BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

TÂM NHANG – Thơ Lê Kim Thượng


   

Tâm Nhang
 
1.
Quê hương hai tiếng nhẹ nhàng
Mà sao đằm thắm, dịu dàng khôn nguôi
Nhớ bao kỷ niệm buồn vui
Bước chân lữ khách bùi ngùi về quê…
Lưng còng bóng Mẹ trên đê
Áo nâu vất vả đi về hôm mai
Sông quê vương vấn  lòng ai
Đẹp như dải lụa trải dài thướt tha…
Nắng chiều đổ bóng sân nhà
Mâm cơm lúa mới, chan hòa tình yêu
Chiều hoang tím cả rừng chiều
Đồng quê yên ắng, hiu hiu gió luồn
Núi cao khuất bóng hoàng hôn
Gió Heo May thổi bồn chồn chơi vơi
Ráng chiều tô đỏ chân trời
Cháy tàn ngọn nắng, đêm mời trăng lên…
 

TỪ MỘT CÀNH MAI ĐẾN MỘT MÁI CHÙA – Trần Kiêm Đoàn



Nhân lễ tưởng niệm 20 năm ngày Hòa Thượng Mãn Giác – Thi sĩ Huyền Không viên tịch. Tôi được Ban Tổ chức phân công phát biểu đôi điều qua trải nghiệm thân quý là sinh viên của Thầy tại Đại Học Huế. Thời gian yêu cầu là 10 phút. Dạ tôi xin bắt đầu:
 
Hai hồn thơ Mãn Giác và một dòng tâm thức Việt
 
Mãn Giác Thiền sư thời Lý (1052–1096).
Mãn Giác Thiền sư thời hiện đại (1929–2006).
 
Hai bậc chân tu cùng một pháp danh, cách nhau gần một nghìn năm lịch sử, nhưng dường như đã gặp nhau trong một cõi thi ca không có tuổi.
 
Ngày xưa, Cao Bá Quát từng nói đến bốn bồ chữ của thiên hạ. Nguyễn Công Trứ lại ung dung giữa cuộc đời mà “ngâm một câu thơ vỗ bụng cười”. Chữ nghĩa có thể chất đầy kho sách, nhưng rốt cùng, ngôn ngữ vẫn chỉ là những ký hiệu tạm thời chuyên chở cảm xúc và tư tưởng. Có những điều càng giải thích càng xa. Có những câu thơ vừa đọc lên đã nghe lòng mình chạm đến một miền sâu thẳm không lời.
Thi ca huyền diệu có lẽ ở chỗ đó.

MÙA THÔI LƯỢC GIẮT TRÂM CÀI, MỘT MÌNH, CÁNH CÒ HOÀNG HÔN - Thơ Tịnh Bình


        
 

MÙA THÔI LƯỢC GIẮT TRÂM CÀI
 
Mùa thu bứt cuống hanh hao
Heo may thả gió cồn cào âm xưa
Lá vàng hỏi nắng già chưa ?
Dập dìu ong bướm còn đưa lối tình
 
Giấc mơ hồ điệp làm tin
Rủ rê son phấn họa hình thanh xuân
Tháng năm dầu dãi gian truân
Đã từng mặn đắng, đã từng ngọt cay
 
Mùa thôi lược giắt trâm cài
Môi xinh hàm tiếu trang đài ngày xưa
Bây giờ đi sớm về trưa
Đành thôi cất nắng vào mưa chỉ mình...
 

BÚT LỰC MỘNG BÌNH SƠN - Vũ Hùng Khanh


                         

Trước 1975, chúng ta nếu thích đọc truyện Tàu, truyện kiếm hiệp và cả truyện Tây được dịch lại từ nguyên bản, thì chắc chắn phải biết tên tác giả - dịch giả Mộng Bình Sơn. Một cây bút sung sức, nhưng cũng đến lúc phải ẩn dật, đúng nghĩa không quan tâm thế sự bên ngoài đang diễn biến thế nào, kể cả chuyện người ta khai thác vô giới hạn các tác phẩm của mình!

              

Mộng Bình Sơn tên thật là Phan Canh, sinh năm 1923, quê quán ở thôn Thọ Sơn, xã Nhơn Thọ, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông mất vào tháng 5/2011.

