
                 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Khi đi vào tiếng Việt, chữ Bích này trỏ cho vẻ đẹp tinh khiết và quý giá, cho nên những từ mà ta thường gặp trong tiếng Việt như toàn bích, hoàn bích, ngọc bích, bích nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Bích này. Trong tên người, đây cũng là một chữ được ưa chuộng, hàm ý vẻ đẹp thanh cao, hoàn hảo và không chút khuyết điểm.
 
一朝大運有時至,
六印纏腰鳴得意。
黄金百鎰璧百雙,
從車千乘來鄉里。
 
Nhất triêu đại vận hữu thì chí,
Lục ấn triền yêu minh đắc ý.
Hoàng kim bách dật bích bách song,
Tòng xa thiên thặng lai hương lý.
Một mai vận đến công thành,
Tướng công sáu nước ấn vàng ý khoe.
Về làng nghìn chiếc cỗ xe
Trăm đôi ngọc bích trăm bè vàng y.
(Nguyễn Du, bản dịch thơ Lương Trọng Nhàn)
 
璧月高,宵煙裊裊,
銀河轉,漏鼓沈沈。
 
Bích nguyệt cao, tiêu yên niểu niểu,
Ngân hà chuyển, lậu cổ trầm trầm.
Nguyệt biếc cao, mây đêm lãng đãng
Ngân hà chuyển, trống điểm trầm trầm
(Tùng Thiện Vương, bản dịch thơ Phan Văn Các)
 
“Ngựa tuấn nọ còn để xương thiên lý, ngàn vàng chưa dễ mấy ai mua!
Ngọc bích kia chưa tỏ giá liên thành, giọt luỵ chớ hoài riêng kẻ khóc!”
                (Tản Đà)
 
Bích có nghĩa là tường vách.

Đây là loại chữ hình thanh, gồm bộ Thổ biểu ý và chữ Bách biểu âm. Về sau chữ Bích này dần mở rộng ra nhiều tầng nghĩa khác liên quan, ví như chỉ các lớp bao bọc của sự vật như thành lũy trong quân sự, hay các cấu trúc bảo vệ của cơ thể,... Đồng thời chữ này cũng được dùng để chỉ vách núi dựng đứng, gợi cảm giác hiểm trở và hùng vĩ.
 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt, nghĩa này xuất hiện khá rõ qua một số từ quen thuộc ví như tường bích, thạch bích, bích họa, bích báo, xích bích,... Ngoài ra, Bích còn là tên của một vì sao trong hệ Nhị thập bát tú.
 
動如雲鶴,
靜如牆壁。
其輕如毛,
其重如石。
 
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
(Trần Thánh Tông, bản dịch thơ Phạm Tú Châu)
 
Sông Xích Bích luống thương người khốn quẫn,
Bến Tầm Dương còn nhớ khúc Ly tao,
Ngại ngùng thay trong lúc ba đào,
Ai đứng mũi chịu sào cho đáng mặt?”
                             (Trần Tuấn Khải)
 
Nghìn lẻ một đêm mộng thắp đèn
Hồn đi vào giấc ngủ hoa sen
Nền mây bích họa sương vờn bóng
Điên đảo trời sao mắt lượn thuyền.”
                                  (Đinh Hùng)
 
Bích có nghĩa là xanh biếc.

                  
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Phàm những gì mang sắc xanh trong trẻo đều có thể gọi là Bích. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng rằng Bích là loại đá có màu xanh đẹp, gần giống với ngọc. Trong cách nhìn của người xưa, chữ Bích này chính là sắc xanh tinh khiết và sáng trong, thường gắn với những vật quý hoặc cảnh sắc thanh sạch, không nhiễm bụi trần.
Từ đó, chữ Bích xuất hiện nhiều trong tiếng Việt như ngọc bích, bích câu, Bích Câu kỳ ngộ,... thường được dùng rộng để chỉ màu xanh, đặc biệt là trong những hình ảnh trời xanh nước biếc. Đồng thời trong văn chương, Bích còn mang sắc thái thẩm mỹ rõ rệt, được dùng để khắc họa những không gian cao rộng, trong lành và có phần thoát tục.
 
