BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

ĐẠI LỘ BÚN BÒ HUẾ - Tác giả Phanxi Pang


Tác giả Phanxi Pang cùng tô bún bò Huế.
 
Bình chọn món bún xuất sắc và phổ biến nhất thế giới, cam đoan mọi người đều dồn phiếu cho bún bò Huế.
Khắp nước ta và nhiều nơi ở nước ngoài, hầu hết nhà hàng đặc sản Việt Nam đều kê trong thực đơn cái món vermicelle de Hué / Hue vermicelli. Nghĩa là “bún Huế”, song cần hiểu ngầm là bún bò Huế, và nếu cần trình bày cho đầy đủ thì phải ghi: bún + thịt bò + giò heo + chả + các phụ gia thích hợp. Giò heo đây là cẳng lợn, phần móng. Còn chả – người miền Bắc quen gọi là giò – gồm các thứ chả heo như chả lụa, chả bông, chả cây (chả lá), chả quế, chả viên; ngoài ra còn có chả cá và chả cua nữa.Bún bò giò chả là thức quà được bán suốt ngày đêm cho thiên hạ điểm tâm buổi sáng, ăn dặm xế trưa, dùng lỡ ban chiều và lót dạ tối khuya.

THU KHÚC, MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG, HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN – Thơ Tịnh Bình


   

 
THU KHÚC
 
Rụng vào thu xưa chiếc lá
Neo hồn ta giữa đa mang
Heo may luồn kim se chỉ
Đong đưa một phiến thu vàng
 
Thầm gọi đôi lời quá vãng
Độc bình hoa tím đơn côi
Mênh mang nẻo về sương khói
Thơ xưa nét chữ nhòe rồi
 
Tri âm bạn đà đi vắng
Cầm lên xác bướm khô rơi
Người gần như xa quá đỗi
Thì thôi thu hát bên trời
 
Khẽ chuyến mây trôi bằng lặng
Vườn thu mắt cỏ đẫm sương
Lãng đãng lời chi chuông gió
Ngỡ em phía lối hoang đường...
 
 
MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG
 
Nắng mưa rát mặt cánh đồng
Cơm mùa giáp hạt đèo bòng sắn khoai
Nhọc nhằn tay ải tay ai
Phôi thai từ buổi hạ dài sang thu
 
Bờ hoang an phận mù u
Gieo neo chi gió đánh đu phận người
Cuối mùa sen ngỡ còn tươi
Lá xanh nõn ngó búp cười mà đau
 
Nhớ xưa thầm trách chi nhau
Gió đưa hương bưởi rụng vào nhà ai
Lời ru quay quắt đêm dài
Trầu cay một mớ vẫn hoài đa mang
 
Gọi nhau trẩy hội mùa vàng
Tay liềm tay hái mơ màng thảo thơm
Quê nhà ướt bóng chiều hôm
Ngát hương cơm mới rạ rơm phơi lòng...
 
 
HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN...
 
Khi những cánh diều không cõng nổi ước mơ
Ta biết nói gì cùng mùa hạ
Giá có thể trở lại làm đứa trẻ sà vào lòng mẹ
Khóc một trận thỏa thuê
 
Nhắn bước chân thôi hãy về đi
Mái nhà xưa
Lũ rêu hoang bám gờ giếng cạn
Mùa hạ lặng thầm
Cây nhài cũ đơm bông
 
Mặc những ngổn ngang
Bàn chân lấm bụi
Những đứa trẻ giả vờ như chưa lớn
Bên chái bếp còn nghe mùi khói rụng
Hương nhài cũ chưa tan...
 
