BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

NHÀ LAN (LAN THẤT 蘭室) - Bài viết của Khánh Ly




“Nhà lan sum họp bạn mai,
Đã trong tần tảo, lại ngoài ty ca.”
                     (Bích Câu kỳ ngộ)

Nhà lan, tức Lan thất 蘭室, nghĩa là căn phòng thơm hương lan. Vì Lan vốn là loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao và tao nhã, cho nên đây là một mỹ từ, dùng để chỉ nơi ở thanh nhã của phụ nữ trong văn chương cổ điển, tương tự với những cách gọi khác như Huệ lâu 蕙樓 (lầu huệ) hay Tiêu phòng 椒房 (phòng tiêu).

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

VẤN ĐỀ ĐẤU TỐ VĂN NGHỆ SĨ - Bài viết của Linh Hoàng Vũ



Tháng Tám năm 1966, người ta lôi Lão Xá, nhà văn 67 tuổi nổi tiếng nhất Trung Quốc, cùng một nhóm nhà văn nghệ sĩ ra sân Khổng miếu ở Bắc Kinh, bắt họ quỳ quanh một đống lửa đốt đạo cụ tuồng cổ. Các tiểu tướng hồng vệ binh bằng tuổi cháu nội ông treo bảng đen lên cổ ông, rồi đánh và sỉ nhục ông giữa tiếng hô hào phần khởi của đám đông. Lão Xá là tác giả lớn của Trung Hoa hiện đại, người từng được kỳ vọng cho một giải Nobel. Đám đông hành hạ ông không phải vì họ cho rằng tác phẩm của ông dở hay thậm chí “phản động”, mà vì ông đã bị dán nhãn là tàn dư của cái cũ, là phần tử cần quét đi.  Sáng hôm sau, nhà văn lớn Trung Quốc ra hồ Thái Bình, ngồi lặng cả ngày bên mặt nước, rồi khi đêm xuống thì trầm mình.
Không ai trong đám đông hôm ấy nghĩ mình đang giết một nhà văn. Họ tin mình đang làm sạch đất nước. Đó mới là điều đáng sợ nhất của mọi cuộc đấu tố: nhiên liệu của nó không phải cái ác, mà là sự xác tín: cái cảm giác êm ái rằng mình chắc chắn đứng về phía đúng, và do đó được miễn mọi nghi ngờ về phương tiện.
Hơn nửa thế kỷ sau, ở Việt Nam, cùng cái xung năng ấy trở lại, nhưng đã thay hình, lần này là trên không gian mạng. Để buộc tội một cuốn sách và tác giả của nó, người ta không cần chứng minh nó sai. Chỉ cần làm cho nó có mùi rủi ro.

THIÊN TẢI NHẤT THÌ 千載一時 - Bài viết của Khánh Ly



“Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,
Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.”
                              (Truyện Kiều)
 
Thiên tải nhất thì, chữ Hán viết, là một thành ngữ dùng để chỉ những dịp hiếm hoi khó gặp. Trong tiếng Việt, thành ngữ này thường được diễn đạt bằng những thành ngữ quen thuộc như “ngàn năm một thuở”, “trăm năm khó gặp”, ngàn năm có một,... Tất cả đều mang nghĩa dịp may mong manh xuất hiện trong đời mà ta biết rằng sẽ khó lòng gặp lại lần hai.

BA SAO GIỮA TRỜI - Bài viết của Khánh Ly



“Đêm thu, gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.”
                                           (Truyện Kiều)
 
Ba sao giữa trời, nguyên văn chữ Hán viết “tam tinh tại thiên 三星在天, xuất phát từ Kinh Thi, phần Đường phong 唐風, bài Trù mâu 綢繆 rằng: “Trù mâu thúc tân, tam tinh tại thiên 綢繆束薪,三星在天. Tạm dịch là: buộc chặt bó củi, ngẩng lên thấy ba ngôi sao giữa trời. Trong văn chương cổ, Tam tinh 三星 thường dùng để chỉ ba ngôi sao sáng nằm giữa bầu trời đêm, cũng là dấu hiệu cho biết đêm đã về khuya.