庭舞胎禽雲掩關,
露華嚥罷覺清寬。
碧桃華下渾無事,
時倩東風掃石壇。
 
Đình vũ thai cầm vân yểm quan,
Lộ hoa yến bãi giác thanh khoan.
Bích đào hoa hạ hồn vô sự,
Thời thiến đông phong tảo thạch đàn.
Lân múa thai cầm mây đóng quan
Yên tan hoa lộ tiếng chuông khoan
Dưới hoa đào biếc rành vô sự
Sẽ mượn gió đông quét thạch đàn.
(Chu Văn An, bản dịch thơ Nguyễn Bích Ngô)
 
“Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay.”
                (Hồ Xuân Hương)
 
“Thành tây có cảnh Bích Câu
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.”
                                  (Bích Câu kỳ ngộ)
 
                                                                      Bài viết của Khánh Ly
                                                                       Trích từ Tri thư đạt lễ

UYÊN ÁO 淵奧 - Ung Chu, HánViệt Thông Dụng



- uyên : vực sâu, chỗ nước sâu; sâu, như trong "uyên bác", "uyên thâm", chữ này mang bộ "thuỷ" (nước)
- áo : chỗ sâu kín trong nhà; sâu xa, sâu kín.
"Uyên áo" 淵奧 dùng để tả thâm sâu, sâu xa, sâu kín: tính uyên áo của giáo lí, kiến thức uyên áo, ý nghĩa uyên áo...
 
                                                                               Ung Chu 
                                                                     Hán Việt Thông Dụng

ĐÁNH GIÁ LẠI HOÀNG CAO KHẢI – PGS.TS Chương Thâu



Trong giới nghiên cứu sử học, nhà sử học - PGS.TS Chương Thâu nổi tiếng là người chuyên ... lật xới những gì mà lịch sử hoặc chính ông còn nghi vấn. Kết quả gần đây nhất là tác phẩm Việt Sử Yếu của Hoàng Cao Khải - nhân vật vốn bị liệt vào hàng phản diện bởi những tội trạng khá nặng nề. Nhân Việt Sử Yếu của Hoàng Cao Khải được in và phát hành (NXB Nghệ An, 2007, Chương Thâu giới thiệu ), Thanh Niên có cuộc trao đổi thú vị với nhà sử học Chương Thâu.

CHÙM THƠ TỊNH BÌNH


    

 
 CAM LỒ TINH KHÔI
 
Về đâu trăm vạn nẻo đường
Trong veo giọt nước hay sương đầu cành
Vô phiền vô nhiễm vô tranh
Trời cao biển rộng loanh quanh sơn hà
 
Về đâu cát bụi đời ta
Phận sâu cái kiến cỏ hoa thương cùng
Mây trời nhật nguyệt riêng chung
Trăng in đáy giếng đóng khung gương hồ
 
Mịt mờ muôn lối hư vô
Giọt sương bé nhỏ dại khờ đơn côi
Từng hồi chuông vọng xa xôi
Là mưa hay giọt tinh khôi cam lồ
 
Hải triều từng lượn sóng xô
Dấu chân ngày cũ mơ hồ kiếp sương
Hơi tàn giũ sạch ghét thương
Là sông hay biển còn vương vấn gì...
 
 
NIỀM VUI BÉ MỌN
 
Khi mùa xuân đã ngoài tầm với
Đong đưa trên tầng cao sắc lá xanh
Dây thường xuân gọi tôi ngoài cửa sổ...
 
Dẫn tôi vào tinh khôi
Xòe nở tiếng chim buổi sớm
Vạt gió ủ hương bông hoa nào giấu mặt
Có chút bình yên trong tia nắng mai đầu ngày
Mỉm cười gọi tôi đi...
 
Những bước chân xuân xa dần
Lũ bướm ong thôi mê mệt với muôn hồng nghìn tía
Con đường tôi qua
Một chút bụi cát và gai góc
Chẳng nỡ hái bông hoa dại bên đường
Bởi nâng niu niềm vui bé mọn
Dành cho ai đó vô tình ngang qua...
 

TÌNH QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng


  


Tình Quê
 
1.
Người về… một sớm bình minh
Vịn vào cơn nhớ… tìm hình tuổi thơ…
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh mơ cánh đồng
Màu trời xanh biếc, xanh trong
Chích chòe réo gọi hừng đông lên rồi
Một đàn chim sẻ rong chơi
Tiếng kêu ríu rít, tiếng rơi bồi hồi
Trời cao lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi bãi bờ
Cảnh quê như thực, như mơ
Bâng khuâng, xao xuyến bài thơ không lời
Chuồn chuồn đậu ngọn mồng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi đầy thềm
Nắng nghiêng xuống gót chân mềm
Áo nâu trong gió bóng em bồng bềnh…
 