ĐOÀN PHÚ TỨ, HÀO HOA PHONG NHÃ MÀ QUYẾT LIỆT – Vũ Đình Hoè



Về một vài nhân vật trong ảnh "Khách thỉnh-1935" cụ Hòe có bài viết sau này trong sách hồi kí cuối cùng "Gương mặt những người cùng thế hệ", in trong Nam, khó tìm được ở Bắc. Bởi vậy tôi xin chia sẻ dần với các bạn.

Đoàn Phú Tứ sinh năm 1910 tại Hà Nội, tốt nghiệp Tú tài Tây, vào học Luật khoa Đại học Đông Dương, nhưng đến năm thứ hai thì bỏ, chuyển sang nghề báo, cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội báo, Tinh Hoa, Thanh Nghị. Ông và Thế Lữ là những người sáng lập nền kịch nói Việt Nam hiện đại, thành lập ban kịch nói Tinh hoa, sáng tác kịch, đạo diễn và làm diễn viên trong nhiều vở, từng trình diễn trên Nhà hát lớn thành phố Hà Nội như Ghen, Ngã ba… 

GÌN GIỮ TIẾNG VIỆT CỦA DÂN TÔI - Nguyễn Chương Mt


 
Ai nói theo tiếng thuần Việt (quốc âm, còn gọi Nam âm), ai nói theo âm HV (Hán-Việt), thảy đều tôn trọng. NHƯNG cho phép tôi quí mến cách nói THUẦN VIỆT hơn (trong trường hợp tiếng thuần Việt và âm HV cùng nghĩa), quí hơn hẳn!

/1/ "CUỐN" - "Quyển"

"Quyển", trong "quyển sách", là cách gọi dựa vào chữ Hán, là âm HV của 卷. Trong khi đó, "CUỐN" là tiếng thuần Việt, hoàn toàn nằm ngoài hệ thống HV của chữ Hán!

Trong chữ Hán có "quyển nhì" 卷二 , "quyển tam" 卷三; trong khi đó tiếng Việt gọi là "CUỐN hai", "CUỐN ba".

/2/ "GIÙM" ("GIÚP") - "Hộ"

Quí bạn vẫn thường nghe: "nhờ làm giùm (làm giúp)", "nói giùm", "thu giùm (thu giúp)". "GIÙM", "GIÚP" hoàn toàn là tiếng thuần Việt, KHÔNG phải âm HV!

Rồi, trong khi đó bạn lại nghe: "làm hộ", "nói hộ", "thu hộ". Từ đâu ra "hộ"? Bạn có ngờ nổi, "hộ" chính là âm HV của 護, dựa vào chữ Hán đó đa!

/3/ "LẺ" - "Linh"

Tỉ như đọc "305" là "ba lẻ năm", lại nghe "ba linh năm". Có phải "lẻ", "linh" thuộc về phương ngữ trong Nam, ngoài Bắc? Không phải!

Trong chữ Hán, có khoảng 50 ký tự viết khác nhau nhưng đều đồng âm "linh", đồng âm lủ khủ. Trong đó có ký tự 零 "linh", nghĩa gì vậy?

Chữ Hán viết 三 零 五, kéo theo âm HV là "tam linh ngũ" (305). "Linh" là âm HV của 零, nghĩa là "LẺ" trong tiếng thuần Việt!

Không phải phương ngữ gì hết trơn, ở đây, "LẺ" là tiếng thuần Việt, cùng nghĩa với "Linh" là âm HV (dựa vào chữ Hán) đó đa!

Chúng ta nói "tiền lẻ", đồng nghĩa trong chữ Hán đọc là "linh tiền" (零 錢). Có ai ở ngoài Bắc , mặc dù gọi "ba linh năm" (305, tức "ba lẻ năm"), đi gọi... "linh tiền" không? Không! Mà đều gọi "tiền lẻ", "LẺ"!

* Thấy gì?

"LẺ" đã là tiếng thuần Việt trong cả nước. Cũng như "CUỐN", "GIÙM" ("GIÚP") đều đã là tiếng thuần Việt trong cả nước.