BẾ GIẢNG 閉講 - Bài viết của Khánh Ly


Hình ảnh: Bế giảng, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ   
 

Bế giảng, chữ Hán viết, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) là cách gọi lễ kết thúc một khóa học hoặc một năm học. Đây là một từ được sử dụng rất quen thuộc trong môi trường giáo dục Việt Nam, thường đi đôi với khai giảng 開講. Dẫu vậy điều khá thú vị là bế giảng lại không xuất hiện với tư cách một từ cố định phổ biến trong Hán văn cổ. Đây là một tổ hợp mang tính tạo nghĩa tương đối muộn, hình thành từ nghĩa sẵn có của hai chữ Bế và Giảng .

NHỚ "BỐ GIÀ" SƠN NAM – Bài viết của Bùi Chí Vinh


Hình chụp ở phi trường Nội Bài Hà Nội năm 1994 dự Hội Nghị Nhà Văn Trẻ Toàn Quốc. 
Từ trái qua phải: Một nhà văn, Sơn Nam, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Nguyễn Nhật Ánh, một nhà văn, Phan Hoàng. Người ngồi là Lê Minh Quốc.

Đối với tôi, hai chữ BỐ GIÀ dành cho nhà văn Sơn Nam không cần đóng khung trong ngoặc kép. Thuở ông còn sinh tiền, mỗi lần hai chú cháu đi chơi riêng hoặc cùng chơi trong đám đông tôi vẫn luôn luôn gọi nhà văn Sơn Nam là “bố” một cách trìu mến.
Còn xét về mặt chuyên môn trong làng văn và trưởng thượng trong làng đời thì tôi hằng kính trọng ông như một… bố già.
 
Buổi trưa ngày 13 thứ Tư năm 2008, đang ngồi cụng ly với Cung Tích Biền, Nguyễn Đạt, Đoàn Thạch Biền, Phạm Viêm Phương, Nguyễn Tôn Nhan… nhằm ăn mừng vụ bán bức tranh của Lê Thị Kim thì bất ngờ chúng tôi nhận được hung tin “bố già” đã mất.
Cho dù tất cả gần như được chuẩn bị về cái chết được báo trước của bậc tiền bối hôn mê nằm liệt giường, nhưng cái tin sét đánh ấy đã làm ai nấy bàng hoàng.
Bàn tiệc đang vui bỗng như đưa đám. Trong đầu tôi hình dung “con khủng long cuối cùng còn sót lại của miệt vườn Nam Bộ” một con khủng long oằn vai chở nặng chữ nghĩa của ruộng đồng bát ngát như một bộ tự điển bách khoa biết đi.

NỖI NHỚ - Thơ Lê Kim Thượng


   

Nỗi Nhớ
 
1.
Tôi về một sớm bình minh
Vịn vào nỗi nhớ tìm hình tuổi thơ…
Mái tranh khói tím giăng mờ
Gió đưa hương lúa đơn sơ mơ hồ
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh xô bềnh bồng
Heo May thả gió trên đồng
Lúa mùa đến cử đòng đòng trổ bông
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều treo giữa mênh mông trời chiều
Cánh chim chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu ngọt ngòn
Chiều tà nắng xế đầu non
Ai đem giấu nắng hoàng hôn cuối đèo
Gió mơn man, gió hanh hao
Thổi vào mái lá ngọt ngào tái tê…
 
2.
Tôi giờ xa xứ, xa quê
Nhớ quay quắt nhớ lời thề đinh ninh
Nhớ mông lung, nhớ vô hình
Thèm trông một cụm lục bình xa khơi
Nhớ nhiều tiếng hát “À ơi…”
Ngọt ngào, chân chất những lời thương yêu
Giữa đồng bóng Mẹ liêu xiêu
Áo nâu đã bạc vá nhiều đường may…
Hoa sen nở những ngón tay
Cánh hoa tim tím hương bay bồi hồi
Phù sa bên lở bên bồi
Quê hương thương lắm một thời đắm say…
Trên trời mây trắng vẫn bay
Dòng sông vẫn chảy, hàng cây vẫn còn
Lâu rồi lòng dạ héo hon
Người đi biệt xứ héo mòn tình quê…
 
Nha Trang, tháng 06. 2026
 Lê Kim Thượng

ĐẶNG XUÂN XUYẾN VÀ TRIẾT LÝ NGŨ HÀNH THỰC CHỨNG – Bài viết của Đỗ Việt Phương



Đọc những tiểu luận của tác giả Đặng Xuân Xuyến về Ngũ hành và Tử vi, người ta không thấy cái vẻ thần bí, hù dọa thường gặp ở các thầy tướng số mà lại thấy bóng dáng của một trí thức đang ưu tư về nhân sinh. Cống hiến lớn nhất của ông chính là việc gạn đục khơi trong cổ học phương Đông bằng nhãn quan thực chứng, giúp hóa giải cái gọi là "mê hồn trận" vốn làm nản lòng bao thế hệ người học lý số.