2.
Rời xa quê cũ buồn tênh
Dòng sông chảy mãi, tuổi tên chất chồng
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều bay giữa mênh mông trời chiều
Lá dừa chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu đậm tình
Nắng rơi từng giọt lung linh
Rơi trên nón lá rung rinh bóng tròn
Chiều tà nắng xuống đầu non
Ai mang giấu ánh hoàng hôn cuối ngày
Buồn buồn ngọn gió Heo may
Tan vào nỗi nhớ tràn đầy xanh xao
Gió mơn man, rét hanh hao
Thấm vào áo mỏng ngọt ngào tái tê
Người bình dị… người chân quê
Tay nâng ly rượu hẹn thề tri âm…
 
Nha Trang, tháng 04. 2026
Lê Kim Thượng               

RÕ KHỈ - Thơ Lê Phước Sinh


  


RÕ KHỈ
 
Bị siết Vòng Kim Cô
Thiên Đình chơi xỏ lá phong làm Đại Thánh
Nhổ lông, gãi háng, nhăn nhó, trừng mắt...
dáo dác
ôm Thiết Bảng đằng vân tìm phương : - Bơ Cứu...
 
                                                     Lê Phước Sinh

CHÙM THƠ NGẮN CỦA TỊNH BÌNH




1. THÁNG TƯ
 
Hạ về thương quá lời ve
Chói chang cái nắng gọi hè ra chơi
Dỗi hờn mây thả mưa rơi
Đỏ hoe mắt phượng đầy trời tương tư...
 
 
2. SEN
 
Hiến dâng tất cả cho đời
Hoa thân rễ lá ngát lời sen hương
Giữa trời trơ mảnh đài gương
Im soi bóng nắng chân phương lối về...
 
 
3. QUÊ NHÀ
 
Gọi chi thao thiết tiếng gà
Vạch màn sương khói quê nhà ta đâu
Mịt mờ mấy nẻo bể dâu
Non xa biển biếc vọng sầu cố hương...
 
                                          Tịnh Bình

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

TỤC HUYỀN 續弦 - Bài viết: Khánh Ly, Tri thư đạt lễ - 知書達禮


 
“Dạy rằng hương lửa ba sinh,
 Dây loan xin nối cầm lành cho ai.”
                               (Truyện Kiều)

Loan huyền, chữ Hán viết 鸞弦, nghĩa là dây đàn đã đứt được nối lại bằng keo loan. Đây là một điển cố trong thần thoại Trung Hoa. Theo Hải nội thập châu ký - Phụng lân châu chép rằng ở châu Phụng Lân Tây Hải có nhiều tiên nhân. Tiên nhân dùng mỏ chim phụng và sừng kỳ lân nấu thành một loại keo thần, có thể nối dính dây cung hoặc dây đàn bị đứt, khiến dây liền lại như cũ. Loại keo ấy gọi là Tục huyền giao 續弦膠 hoặc Loan giao 鸞膠.

Từ điển cố này, hành động nối dây đàn trong văn chương cổ thường được dùng để chỉ việc tái kết duyên vợ chồng, nhất là trường hợp người đàn ông góa vợ lấy vợ kế. Các thành ngữ như Loan giao tái tục 鸞膠再續 hay Loan giao phụng ti 鸞膠鳳絲 cũng đều mang ý nghĩa nối lại mối duyên cầm sắt.

NHÂN LÀNH THÌ QUẢ NGỌT – Nguyễn Toàn Thắng



Trong dòng chảy hối hả của cuộc đời, đôi khi chúng ta dừng lại và tự hỏi: Tại sao có những người dường như luôn gặp may mắn, còn mình lại cứ mãi lận đận? Tại sao có những người sống giữa giông bão vẫn an nhiên, còn mình lại dễ dàng sụp đổ trước một biến cố nhỏ? Câu trả lời không nằm ở sự thiên vị của số phận, mà nằm ở quy luật thầm lặng nhưng bền bỉ nhất của vũ trụ: Nhân lành thì quả ngọt.
 