                                        TỊNH BÌNH

CÕI TRẦN – Thơ Lê Kim Thượng


   


Cõi  Trần
 
1.
Người về tìm thuở thiếu thời
Quê hương in dấu một đời Mẹ Cha
Sông quê nước chảy hiền hòa
Đón người lữ khách phương xa mới về
Gió lùa qua mái tranh tre
Lời ru đằm thắm trưa hè “ À… ơi…”
Lời ru theo gió chơi vơi
Bâng khuâng xao xuyến đậm lời thơ ca…
Người về vui với quê nhà
Lúa ngô, khoai sắn thật thà chân quê
Mẹ về, bóng Mẹ trên đê
Hanh hao cái nắng tái tê chín vàng
Lẫn trong ngọn gió vừa sang
Hương thơm lúa chín đồng vàng xa đưa
Nắng qua kẽ lá lưa thưa
Sông quê vọng tiếng đò đưa thuở nào…
 
2.
Quê nhà hai tiếng ngọt ngào
Người xa vạn dặm nôn nao bồi hồi
Lòng còn đau đáu người ơi
Trông về quê cũ, phương trời mù xa…
Quê nhà hai tiếng thiết tha
Nhà xưa có Mẹ, có Cha mong chờ
Nhớ về năm tháng tuổi thơ
Nhớ về tiếng Mẹ “Ầu… ơ…” nhẹ nhàng…
Một mùa báo hiếu Vu Lan
Cài bông hồng trắng hai hàng lệ rơi
Mẹ giờ đã khuất bóng đời
Âm dương cách biệt, hết thời chờ mong
Lung linh những ngọn nến hồng
Chắp tay con vái cầu mong Mẹ hiền
Mẹ về cõi Bụt, cõi Tiên
Bỏ gian nan, bỏ ưu phiền… nhân gian…

         Nha Trang, tháng  08. 2026
               LÊ KIM THƯỢNG

KỲ VĨ NÚI ÔNG, THÁC BÀ – Bài viết của Ngô Văn Tuấn

        
           
                                       Tác giả  Ngô Văn Tuấn ở Núi Ông

Từ Bắc Tánh Linh, rẽ trái thị trấn Lạc Tánh (Tánh Linh- Bình Thuận), chúng tôi đến với khu rừng nguyên sinh dưới chân núi Ông, nơi có ngọn thác Bà nổi tiếng. Trước mắt tôi, cánh rừng ngút ngàn trải rộng. Rừng nơi đây được bảo tồn, quản lý nghiêm ngặt, từng cây gỗ dù nhỏ, lớn đều được kiểm kê gắn bảng ghi tên. Đã rất lâu rồi tôi mới tìm được cái cảm giác thanh thản, nhẹ nhàng pha chút u tịch giữa tứ bề rừng xanh rợp bóng.
 

VỀ HUẾ THẢ OM – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn

                                   Nhà hàng Thả Om 12/12 Nguyễn Phúc Nguyên Huế

Trong gần nửa thế kỷ phiêu bạt, tôi đã có dịp tìm đến và cúi nhìn bóng mình trên nhiều dòng sông được xem là “thiêng” của thế giới: Mississippi mênh mang, Seine thơ mộng, Thames trầm mặc, Hoàng Hà cuộn màu lịch sử, Hằng Hà chở nặng đức tin, Tiền Đường dậy sóng, Nile âm thầm nuôi dưỡng một nền văn minh… Chỉ riêng Amazon: dòng sông hùng tráng và bạo liệt bậc nhất hành tinh; là tôi chưa một lần được thấy.
Nhưng sông lớn đến đâu cũng chỉ chảy qua miền đất lạ. Có những dòng sông không cần nổi tiếng mà vẫn chảy suốt một đời người. Chúng không nằm trên bản đồ thế giới, mà nằm trong bản đồ tâm tưởng; càng đi xa càng thấy gần, càng lớn tuổi càng nghe tiếng nước gọi về.
 