Rồi, do chịu ảnh hưởng Hán hóa trong ngôn ngữ, đem tiếng thuần Việt có sẵn ... sửa theo âm HV từ lúc nào đó, rất lâu, riết "nhập tâm" nói hoài đã thành quen miệng.

Thời may, cũng vẫn còn trong tiềm thức về tiếng thuần Việt. Thành thử vẫn còn giữ lại cách nói "tiền lẻ" (chớ không "linh tiền").

-------

Tiếng thuần Việt KHÔNG nằm trong âm HV, trước đây được ghi bằng CHỮ NÔM. Như chữ Nôm 𥘶 (đọc là LẺ), 𢩾 (đọc là GIÚP), 𡑓 (đọc là GIÙM), 卷 (đọc là CUỐN, theo cách thức dị âm đồng nghĩa với "quyển").

                                                                          Nguyễn Chương-Mt

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

ĐÔI ĐIỀU BÀN VỀ 12 CUNG VÔ CHÍNH DIỆU – Đặng Xuân Xuyến



Bàn về cung vô chính diệu, sách TỬ VI CHÂN TRUYỀN viết: “Đối với trường hợp Mệnh vô chính diệu hoặc cung vô chính diệu nói chung đều lấy chính tinh ở cung xung chiếu làm căn bản để luận đóan cho đến khi bước vào đại vận có chính tinh thì lại lấy chính tinh của đại vận để luận đoán (không sử dụng được chính tinh ở các cung tam hợp vì không nằm trong trục đối xứng xung khắc về Ngũ hành nên tính chất không đủ mạnh). Nếu không thể lấy chính tinh cung xung chiếu thì bắt buộc phải xem mệnh nằm trong trạng thái nào của vòng Trường sinh để luận đoán sự thọ yểu của Mệnh có kéo dài được đến đại vận tiếp theo hay không và sử dụng sao đó để luận đoán về hình thức cơ bản của Mệnh. Cung vô chính diệu giống như một hố đen của vũ trụ câu hút được năng lượng từ các cung xung chiếu và tam hợp cho dù các cung đó có Tuần - Triệt hay không. Như một tổ chức chưa được định hình, một đội quân chưa có người lãnh đạo vì vậy tính chất của các phụ tinh thể hiện một cách tự do không có định hướng, khi gặp vận có chính tinh hoặc cung xung chiếu có chính tinh thì đó chính là sự định hướng sự phát triển cho cung đó.
 

MƯỜI NĂM – Thơ Lê Kim Thượng


  


Mười  Năm
 
1.
Mười năm tình cũ còn không?
Ai thương, ai nhớ… ai mong, ai chờ…
Chuyện tình chết lịm trong thơ
Còn gì đâu nữa mà chờ, mà mong
Con đò bến cũ long đong
Có người đứng đợi, ngóng trông ngày ngày
Chữ tình còn một chút này
Rưng rưng nghèn nghẹn dâng đầy lòng ta
Biệt ly, ly biệt chia xa
Em giờ là của người ta mất rồi…
Tiễn em về phía xa xôi
Quay lưng ôm nặng đơn côi một mình
Nhắc làm chi một chuyện tình
Một mình mình nhớ, một mình mình thương
Một mình, một gánh tơ vương
Tôi đi về phía con đường không em…
 
2.
Còn đâu một cánh môi mềm
Ngọt ngào, thắm thiết, ấm êm ngập lòng
Hẹn thề vượt cả bão giông
Giữ lòng chung thủy, một lòng yêu thương…
Bây giờ chưa hết dặm trường
Nửa đường gãy gánh, nửa đường thương đau
Em xa tình lỡ phai màu
Làm sao quên được tình đầu mới yêu…
Buồn vui nếm trải đã nhiều
Bao nhiêu năm nhớ, bấy nhiêu năm sầu
Ngồi ôm kỷ niệm mà đau
Nhớ ngày xưa cũ bên nhau ngọt bùi
Tình xa lòng luống ngậm ngùi
Thương đau rơi xuống chôn vùi tình yêu
Mười năm còn nhớ ít nhiều
Lòng như quán vắng… chợ chiều đã tan…
 
                    Nha Trang, tháng  09. 2026
                          LÊ KIM THƯỢNG

HOÀN CẢNH SÁNG TÁC NHẠC PHẨM “MỘNG DƯỚI HOA” CỦA PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG - Đông Kha



“Mộng Dưới Hoa” là một nhạc phẩm tình ca có nội dung tuyệt đẹp và rất lãng mạn của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Cái đẹp và lãng mạn của bài này hát được thừa hưởng từ bài thơ thời tiền chiến của thi sĩ Đinh Hùng. Tuy nhiên ít người biết rằng bài hát “Mộng Dưới Hoa” không phải được phổ từ một bài mà từ 2 bài thơ khác nhau của thi sĩ Đinh Hùng.
 