BỒNG BỘT 蓬勃 – Bài viết của Trúc Âm



Bồng bột, chữ Hán viết 蓬勃, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), từ này được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là sôi nổi, có khí thế mạnh mẽ; nghĩa thứ hai là sôi nổi, hăng hái nhưng thiếu chín chắn và không lâu bền, thường dùng để nói về tính cách hoặc tình cảm.
Đây vốn là một từ gốc Hán dùng để chỉ trạng thái hưng thịnh, phát triển mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Cụ thể:
Bồng vốn trỏ một loại cỏ mọc nhanh và sum suê, sau phát triển thành nét nghĩa rậm rạp, tươi tốt, sinh trưởng mạnh.
Bột có nghĩa là nổi lên, dâng lên, hưng khởi hoặc phát triển mạnh mẽ mà ta hay gặp trong các từ như bột phát, hưng bột,...
 

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

THANH THUÝ: TIẾNG HÁT LƯỠNG TÍNH ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ - Long Phạm


Danh ca Thanh Thúy

Ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, nữ trầm (contralto) là loại giọng cực kì hiếm gặp. Nó ít xuất hiện hơn rất nhiều so với nữ trung (mezzo soprano) và nữ cao (soprano).
 
Các giọng nữ có âm vực trầm và âm sắc hơi tối như Khánh Ly, Bảo Yến, Thu Phương, Hoàng Quyên, Ngọc Anh, Thanh Lam, Uyên Linh, Hồ Ngọc Hà... thường bị nhầm là nữ trầm. Nhưng thực chất, họ vẫn là nữ trung.
Ca sĩ Bảo Yến còn cho rằng: "Tôi chưa thấy một nữ trầm nào ở Việt Nam".
 
Theo định nghĩa trong nhạc cổ điển, giọng nữ trầm được tạo bởi contre (trầm) và alto (cao) - do trước đây alto là thiếu niên nam hoặc castrato. Đây là giọng nữ trầm nhất, hát chủ yếu bằng giọng ngực. Giọng dày, trầm, khoẻ.
 
Đặc điểm của một nữ trầm gồm:
- Màu giọng rất dày, có độ sâu, nặng và tối (hơn nữ trung).
- Hát với man tone và có tính lưỡng tính (hermaphrodite), tức là có thể hát như một giọng nam cao.
- Tessitura (quãng hát thoải mái) nằm trên âm khu trầm và trung trầm.

Trong đó, tính lưỡng tính là tiêu chuẩn lớn cho một nữ trầm.
Xét theo các điều kiện trên, Thanh Thúy là nữ ca sĩ duy nhất ở Việt Nam từ trước đến nay sở hữu giọng nữ trầm.
Không giống với tất cả các nữ ca sĩ khác, âm vực của Thanh Thúy mở rộng xuống rất thấp. Cô có thể hát thoải mái, nhả chữ ở C3, C#3 và xuống tận A2, B2, ngang với âm vực của một giọng nam.

SAO XÓT XA NHƯ RỤNG BÀN TAY - Đặng Nguyên Triết


Nhà thơ Hoàng Cầm

Trong một nhóm bán sách cũ, có người đang rao bán tờ Sơ yếu lý lịch của thi sĩ Hoàng Cầm viết năm 1992, lúc ông vừa tròn 70 tuổi.
Ông không ghi tên khai sinh Bùi Tằng Việt, mà vẫn ghi Bùi Hoàng Cầm.
Đọc tới dòng ông khai “Từ 1958: Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, mình lặng người một lúc lâu.

Năm 1948, ông viết Bên kia sông Đuống, có hai câu:
 
“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc,
Sao xót xa như rụng bàn tay”
 
thì gần nửa thế kỷ sau khi nghĩ về đời mình “Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, ông có xót xa như rụng cả đôi bàn tay?



Trả lời phỏng vấn của nhà phê bình văn học Thụy Khuê, ông nói:

“Không hiểu lý do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay tòa báo nào cho nó đăng thì đều bị từ chối. Rồi lặng lẽ mình cũng tự biết là có lẽ khó khăn lắm, thì mình cứ sáng tác để đấy thôi, cho vào ngăn kéo rồi một vài anh em đọc với nhau, chứ không truyền bá đi đâu cả. Xong rồi dần dần thời gian cứ thế kéo đi, nó kéo thế nào mà cho đến năm 88.”
 