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập



Đi Đà Lạt chơi với công ty của con trai đầu, mình mua vội một chai dầu gió. Thấy ghi 3 chữ Hán 上標油, mình tò mò đọc “Thượng tiêu du”.
“thượng” nghĩa là “bên trên”, thì dễ hiểu thôi.
“du” nghĩa là “dầu” cũng dễ hiểu.
Nhưng “tiêu” nó ẩn nghĩa gì ?
Mình tra thử từ điển Hán Việt để rõ.
Thì ra có nhiều cách đọc như : “tiêu, phiêu, biểu” có nghĩa là “ngọn”, “khuôn mẫu”, “cây nêu”
Tên chữ Hán in trên hộp, trên chai của dòng dầu gió Siang Pure Oil (thường gọi là dầu ông già Thái Lan) là 上標油 , phiên âm Hán Việt đọc là “Thượng Tiêu Du”.

Cụm từ 上標油 còn có thể đọc theo âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du”, “Thượng Biểu Du” (hoặc người Tàu gọi sản phẩm này là “Thượng Tiêu Bản”).

1. Nguồn gốc tên gọi
 
Thương hiệu dầu gió “Ông Già” Thái Lan Siang Pure Oil có nguồn gốc sâu xa từ công thức y học cổ truyền của người Hoa di cư vùng Triều Sán (Quảng Đông).
- Tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew / Siang Pure Oil)
- Chữ Hán in trên hộp, trên chai: 上標油
- Phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú
(đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái).
Thượng Tiêu Du  (上標油) mang ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"
 
2. Chiết tự âm Hán Việt
 
Khi dịch chữ Hán 上標油 sang âm Hán Việt, chúng ta sẽ có:
(Thượng): Nghĩa là ở trên, cao cấp, danh tiếng.
(Tiêu / Biểu): Nghĩa là nhãn hiệu, cột mốc, tiêu chuẩn (trong từ "mục tiêu", "nhãn hiệu").
(Du): Nghĩa là dầu, tinh dầu.
 
* Nguồn gốc tên gọi "Siang Pure" liên quan đến chữ Hán:
 
Mặc dù nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là Thượng Tiêu Du (上標油), nhưng cách đọc tiếng Anh Siang Pure lại bắt nguồn từ âm đọc tiếng Triều Châu của một cụm từ Hán khác.
 
 Do người sáng lập thương hiệu này là ông Boonchua Eiampikul - một người gốc nhập cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan.

Khi phân phối cho thị trường người Hoa, hãng sử dụng tên gọi Thượng Tiêu Du (上標油) làm thương hiệu chính thức để khẳng định uy tín và chất lượng của sản phẩm.

Như vậy, từ phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú  (đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái). Nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là 上標油 với âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du,  “Thượng Tiêu Du”, “Thượng Biểu Du”.
 
Trong tiếng Anh chữ “Pure”  có nghĩa là tinh khiết, nguyên chất hoặc thuần túy…
“Pure Oil” có nghĩa là dầu nguyên chất hoặc dầu tinh khiết, chỉ loại dầu được chiết xuất từ thực vật hoặc động vật mà không bị pha trộn với các chất phụ gia, tạp chất hay dầu nền rẻ tiền khác.
 
Công dụng:
 
Dầu gió đỏ Siang Pure Oil là sản phẩm của Thái Lan dùng để:             
- Giảm cảm lạnh, ngạt mũi, đau đầu, chóng mặt.
- Xoa dịu vết sưng, bầm tím và ngứa do côn trùng đốt .
- Giảm đau cơ khớp nhẹ.
- Giữ ấm cơ thể và tạo cảm giác sảng khoái.

                                                               La Thuỵ sưu tầm và biên tập

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

THẮNG 勝 - Bài viết của Trúc Âm, Tri thư đạt lễ



“Sinh rằng: Giải cấu là duyên,
Xưa nay nhân định THẮNG thiên cũng nhiều.”
 