Nếu để ý, người nghe nhạc sẽ thấy lời của bài hát Mộng Dưới Hoa êm đềm như một bài thơ 7 chữ, nhưng đến đoạn điệp khúc: Nếu bước chân ngà có mỏi… thì nhịp điệu nhanh hơn và có 6 chữ trong mỗi câu. Đó là vì những câu hát đó thuộc về 2 bài thơ khác nhau: 1 bài thơ 7 chữ và 1 bài thơ 6 chữ.
 

HUYỀN KHÔNG – THƠ GIỮA CÕI ĐẠO VÀ CÕI NGƯỜI – Trần Kiêm Đoàn với Chat GPT



Bạn Ta ơi! Thế này thì viết lách gì được nữa?
 
Nhân dịp Lễ tưởng niệm 20 năm ngày Hoà thượng Huyền Không Thích Mãn Giác viên tịch, ban tổ chức có nhã ý mời tôi lên phát biểu đôi nét về kinh nghiệm thụ giáo và trải nghiệm tương tác với Thầy trong sinh hoạt tuổi trẻ Phật tử của hệ thống GĐPT Huế mà Thầy rất quan tâm. Tôi định bụng viết một bài về Thơ trong cõi Đạo và Đời của Thi sĩ Huyền Không. Nhưng trước hết, tôi vào Chat GPT, trương mục có trả lệ phí hàng tháng của tôi và đánh vào cái đề tài mà tôi muốn viết. Mới đánh xong 9 chữ của cái đề bài, Chat GPT viết một lèo trong vòng 20 giây ra một bài như sau đây. Tôi đọc; mặc dầu đã quá quen với AI nhưng vẫn cảm thấy bâng khuâng với tâm trạng vui buồn lẫn lộn: Vui vì AI viết văn nhanh như làm xiếc, rất phong phú, xuất sắc về cả nội dung lẫn hình thức, mở ra một tầm văn bút quá máy móc nhưng mới mẻ. Và, buồn vì một đời lấy viết lách lai rai làm vui; đến thời 80 thành... 7 nghiệp!
 
Xin chào thua bạn trẻ AI
Trần Kiêm Đoàn – gác bút!

BA BÀI THƠ CỦA CHÂU THẠCH


  


NGHE HÁT “CÒN ĐÂU NỮA" 
NHẠC VĨNH ĐIỆN 
                                                           
"Còn Đâu Nữa"- nhạc và lời Vĩnh Điện
Con sâu đêm quặn nhấm lá sương đêm
Sóng quyện âm đời tan vỡ êm đềm
Từng nốt nhạc vọng xa hồn quyển luyến
 
Còn đâu nữa giấc mơ xưa đã biến
Lá xanh xưa đã héo rụng chiều thu
Tiếng đàn xưa tình đọng cõi sa mù
Hạt mưa vỡ trong chiều đông bút giá
 
Còn đâu nữa sóng va vào vách đá
Bọt trắng tung cho biển đẹp tan tành
Trái tim sầu rỉ máu đóa môi thanh
Từng âm điệu sa vào hồn hiển hiện
 
"Còn Đâu Nữa"- nhạc và lời Vĩnh Điện
Tai ta nghe hồn quay lại Thiên Đàng
Thấy trái sầu chín mọng cõi hồng hoang
Còn đâu nữa, còn đắng cay rụng xuống!
                                