SỰ "THẬT THÀ" CỦA NHÀ VĂN ĐÔNG LA – Đặng Xuân Xuyến



Được bạn bè chuyển cho xem ảnh chụp những dòng chua chát của nhà văn Nguyễn Quang Lập về “thói đời tình người” rất thật trên facebook cá nhân ngày 14 tháng 6 năm 2025: "Bạn bốn phương toàn bạn nhậu, hơn nghìn lít rượu may lắm mới có một người son sắt thuỷ chung. Một người giúp chục kẻ phá, một người chân thành chục kẻ đểu giả. Ngó quanh khó thấy kẻ thật bụng thương mình, toàn đám giả cầy ngoài thơm trong thối, bán bạn 10 xu cũng bán. Thế mà vẫn cứ đánh đu với chúng nó. Là bốn cái ngu. Đại ngu. Tứ đại ngu hu hu hu..". Tôi khá đồng cảm với chia sẻ của ông vì tôi đã từng có đôi lần rơi vào tâm trạng như thế. Tôi lại nhớ tới lời "tâm sự thật”, thật đến phũ phàng của nhà văn Dương Thu Hương về "giới phê bình" qua lời kể của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh mà thấy thương, thấy tồi tội những người "đam mê con chữ": "Trừ anh Hoàng Ngọc Hiến là thầy tôi, anh Nguyễn Đăng Mạnh là người tôi kính trọng, còn tất cả bọn phê bình đều là dòi bọ. Riêng Phan Cự Đệ là con chó ngao”.
 

“HƯƠNG QUÊ” BÀI THƠ CỦA PHƯƠNG NGỮ BẮC BỘ… - Dương Diên Hồng



Tôi đọc “Hương Quê” của tác giả Đặng Xuân Xuyến cách đây khá lâu. Gần đây, đọc lại kỹ hơn. Không phải muốn đền ơn bạn Xuyến đã xem chỉ tay mà thật lòng là thích bình bài thơ này. Thi thoảng tôi vẫn có cảm hứng bình cho vui, thuận tiện nhất là khi rảnh. Đó là thú “thích thì nhích” đời thường của người dạy Văn, học Văn.
 
Bài thơ Hương Quê có nhiều từ mới, đối với tôi, cũng cần đi sâu để hiểu thêm về Văn chương của các nhà Văn Bắc bộ…
 
Hôm nay, thong thả đọc thơ và cảm nhận chút chút…
 
HƯƠNG QUÊ
 
Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm
Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm
Níu bờ sông
Ơi ời “ra ngõ mà trông”
Vi vút gió đồng...
 
Ngẩn ngơ
giấc mơ
Níu đôi bờ bằng dải yếm
Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm
Áo tứ thân trải lá lót nằm
Gom gió lại để chiều bớt rộng...
 
Thẩn thơ
Tiếng mơ thầm thĩ
“Người ơi...
Người ơi...”
Dan díu lời thề
Ngõ quê líu quíu.
 
Hà Nội, chiều 31.08.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TÊN SÔNG “THẠCH HÃN” CÓ NGUỒN GỐC TỪ TÊN LÀNG - La Thụy sưu tầm và biên tập

Tên sông Thạch Hãn được vua Minh Mạng cho khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu - Hoàng thành Huế) dưới dạng chữ Hán là Thạch Hãn giang 江捍石 (đọc ngược từ phải sang trái)
Các văn tự viết bằng chữ Hán có liên quan đến tên sông Thạch Hãn của các làng trong vùng đều viết chữ Hãn () theo nghĩa là ương bướng, cản trở chứ không viết chữ Hãn () theo nghĩa mồ hôi.
 
Sông Thạch Hãn khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu, Huế)

Sông Thạch Hãn có nguồn gốc địa danh từ tên làng Thạch Hãn. Tên Thạch Hãn xuất hiện từ thế kỷ XVI - XVII và được các nhà Nho diễn nghĩa Hán tự từ ghồ đá cản dòng trên sông, đoạn đi qua làng Thạch Hãn. Trước đó, khi làng Thạch Hãn còn mang tên là Thạch Hàn/Đá Hàn thì sông được gọi là sông Đá Hàn. Vì thế, dân gian gọi là Nguồn Hàn.
 
Sông Hãn cường ngạnh, kiên trinh, không chịu phục tùng tự nhiên hay chính nó cũng đã tạo nên tính cách của con người Quảng Trị !

LOẠN CÙNG PHÉP LẠ AI – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn


Hình minh họa của AI dành riêng cho bài viết này
 
 Hôm nay, ngày Rằm Tháng Giêng và đêm Nguyên Tiêu, nhận được email của chị Kim Oanh chuyển tiếp trang thơ của chị cho quý bằng hữu xem những trang thơ xướng họa của chị và thi hữu, tôi bỗng nảy ra ý vui vui đầu năm là nhờ AI làm thơ xướng họa nên đã viết cho CHAT GPT – AI – TRÍ TUỆ NHÂN TẠO như thế này:
 