TRẢ NỢ - Thơ Lê Kim Thượng


   

Trả Nợ
 
1.
Người về trả nợ tháng năm
Trả quê nửa mảnh trăng rằm ngày xưa
Người về cuốc nắng, trồng mưa
Mồ hôi nhỏ xuống đường bừa rẽ đôi
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Có con én nhỏ xa xôi giữa trời
Chuồn chuồn đậu đọt mùng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi mịt mù…
Trưa hè man mác lời ru
Đong đưa cánh võng, vi vu gió lành
Nước sông in bóng trời xanh
Chênh vênh bóng núi, chòng chành gió đưa…
Trâu về theo tiếng mõ khua
Xa xa vọng tiếng chuông chùa ngân nga
Hoàng hôn trăng đậu mái nhà
Ánh vàng gieo rắc như xa như gần…
 
2.
Người xa quê nhớ bâng khuâng
Xóm làng xưa cũ, người thân vẫn còn
Gái quê môi thắm vẫn son
Áo bà ba tím tươi giòn xốn xang
Mồ hôi đọng giọt nắng vàng
Sáng trên vần trán, mùa màng reo vui…
Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng Mẹ trong tôi bồi hồi
Nắng buồn ôm núi mồ côi
Nén nhang con thắp, nghẹn lời đau thương
Theo con Hạc trắng mù sương
Mẹ về với cõi vô thường xa đưa…
Ước gì đời lặng gió mưa
Trở về quê cũ rau dưa qua ngày
Buồn buồn ngọn gió Heo may
Rượu quê đầy cạn say say xao lòng…
         
Nha Trang, tháng 05. 2026
  KIM  THƯỢNG

VÀI NGHĨ VỤN TỪ ĐÁM CƯỚI SÁNG NAY – Bài viết của Đặng Xuân Xuyến



Sáng ra quán nước mua cốc trà nóng về uống cho tỉnh ngủ thấy cậu trai trẻ nhìn quen quen mặc áo chú rể đỏ choét chuẩn bị lên xe đi rước dâu. Hỏi cô bán bánh bao đầu ngõ mới nhớ ra chú rể ngày bé thường sang nhà chơi với "anh Đặng Tuấn Hưng", kém anh Đặng Tuấn Hưng chừng 5, 6 tuổi.
 
Ồ mà lạ nhỉ, ngày hôm nay là ngày 10 tháng 4 âm lịch thuộc Trực Nguy, Sao Dực, là ngày Bạch Hổ (Hắc đạo) rất xấu với nhiều việc, nhất là mấy việc trọng đại như cưới hỏi, xây nhà, khởi nghiệp,... sao không tiến hành vào ngày mai, ngày 11 âm lịch, là ngày Ngọc Đường (Hoàng Đạo), thuộc Trực Thành, Sao Chẩn rất tốt cho nhiều việc, là ngày cực đẹp với mấy việc trọng đại của đời người như cưới hỏi, xây nhà, khởi nghiệp,... mà lại tổ chức vào ngày hôm nay?!

NHỚ THANH NÊ, CHUYẾN XE LÊN PHỐ, KHỞI ĐẦU MỚI – Thơ Đỗ Anh Tuyến


   

 
NHỚ THANH NÊ
 
Tôi lật tìm một vệt mực chưa khô
Trên tấm bản đồ vừa thay tên đổi họ
Ngón tay chạm vào Kiến Xương, Thái Bình xưa cũ
Mà nghe như chạm vào khoảng trống hư vô.
 
Thanh Nê ơi!
Tên của bùn non, của rơm rạ dại khờ
Của tiếng võng trưa mẹ đưa kẽo kẹt
Chỉ một công văn, một con dấu đỏ
Một danh xưng nghìn năm bỗng chốc khép màn.
 
Bờ đê vẫn thức cùng sương tan
Sông Trà Lý vẫn âm thầm chảy miết
Người Thanh Nê dẫu đi xa vạn dặm
Vẫn mặn mòi giọng đồng bãi quê cha.
 
Nhưng từ nay giữa giấy tờ xa lạ
Tôi lưu vong trên đất mẹ quê mình
Tên khai sinh gửi vào nấm mộ thời gian
Nhường chỗ cho những tên gọi hành chính mới.
 