BÀI CA MƯA THU, TRĂNG SÁNG HIÊN NHÀ, SÔNG MƯA – Thơ Tịnh Bình


  


BÀI CA MƯA THU
 
Êm êm như rất mỏng
Lướt trôi trên phím đàn
Giọt mưa thu khe khẽ
Hát bài ca miên man
 
Vườn khuya cơn gió rụng
Rơi chớm hương khẽ khàng
Ngủ quên rồi khúc dế
Dưới trăng xưa trầm khàn
 
Dòng dòng hoài niệm cũ
Theo mưa tí tách về
Nhòa mặt người hư ảnh
Một thời ta đam mê
 
Chờ mưa khô dòng lệ
Hong lên giọt nắng trời
Những niềm thương vừa chớm
Nụ cười ai buông rơi...
 

LÂM CHƯƠNG: CHIẾN TRANH, TÙ ĐẦY, NỖI ÁM ẢNH TỪ TÂM HỒN ĐẾN THƠ VĂN - Đỗ Trường

                           (Mục chân dung nhà văn- Đỗ Trường)


Tôi đã đọc khá nhiều trang văn của cả hai phía (Bắc-Nam) viết về chiến tranh, và hậu chiến với những năm tháng dài tù tội. Song đến nay, cùng với Phạm Tín An Ninh, Thảo Trường, hay Nguyên Vũ…thì người lính Lâm Chương cũng là một nhà văn cho tôi rất nhiều cảm xúc khi đọc. Sự rung động ấy, không hẳn giọng văn trào phúng, mỉa mai với tiếng cười đớn đau, mà bởi cái giá trị hiện thực và nhân đạo ở truyện ngắn, văn xuôi Lâm Chương mang đến cho người đọc. Hai giá trị cơ bản của văn học, nhưng không phải ai cũng viết dân dã mà sinh động, sâu sắc được như Lâm Chương. Cũng như Phạm Tín An Ninh, một đặc điểm nổi bật nữa của Lâm Chương lối hành văn, câu cú rất chuẩn mực, sáng và đẹp. Một sự ngẫu nhiên, thú vị hai nhà văn người lính (Phạm Tín An Ninh và Lâm Chương) trạc tuổi cùng xuất thân từ trường trung học Nha Trang. Ở đó, cả hai bác nhà văn này đều cho thế hệ sau nhiều kinh nghiệm viết văn quý báu.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

CÔ GÁI BÁN DON - Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích



Đến định cư tại miền Bắc California Hoa Kỳ hơn nửa năm, bỗng một hôm, tôi nhận được cú điện thoại của Thung từ Texas gọi qua. Thung là bạn học, cũng là chiến hữu của tôi ngày xưa. Hắn đề nghị gởi vé máy bay mời tôi qua Houston chơi. Nhân tiện thăm viếng khu vực dễ làm ăn và giá nhà cửa cũng dễ thở hơn nhiều so với San Jose. Tôi đồng ý. Một tuần lễ sau, một vé máy bay và một cái check 300 Mỹ kim trong bì thư gởi đến. Đây là một món quà khá hậu hỉ ở đất lạ quê người. Ba ngày sau, tôi lên máy bay của hãng Continental Airlines đi Texas. Bay suốt bốn tiếng đồng hồ, chiếc Boeing mới hạ cánh xuống phi trường Houston. Thung đón tôi tại lối ra của khu hành khách. Lần gặp nhau cuối cùng ở quê nhà vào năm 1973, tại Đại Học CTCT Đà Lạt. Ngày ấy, trông hắn rắn rỏi, khuôn mặt sạm nắng mà hôm nay, sau mười sáu năm định cư tại Mỹ, hắn hoàn toàn lột xác. Nước da trắng hồng đỏ au, cái bụng căng tròn, dáng người bệ vệ trông “rất ông chủ”. Mà chủ thực. Thung làm chủ cái chợ bán đồ biển. Vợ và con quản lý còn Thung lo chạy vòng ngoài.

CA SĨ HỒI CHÁNH ĐOÀN CHÍNH (CON NHẠC SĨ ĐOÀN CHUẨN)

Nguồn:
https://www.facebook.com/SuThatVietNam/posts/pfbid02FBS2SYXnTTPuJdyY6arwLjhN6pG1EkqUXjcDSRCHv2wi5VBSiVupawcnDV17RX9Wl?rdid=M9Sh85bXL5Ub7acz

     Ảnh:  Đoàn Chính và vợ, Mộng Hương, trong ngày lễ thành hôn. Ông từ trần ngày 10/9/2019, thọ 74 tuổi.