Tiếng Việt có Thắng, chữ Hán viết . Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng: Thắng là khả năng gánh vác, đảm đương, về sau mở rộng sang nghĩa vượt trội, chiến thắng và những gì nổi bật hơn hẳn.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, Thắng được dùng rất nhiều với nét nghĩa vượt lên, chiếm ưu thế, kết quả thành công như trong các từ chiến thắng, thắng lợi, thắng trận, thắng bại, quyết thắng, bách chiến bách thắng, nhân định thắng thiên,.. Đồng thời Thắng cũng mang nghĩa đẹp đẽ, tốt lành, thường gặp trong những nơi chốn có cảnh sắc đặc biệt như thắng cảnh, danh thắng, thắng địa,...
 
Thắng quyết định kết quả hơn thua giữa hai phía, mang sắc thái của kết quả bên ngoài, song trong tư tưởng phương Đông, chữ này còn ẩn chứa tinh thần tu dưỡng bên trong qua khả năng “tự thắng” - tức khả năng tự đối diện và chế ngự bản thân của con người. Thắng người đời vốn đã khó, nhưng để thắng được chính mình, chế ngự mọi xúc cảm tiêu cực, dục vọng và giới hạn nội tâm thì lại càng khó hơn.
 
Vì gửi gắm mong ước về chí tiến thủ, bản lĩnh vững vàng và khả năng chiến thắng chính mình trước khi chiến thắng người khác, cho nên đây là một cái tên đẹp trong văn hóa đặt tên của người Việt ta.
 
Thanh tao lịch sự đủ mùi,
Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy.
Đâu đâu nam bắc đông tây,
Thăng Long thắng địa, xưa nay tiếng đồn.”
                                                    (Ca dao)
 
層樓閱歷幾星霜,
勝景幽淒已半荒。
齋灶煙消春草茂,
花階露冷谷風涼。
 
Tằng lâu duyệt lịch kỷ tinh sương,
Thắng cảnh u thê dĩ bán hoang.
Trai táo yên tiêu xuân thảo mậu,
Hoa giai lộ lãnh cốc phong lương.
 
Tầng lầu dầu dãi mấy tinh sương,
Thắng cảnh còn đây ngọn suối hoang!
Thềm gạch gió lùa, hơi lạnh lẽo,
Bếp chay cỏ mọc, dấu mơ màng.
(Ngô Thì Nhậm, bản dịch thơ Ngô Sĩ Lâm)
 
三年不吃酒吹煙,
人生無病是真仙。
喜見南方連大勝,
一年四季都春天。
 
Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quý đô xuân thiên.
 
Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên, sướng tuyệt trần,
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân.
(Hồ Chí Minh, bản dịch thơ Khương Hữu Dụng)
 
Lòng soi mơ ước, trào dông bể
Dạ cháy mưu toan, ngút lửa thành

Thắng, bại, anh hùng, không cứ luận
Mỹ Lương một trận, tử mà sinh!
                                  (Vũ Đình Liên)
 
                                                                  Bài viết của Trúc Âm
                                                                Tri thư đạt lễ - 知書達禮

VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1982–1985) (KỲ 2) – Bài viết của Hoàng Hưng


Ảnh: từ trái qua phải: Hoàng Hưng, Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên tại Bờ Hồ Hà Nội những năm 2000