Dear Chat GPT: Tôi cũng thường làm thơ các thể loại cổ điển, truyền thống cũng như "cách tân". Nhưng gần đây rừng thơ thế giới cũng như Việt Nam bị "LOẠN AI" - nên thơ đang có hiện tượng là "thơ máy" với người khen cũng lắm mà người chê cũng nhiều. Thơ AI thường bị nhận xét chung là nó "kỳ kỳ, hay hay nhưng sao sao ấy" – một cảm giác vừa thanh vừa thô khó diễn đạt trọn vẹn – Nay có chị bạn thơ Kim Oanh làm một bài thơ xướng, tôi muốn nhờ AI làm một bài họa rất "tâm đắc"; nghĩa là vừa chỉnh chu về niêm luật thơ Đường Thất Ngôn Bát Cú, vừa diễn đại về ý và lời rất nhẹ nhàng, giàu cảm xúc và đậm tính thi ca của người Việt Nam vốn yêu thơ. Tôi xin copy nguyên văn bài thơ của chị Kim Oanh như sau. Mong nhận được bài thi họa của AI:

TỪ ẤY – Thơ Lê Kim Thượng


   

Từ Ấy
 
1.
Em xa từ ấy đến giờ
Nhớ ai dáng nhỏ mịt mờ chân mây
Nhớ tà áo gió bay bay
Tôi về nhặt nhạnh tháng ngày trở trăn…
Bàn tay mười ngón búp măng
Vuốt ve mái tóc, tóc quăn mây trời
Tóc thề che nửa lưng người
Hoa đào thắm đỏ, môi cười nhẹ cong
Thơ ngây, mơ mộng, trắng trong
Đam mê tình tứ một lòng keo sơn…
Tôi – Em ai nhớ nhiều hơn
Nhớ em hờn dỗi tủi hờn thâu đêm
Ai làm nhung nhớ nhiều thêm
Ai làm ngây ngất con tim chung tình
Thương yêu cho hết lòng mình
Qua bao năm tháng chuyện tình không phai…
 

VÌ SAO TA DỄ KHÓC VÌ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG XỨNG ĐÁNG – Nguyễn Toàn Thắng



Trong hành trình đi qua những đổ vỡ, có lẽ câu hỏi khiến chúng ta ray rứt nhất chính là: Tại sao mình lại có thể yếu lòng đến thế vì một người vốn dĩ chẳng hề xứng đáng? Có những giọt nước mắt rơi xuống, nóng hổi và đắng ngắt, không phải vì đối phương quá quan trọng hay vĩ đại, mà bởi vì trái tim ta đã trót trao đi quá nhiều mà chẳng nhận lại được bao nhiêu. Ta đau không hẳn vì họ tốt đẹp, mà vì ta đã từng dốc lòng tin rằng họ sẽ tử tế. Ta khóc không hẳn vì họ đáng giá, mà vì ta đã đặt để vào họ quá nhiều kỳ vọng, để rồi khi thực tại phũ phàng ập đến, ta bàng hoàng nhận ra mình vừa đánh mất cả một bầu trời hy vọng.
 

VỀ LẠI MIỀN THƯƠNG – Thơ Đỗ Anh Tuyến


       

(Họa bài thơ 
CON MUỐN VỀ QUÊ NỘI, NỘI ƠI của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến)

 VỀ LẠI MIỀN THƯƠNG

Con về đây... giữa tuổi đã trung niên
Tìm lại dấu chân xưa vùng Gia Viễn
Dòng sông cũ, sóng tràn trên mặt nước
Đầm Vân Long... vương vấn một câu hò.
 
Ngược lối mòn con tìm đến Cầu Bo
Lời hứa cũ cứ nghẹn ngào nhắc nhở
Bà đi rồi... để lòng con vụn vỡ
Biết ai người dẫn bước lối xưa theo?
 
Tiếng chuông chùa vọng lại phía chùa Keo
Nghe huyền thoại về thiền sư Không Lộ
Nền gạch cũ in dấu hài thuở nọ
Dựng giang sơn... rạng rỡ những trang hùng.
 
Ước một lần mang sức vóc trẻ trung
Ngồi nghe Nội kể chuyện đời dâu bể
Để hiểu thấu chữ Nhân nồng hậu thế
Giữa cõi người... nhân nghĩa mãi lên hương.
 
Dẫu hôm nay ngăn cách những nẻo đường
Gia Viễn, Cầu Bo... mờ sương lối đợi
Nhưng trong dạ vẫn vẹn nguyên tiếng gọi:
Nội đi rồi... con vẫn hướng tâm theo!
 
                                    ĐỖ ANH TUYẾN
 
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.