Mai này ai về đất cũ tìm chơi
Hỏi nhỏ một câu đâu rồi thị trấn
Người già nhìn nhau, thở dài xa vắng
Người trẻ quay đi, ngơ ngác tiếng cười...
 
Cái tên từng buộc chặt đời người
Nay đứng bên lề hóa kẻ người dưng...
 

CÕI TRỌ, GIÓ THÁNG 5, KHÚC MƯA KHUYA, CÂU CHUYỆN ĐÁM MÂY – Thơ Tịnh Bình


 


CÕI TRỌ
 
Phía trước là tiếng chim
Xôn xao miền nắng lạ
Cuối trời mây trắng lóa
Ở trọ chốn không nhà
 
Trôi về đâu nước cuốn
Nhánh rong rêu bọt bèo
Ơ kìa mùa thu nhỏ
Gọi ngàn lá về theo
 
Căn nhà xưa hiu quạnh
Vắng dáng quen thường ngồi
Run run mùa gió trở
Hao gầy vành trăng côi
 
Người đi trong tịch lặng
Ngày như sương mơ hồ
Thả vào trong mưa muộn
Phím đàn lời hư vô...
 

LUÂN HỒI – Thơ Lê Kim Thượng


   

 
Luân  Hồi
 
1.
Yêu nhau từ thuở còn thơ
Nào ai biết được… ai ngờ mai sau…
Ru em ngày đã đổi màu
Lời ru có những “… trái sầu rụng rơi…”
Cà phê giọt đắng đọng rơi
Giọt buồn đen thẫm cạn lời thủy chung
Yêu thương dẫu có vô cùng
Nào ai biết được… ngàn trùng nhớ mong
Trái tim rạn vỡ trong lòng
Tình xa, tình lỡ… xoay vòng buồn thiu
Thương nhau ngày ấy thật nhiều
Không duyên, không nợ hắt hiu tình buồn
Thôi đành “…cắt dứt dây chuông…”
Ai thương, ai nhớ, ai buồn, ai say
Cuộc tình mòn mỏi hao gầy
Áo hồng chưa mặc thì nay mất rồi…
 
2.
Dù cho ước hẹn thề bồi
Nợ duyên không có, yêu rồi vẫn xa
Tình đầu đâu dễ phôi pha
Cố quên càng nhớ, cố xa càng gần
Lời tình thề hẹn bao lần
Lời tình trôi giữa Sông Ngân mất rồi
Bao năm trông ngóng phương trời
Quầng thâm đôi mắt… nhớ người mai sau
Những chiều trời đổ mưa mau
Nhìn mưa lặng nhớ một câu thơ buồn
Làm sao trời hết mưa tuôn
Để cho nước mắt… ngược nguồn về tim
Bóng em biền biệt khuất chìm
Đã đi… đi mất biết tìm về đâu
Nợ em một Khối Tình Sầu
Tìm em tôi trả…kiếp sau Luân Hồi…
 
 Nha Trang, tháng 06. 2026
   KIM  THƯỢNG

CHUYỆN TÌNH NGÃ 3 SÔNG – Thơ Đặng Xuân Xuyến


  

 
CHUYỆN TÌNH NGÃ 3 SÔNG
 
Cô ấy ngày xưa, em biết không
Thắt đáy lưng ong, mặt trắng hồng
Nghe bảo phải lòng anh cơ động
Mười mấy Đông rồi cứ ngóng trông...
 
Độ ấy năm xưa tuổi chớm hồng
Có chàng lính trẻ ghé bến sông
Tiếng cười sang sảng loang chiều rộng
Cô bé làng bên thẹn má hồng.
 
Thế rồi cô lựa gửi gió Đông
Vun mối tơ duyên bén lửa nồng
Dõi từng nhịp bước chàng cơ động
Nguyện ước trăm năm buộc chỉ hồng.
 
Rồi một chiều buồn nổi bão giông
Nghẹn ứa bến sông, nghẹn gió đồng
Dấn thân phá án... Chàng cơ động
Hồn theo bóng tựa phía hư không...
 
Cô ấy hình như chửa lấy chồng
Chiều chiều vẫn tới ngã 3 sông
Mắt chìm đăm đắm vào chiều rộng
Rồi chợt nhoẻn cười với mênh mông...
 