Lần này vào Sài Gòn, tôi đã chọn một hành trình mới: từ Hà Nội xuống Hải Phòng để đáp tàu thuỷ vào (đường thuỷ ven biển Hải Phòng-Sài Gòn mới có được ít lâu). Người giúp tôi mua vé tàu là hoạ sĩ Thọ Vân, phụ trách Mỹ thuật của Hội Văn nghệ Hải Phòng, bạn thân nhất của tôi trong 8 năm tôi sống ở thành phố này. Anh là một người tự học, rất ham học. Tôi đã dịch cho anh cả loạt sách hội hoạ tiếng Pháp anh mua ở cửa hàng sách ngoại văn. Trước ngày tàu khởi hành ít bữa, tôi đã chở sẵn hàng hoá mới mua (trong đó có bộ Bách khoa toàn thư Larousse) xuống nhà anh để sẵn. Khi tôi bị bắt, công an xuống Hải Phòng thu giữ hết đồ đạc của tôi và không bao giờ trả lại, mặc dù sau khi ra tù, tôi đã có đơn đề nghị trả! Đơn không có hồi âm, như xử sự thường lệ của các cơ quan công quyền đối với công dân! Mãi sau này, tôi mới biết khi vụ án đã xong, đến thời hạn “thanh lý”, họ đã đem bán tất cả “tang vật vụ án”, kể cả “tang vật chủ yếu” là tập thơ VKB mà Hoàng Cầm chép tặng tôi, số tiền bán được không biết vào công quĩ hay túi riêng của ai?

TÌNH NGHĨA GIÁO KHOA THƯ – Nhà văn Sơn Nam


Nhà văn Sơn Nam

- Từ đây tới nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy?
Thầy xã trưởng đáp:
- Ở xóm Cà Bây Ngọp lận! Ðể tôi ra lịnh cho phó hương ấp đòi tên đó tới công sở...
Thầy phái viên nhà báo “Chim Trời” giựt mình.
- Tôi là phái viên, đâu có quyền hạn đó đối với quý độc giả thân mến gần xa.
Thầy xã hỏi:
- Phái viên là gì vậy thầy?
- Là người thay mặt cho tờ báo đi cổ động và thâu tiền.
- À! Bây giờ tôi mới biết cái thằng Tư Có. Nó thiếu tiền của nhà báo hả? Hèn chi nó bơi xuồng lên công sở lãnh báo, đúng bảy bữa là có mật nó. Nghèo không biết thân lại còn bày đặt làm sang mua báo không trả tiền!
 

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

TÔI ĐÃ THUA TRẮNG VÁN KẺ IN LẬU SÁCH CỦA MÌNH – Bài viết của Đặng Xuân Xuyến



Tối 12 tháng 6 năm 2026, vào google mới biết cuốn TỬ VI KIẾN GIẢI của tôi bị Nguyễn Văn Dũng (biệt danh Dũng Cá Ngão) công khai "tái bản trộm" và quảng cáo bán sách rầm rộ được 1 thời gian dài rồi.
 
Chuyện bắt đầu từ ngày 4 tháng 4 năm 2025, Dũng đến nhà tôi xin tái bản mấy đầu sách của tôi, trong đó có cuốn TỬ VI KIẾN GIẢI. Biết Dũng đã từng bán sách in lậu của tôi khá nhiều nên tôi đồng ý cho Dũng tái bản mấy đầu sách đó thời hạn 1 năm với giá nhuận bút rẻ gần như cho không để mấy đầu sách đó không bị Dũng bán bản in lậu đã xuất bản từ năm 2010 nữa. Hôm đó, tôi và Dũng chuyện trò khá lâu, gần trọn buổi chiều.

NHÂN VẬT TRẦN HỮU LƯỢNG TRONG VIỆT SỬ VÀ MINH SỬ - Bài viết của Nhat Ngo



Trần Hữu Lượng theo Việt Sử là người gốc Việt (con Trần Ích Tắc), ông từng là Hoàng Đế một phần lớn lãnh thổ của Trung Quốc, tranh bá đồ vương với Chu Nguyên Chương nhà Minh, ông thua vì không gặp thời và mưu Lưu Cơ thôi, nếu không thì lịch sử Việt- Hán sẽ không như hiện nay.
 

THỜI AN DƯƠNG VƯƠNG LÀ KHÔNG CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ- Theo Hạnh Nguyễn


Học giả Lê Mạnh Thát
 
…Trong khi phát hiện truyền thuyết trăm trứng nằm trong Lục Độ tập kinh, thiền sư – giáo sư Lê Mạnh Thát còn khám phá một sự thật lịch sử thú vị liên quan đến An Dương Vương và Triệu Đà.
 