Nếu người Việt Nam  biết đến Nhạc Sĩ Đoàn Chuẩn qua những bài nhạc mượt mà, ca tụng cái đẹp thì người Việt ở miền Nam trước 1975 họ còn biết đến một hồi chánh viên nổi tiếng là Đoàn Chính con của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn qua tiếng hát đầy nam tính của một ca sĩ có đủ hai yếu tố cần thiết: phẩm chất và kỹ thuật.

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: “RƯỢU ĐÊM NAY” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN – Trịnh Thị Nhâm


Tác giả Trịnh Thị Nhâm

RƯỢU ĐÊM NAY, nhân vật trữ tình uống cùng một người đàn bà, họ không hề xa lạ với nhau, hoặc giả đã từng có thời bên nhau rồi rời xa, nay gặp lại trong một đêm cùng chén rượu. Anh say thật hay cố say để quên đi sự đời u uất nhức nhối trầm luân, và sống động hơn là người đàn bà xưa đang bên cạnh, trước mặt mình trong hoàn cảnh không mong muốn:
 
"Người ở lại bên ta ngồi châm tửu
Dìu ta say quên bớt oái oăm đời
Quên "cười ruồi - mắt đĩ - và cơn đau"
Cả nham nhở niềm tin vừa vá vội"
 

TÌM VỀ - Thơ Đặng Xuân Xuyến


   


TÌM VỀ
 
Gã ngược miền ký ức
Tìm về tuổi đôi mươi
Tim rộn ràng náo nức
Gọi đò ơi... ơi... ời..
 
Nghe như tiếng ai cười
Khuấy sông xưa ngơ ngác
Gã trai làng lưu lạc
Nén thở dài rất sâu.
 
Ừ, đời là nương dâu
Ừ, đời là bể khổ
Đã vấp nhiều bão tố
Nụ cười còn trinh nguyên.
 
Nhớ. Nhớ bao là chuyện
Thuở tắm sông, thả diều
Ngợp bến xưa vàng nắngNhịp hò reo rộn chiều.
 
Kìa như ai đang tới
Tiếng cười vang góc trời
Gã hòa vào mây trắng
Thả hồn cùng chơi vơi.
 
Làng Đá, sáng 18 tháng 9/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

NGƯỜI QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng


 

Người  Quê
 
1.
Quê nhà xa khuất sơn khê
Ai đi xa cũng mong về với quê…
Cỏ xanh ken lối đi về
Đình làng xưa cũ, đôi Nghê đứng chầu
Sông dài nước chảy về đâu
Sóng xô một khúc nhạc sầu miên man
Trời xanh mây trắng lúa vàng
Cánh đồng no gió mênh mang nắng hồng
Cha còn vất vả trên đồng
Mẹ còn lặn lội long đong tháng ngày
Đường về gánh lúa chiều nay
Áo em thôn nữ gió bay nhẹ nhàng…
Rượu quê uống cạn lại tràn
Người quê say giữa thênh thang đất trời
Thật thà, chân chất người ơi
Hiền hòa, giản dị một đời bình an…
 

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

CHÙM THƠ THĂM HOA LỤC CỦA NGUYỄN KHÔI

   
   

(Tặng Nhã My)
Trung Hoa rộng lớn nào đi hết
thì đển Nam Kinh ngắm Ngô Đồng (1)
Quyền thế ngất trời rồi cũng chết
Tình Yêu còn mãi với non sông.
———
( 1) Đường phố cây Ngô Đồng ở Nam Kinh do Tưởng Giới Thạch trồng tặng Tống Mỹ Linh
 
1/ NAM KINH
 
( Bởi mê Hồng Lâu Mộng
Nên tìm đến Nam Kinh)
Mộng đến Kim Lăng thăm Cảnh Ảo
tìm cô gái Việt ở Nam Kinh
hồn xưa còn giấu trong nếp áo
thơ xưa tơ liễu rủ hương tình
Trông lên phương bắc mang mang gió
Chim đậu cành Nam ngó đất trời
qua bao bình lửa cho gặp gỡ
Trung Sơn ta đứng lặng bên Người.
“ Sơn thủy cổ thành tương ỷ” tuyệt
ai hay Thiên Quốc hận Thái Bình ?
nắng hắt Trường Giang cồn khói sóng
buồm ai cô lữ tới Nam Kinh.
 