Hà Nội, sáng 10 tháng 06-2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC: MỘT GÓC NHÌN TỪ THI CA – Bài viết của Đỗ Trường



Thời gian gần đây, tôi được đọc khá nhiều văn thơ do các bác sĩ, kỹ sư viết. Với lời văn, câu thơ giản dị cùng sự tưởng tượng, tư duy logic cho tôi nhiều điều bất ngờ. Và mối quan hệ, tính logic ấy đã làm nên chân dung, tính đặc trưng riêng biệt cho mỗi nhà văn. Nếu nói, toán học gói ghém cái cụ thể nhất, (thì) văn thơ Toàn Phong mở cái trừu tượng của không gian vũ trụ Nguyễn Xuân Vinh. Và Đỗ Hồng Ngọc cũng vậy, thi ca là chìa khóa mở ra con đường dẫn ông đến y khoa, đến với nơi cửa thiền. Do vậy, đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy sự nghiệp, và thi ca Đỗ Hồng Ngọc không chỉ cứu chữa thể xác con người, mà còn vá lại những linh hồn rách nát.
 
Thật vậy, tiến sĩ y khoa Đỗ Hồng Ngọc là người đa tài. Với trên sáu chục tác phẩm từ thơ ca, văn xuôi truyện ngắn, cho đến sách y khoa và Phật học, có thể nói Đỗ Hồng Ngọc đi sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Ở lãnh vực nào hình ảnh, chân dung ông cũng lừng lững cả. Tuy nhiên, trong (khuôn khổ) bài viết này, tôi chỉ đủ khả năng viết về khía cạnh thi ca Đỗ Hồng Ngọc mà thôi.
 
Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Lagi, Bình Thuận. Ông đến với thi ca rất sớm. Khi còn là học sinh, hay sinh viên trường Đại học y khoa, ông đã có thơ đăng hầu hết trên các trang báo Văn học Saigon thời đó, với bút danh Đỗ Nghê. Đỗ Hồng Ngọc tốt nghiệp tiến sĩ y khoa năm 1969, rồi làm việc tại Bệnh viện nhi Saigon, và giảng dạy đại học cho đến ngày hưu trí. Hiện ông đang sống, và viết tại Saigon.
 
Sở trường Đỗ Hồng Ngọc là thơ tự do, ngắn và cô đọng. Tính triết lý làm giàu cho nhận thức, đưa đến những liên tưởng, với sự tưởng tượng phong phú là nghệ thuật đặc sắc của thi ca Đỗ Hồng Ngọc:

“Đất động ta cũng động/ Sóng thần ta cũng sóng/ Giật mình chợt nhớ ra/ Vốn xưa ta là đất” (Đất).
 

CÁI LÝ NGŨ HÀNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN – Bài viết của Thiên Việt


 
Đọc bài TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN LÝ CỦA NGŨ HÀNH của tác giả Đặng Xuân Xuyến, cảm giác đầu tiên là sự nhẹ nhõm. Nhẹ nhõm vì ông không dùng những từ ngữ đao to búa lớn mà ông viết như đang tâm sự cách nhìn đời qua lăng kính của Ngũ hành một cách tỉnh táo và nhân bản. Ông không nhìn lá số theo kiểu "vơ đũa cả nắm" hay hù dọa bằng những lời tiên tri huyền bí, mà tỉ mỉ bóc tách từng lớp quan hệ giữa Mệnh, Cục, Cung và Sao. Đây chính là một cống hiến thực tế, giúp người học Tử vi thoát khỏi cách đoán mò để bước vào thế giới của sự logic và định lượng.
 

CÔNG CHÚA NHÀ THANH ĐƯỢC HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG CẦU HÔN LÀ AI ? - Nguồn từ Giai Thoại Xưa



Đây là một trong những câu chuyện khiến giới sử học bàn luận suốt hơn hai trăm năm qua. Vị anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, người từng đại phá 29 vạn quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789, lại có lúc chủ động cầu hôn con gái của chính vị hoàng đế mà ông vừa đánh bại trên chiến trường.
 
Nhưng công chúa ấy là ai?
 
Và liệu cuộc hôn nhân ấy có thực sự tồn tại hay chỉ là một nước cờ ngoại giao đầy toan tính?
Con Gái Hoàng Đế Càn Long Được Vua Quang Trung Cầu Hôn Là Ai?
Năm 1789, sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa vang dội, Hoàng đế Quang Trung không chỉ khiến triều Thanh kinh ngạc mà còn buộc Hoàng đế Càn Long phải nhìn nhận lại sức mạnh của Đại Việt. Thay vì tiếp tục đối đầu, hai bên nhanh chóng nối lại quan hệ bang giao.
Từ đây bắt đầu một trong những giai thoại ly kỳ nhất lịch sử Đông Á.
 