Từ truyền thuyết trăm trứng nằm trong truyện 23 của Lục Độ tập kinh, ông đối chiếu với một dị bản bằng tiếng Phạn và lại phát hiện truyền thuyết An Dương Vương giống như câu chuyện về trận đánh quyết định trong anh hùng ca Mahàbhàrata giữa hai anh em Pandu và Duryodhana. Đối chiếu với tất cả những gì được ghi trong Sử Ký của Tư Mã Thiên và các tài liệu cổ sử khác của Trung Quốc, ông khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, nó chẳng qua chỉ là một phiên bản của câu chuyện Mahàbhàrata từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam thời Hùng Vương mà thôi.
 

NHUẬN BÚT 潤筆 - Bài viết của Trúc Âm



Nhuận bút, chữ Hán viết 潤筆. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), “nhuận bút” là tiền trả cho tác giả đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, khoa học được xuất bản hoặc được sử dụng. Nói cách khác, đây là cách gọi của “tiền tác quyền” trong đời sống hiện đại.
Tầm nguyên từ điển giảng: Nhuận là thấm ướt, làm cho mềm và trơn; Bút là cây bút, ngòi bút, cũng chỉ việc viết lách và sáng tác văn chương. Như vậy, Nhuận bút nguyên nghĩa là “làm ướt ngòi bút”, tức làm mềm lông bút trước khi viết.
Từ này về sau dần được dùng để trỏ thù lao dành cho người sáng tác văn chương, viết chữ hoặc vẽ tranh. Thời xưa, việc trả "nhuận bút" cho người viết rất phổ biến, đặc biệt với những người chuyên viết bia ký, chiếu chỉ hoặc văn chương cung đình.

Trong tiếng Việt hiện nay, từ này được dùng hoàn toàn theo nghĩa phổ biến của từ điển: khoản tiền trả cho tác giả khi tác phẩm được sử dụng hoặc công bố.

人過伊川悲野祭,
客從東洛感山傾。
北窗許久凄涼甚,
潤筆含杯意未平。

Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,
Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.
Bắc song hứa cửu thê lương thậm,
Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.

Qua xứ Y Xuyên buồn đám tế,
Về vùng Đồng Lạc cảm chuông rơi.
Lâu nay cửa bắc ngồi tê tái,
Rượu nhấm bút cầm dạ chửa vơi.
(Nguyễn Khuyến, bản dịch thơ Phạm Thúy Lan)

Sẵn món tiền nhuận bút
Ông ra phố tức thì
Đi lùng mua bằng được
Bóng da, có véc ni.”
                       (Tú Mỡ)

Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốt
Ngoảnh lại còn ta con nít đến già
Rồi một ngày mẹ Đốp cười móm mém
Em vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta.”
                                    (Nguyễn Duy)
 
                                                                        Bài viết của Trúc Âm

PHỤ CHÚ:

Chữ "Nhuận" ( / ) thuộc bộ Thủy, mang ý nghĩa gốc là thấm ướt, ẩm ướt, làm cho bớt khô.
giản thể của chữ

“Nhuận” có các nghĩa sau:
1. nhuần nhị
2. thấm ướt
3. lời, lãi

- Nhuận tảng tử (潤嗓子) : nhuận họng
Tảng tử (嗓子): cổ họng
Nhuận họng gần nghĩa với nhuận giọng
Vd:
Uống trà cho nhuận giọng (làm ướt cổ họng) trước khi nói

- Nhuận tràng 潤腸 là "làm trơn ráo và ẩm ướt đường ruột", giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru
Từ "nhuận tràng" (hoặc nhuận trường) trong chữ Hán được viết là 潤腸 (chữ Phồn thể) hoặc 润肠 (chữ Giản thể).

- “Nhuận” / :
Có nghĩa là ẩm ướt, làm cho bớt khô, trơn láng hoặc thấm nhuần. Chữ này gồm bộ Thủy ( - nước) đi kèm để chỉ tính chất ẩm ướt, mượt mà. /
- Tràng/Trường / Có nghĩa là ruột, bộ phận tiêu hóa. Chữ này gồm bộ Nguyệt ( - biến thể của bộ Nhục, chỉ thịt/bộ phận cơ thể) nằm ở bên.

- Nhuận tràng thông tiện 润肠通便 : Làm trơn ruột, giúp đại tiện dễ dàng.

CHIM TRỜI – Thơ Lê Kim Thượng


   


Chim  Trời
 
1.
Đôi ta như cánh chim trời
Đôi chim liền cánh không rời xa nhau…
Dừng chân đứng lại bên cầu
Nhớ nơi lưu giữ tình đầu chứa chan
Yêu nhau yêu tới vô vàn
Yêu bờ mi khép, yêu làn môi xinh
Yêu nhau cho cạn lời tình
Những ngày hạnh phúc chúng mình chân quê
Mắt nhìn đăm đắm si mê
Tôi và em giữa bốn bề tình yêu
Nụ hôn trong nắng liêu xiêu
Ngọt ngào thắm thiết với nhiều chút chăm
Ước gì “Hạnh phúc trăm năm…”
Tình ta như bóng trăng rằm vẹn nguyên
Quên đi cơm áo, gạo tiền
Trái tim son đỏ thề nguyền mãi yêu…
 

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

"NGỰA XE NHƯ NƯỚC ÁO QUẦN NHƯ NEN" - Bài viết của Khánh Ly



“Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.”
                                   (Truyện Kiều)

Ngựa xe như nước, vốn lấy ý từ thành ngữ Xa thủy mã long, chữ Hán viết 車水馬龍, nghĩa là cảnh phồn hoa xe cộ nối nhau như dòng nước chảy, ngựa đi liên tiếp như rồng uốn lượn. Thành ngữ này xuất phát từ Hậu Hán thư, khi chép về Mã thái hậu thời Hán Chương Đế:

 Xa như lưu thủy, mã như du long 
    車如流水,馬如游龍",

Tạm dịch là: 

Xe như nước chảy, ngựa như rồng bơi.

Ở câu 47-48 Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

"Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nen."

"Như nước" thiên về chuyển động liên tục, còn "như nen" nhấn mạnh mật độ dày đặc, che kín không gian. Nhiều bản Kiều ngày nay chép "áo quần như nêm", trong đó bản khảo dị của Nguyễn Quảng Tuân giải thích: "nêm" đây là những mảnh gỗ mỏng đóng trên hai mặt thớt cối xay lúa khít nhau như những hàng răng… Cả câu 48 ý nói ngựa xe qua lại liên tiếp như nước chảy, khách du xuân áo quần đẹp đẽ chen khít nhau như những mảnh nêm ở trên mặt thớt cối xay. Câu này đặt theo lối tiểu đối: "thủy" (danh từ) đối với "nêm" (danh từ).
Song cũng có học giả cho rằng chữ đúng trong nguyên tác là “nen”, ví như trong Truyện Kiều dẫn giải, Lê Văn Hòe giảng nen là một loài cỏ mọc ở ruộng nước, thân nhỏ, mọc thẳng và đặc kín thành từng đám lớn. Vùng đồng chiêm Ninh Bình, Thanh Hóa hễ có nước là có nen, từng cây ken sát nhau đến mức nhìn xa như phủ kín cả mặt ruộng. Vì vậy "áo quần như nen" là người mặc áo quần chen vai sát cánh, đông đặc như bụi cỏ nen ngoài đồng.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

“CHUYỆN...” NHÀ THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU - Bài viết của Đặng Xuân Xuyến


Tác giả bài viết Đặng Xuân Xuyến
 
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.