Theo nhiều tài liệu như Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Nam chính biên liệt truyện và các thư tịch ngoại giao thời Tây Sơn, vào năm 1792, vua Quang Trung đã cho soạn một biểu văn đặc biệt gửi sang triều Thanh, đề nghị cầu hôn một công chúa của Hoàng đế Càn Long.
Người được giao chấp bút cho văn kiện này chính là danh sĩ Ngô Thì Nhậm, một trong những trí thức kiệt xuất của triều Tây Sơn. Giáo sư Lê Văn Lan từng xác nhận biểu văn này thực sự tồn tại, và đây không phải là chuyện hư cấu.

NHẠC SĨ PHẠM DUY VÀ NHẠC PHẨM “BÊN CẦU BIÊN GIỚI” (1947) - Nguồn: amnhac.net



"Bên cầu biên giới" - nhạc phẩm khiến Phạm Duy bị chỉ trích
Nhạc sĩ Phạm Duy viết ra ca khúc "Bên cầu biên giới" khi ông đang ở Lào Cai và nhớ tới một người con gái đẹp. Tuy nhiên, đây cũng là ca khúc gây tranh cãi một thời.
 
Ca khúc "Bên cầu biên giới" ra đời trong hoàn cảnh nào?
 
Phạm Duy là một nhạc sĩ tài hoa của nền tân nhạc Việt Nam. Ông đi nhiều nơi và trên đường rong ruổi đã gặp nhiều người, sáng tác nên nhiều ca khúc bất hủ. Một trong những người bạn có ảnh hưởng khá lớn đến Phạm Duy chính là nhạc sĩ Văn Cao. Văn Cao đã nhìn thấy tiềm năng âm nhạc trong người Phạm Duy vì thế đã khuyên ông nên đi theo nghiệp sáng tác.
 
Đầu tháng 5/1947, Phạm Duy cùng đoàn kịch Giải Phóng đến Lao Kay thì gặp Văn Cao. Văn Cao lên Lao Kay từ đầu năm 1947, phụ trách Đội điều tra Công an Liên khu X. Ông mở quán ca nhạc mang tên "Quán Biên Thùy" ở bên kia cầu Cốc Lếu để làm vỏ bọc hoạt động cho mình.
 

Gặp lại Văn Cao ở quán Biên Thùy với không gian âm nhạc ấm cúng, lãng mạn, Phạm Duy liền bỏ đoàn kịch Giải Phóng để ở lại với Văn Cao. Tại vùng đất biên thùy này, trong một lần đứng giữa cây cầu nối liền biên giới Việt - Trung, nhạc sĩ Phạm Duy đã sáng tác nên bản tình ca hiếm hoi của thập niên 1940. Ca khúc mang tên "Bên cầu biên giới" (1947). Ca khúc này ra đời trong khoảnh khắc chàng nhạc sĩ tạm quên đi thời cuộc, quên đi những đau thương ở chốn làng cũ quê xưa, để nghĩ về tình cảm riêng tư của mình.

ÁI ƯU 愛憂 - Bài viết của Khánh Ly, Trích từ Tri thư đạt lễ



Ái ưu, chữ Hán viết 愛憂. Trong đó Ái là yêu thương, gắn bó; Ưu là lo lắng, trăn trở. Ái ưu diễn tả một mối quan hệ thừa tiếp rất đỗi tự nhiên của con người - vì yêu nên mới sinh lo, mà nỗi lo ấy cũng chính là biểu hiện của tình yêu.

Từ đây trong văn chương và các trước tác cổ, người ta thường phát triển thành những cụm từ quen thuộc như Ưu quốc ái dân 憂國愛民 hoặc Ưu dân ái quốc 憂民愛國, nghĩa là lo cho dân, cho nước và yêu dân, yêu nước. Đây là một lý tưởng sống lớn lao và là phẩm chất đạo đức quan trọng, đặc biệt là đối với kẻ sĩ: Đặt bản thân vào mối quan hệ với quốc gia và sinh dân, xem trách nhiệm gánh vác nỗi lo chung như một điều hiển nhiên.