2/ ĐI DỌC TIỀN ĐƯỜNG
(Sóng êm Phúc kiến, lửa tàn Chiết Giang)
 
Mênh mông con nước Tiền Đường
triều dâng hoa sóng dễ nhường mắt ai
tàu qua huýt tiếng còi dài
Chuyện xưa bỗng nhớ để hoài xót thương.
Đoạn nào Kiều đã trầm gương
bến nào gặp vãi Giác Duyên  đón về ?
gió chiều se lạnh tái tê
ai người Quân tử sẻ chia Đoạn trường
bâng khuâng đi dọc Tiền Đường
trăm năm đâu chốn mồ chôn Nàng Kiều ?
 
3/ VỚI SÔNG TƯƠNG
 
Tàu đi theo nẻo Sông Tương
đôi bờ phẳng lặng như dường đón ai
núi đồi thon tựa bờ vai
mưa tuôn lệ Liễu bay hoài tương tư
xxx
Cuộc đời trôi nổi bôn ba
gặp sông Tương thấy thật là dịu êm
đầu sông bao cuộc đảo điên (1)
ai châm ngọn lửa đốt miền tre xanh ?
một phen khuấy động Kinh thành
Nông dân vùng dậy thác ghềnh sóng xô
Sông Tương thì cứ lặng tờ
để cho Dương Tử , Hoàng Hà réo sôi.
——
(1) Hồ Nam quê Mao Trạch Đông
 
4/ THĂM HÀN SƠN TỰ

Chùa cổ, thơ đề, vẳng tiếng chuông,
Ngàn năm ngưỡng vọng đến Hàn Sơn.
“ Cô Tô thành ngoại “ in bóng nguyệt
Để khách đa tình phải vấn vương.
xxx
Nắng gắt , người chen, ánh chiều tà,
bờ Phong xoà  bóng , Liễu thướt tha.
Chuông động hồn xưa Hàn Sơn tự,
lên tháp vời trông sóng Vận Hà.
 
 5/ DẠO PHONG KIỀU LỘ
 
Chiều sương dạo phố Phong Kiều
tựa đình Chiết Liễu gió reo đôi bờ
thuyền ai về bến Cô Tô
lửng lơ nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
 
6/ NHỚ LỖ TẤN (1)
 
Qua làng chẳng thấy AQ
nhà cao cửa rộng liền kề tương thân
rượu quê một chén Thiệu Hưng
ai say thời cuộc mà không Chí Phèo ?
——
(1) Văn hào Trung Quốc với nhân vật AQ… VN có Nhà văn Nam Cao với nhân vật Chí Phèo.
                                                             Chiết Giang 18/6/2006
                                                                    Nguyễn Khôi

TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn



Trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, 2026, chúng tôi – một nhóm Phật tử cao niên U70, U80 và U90 từ nhiều vùng miền Hải ngoại và Việt Nam – có dịp thăm viếng, gặp gỡ và chia sẻ với chư tôn đức, quý đạo hữu và thế hệ Phật tử tuổi trẻ mang tính kế thừa về những vấn đề Phật sự; đặc biệt là những thách thức trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình tu học và hoằng pháp. Vô hình chung, vấn đề nổi cộm và tiêu biểu nhất là sự hiện hữu với những tác dụng và thách thức chưa từng có tiền lệ về Trí Tuệ Nhân Tạo (AI).
 

THI SĨ NGUYÊN SA VÀ MỐI TÌNH DUY NHẤT THUỶ CHUNG SUỐT ĐỜI – Bài viết của Niệm Quân


                      Bà Trịnh Thúy Nga khi làm hiệu trưởng trường Văn Học ở Sài Gòn

Cả cuộc đời mình, thi sĩ Nguyên Sa chỉ có một mối tình duy nhất là người vợ đã gắn bó với ông từ thuở học trò cắp sách đến trường cho tới tận khi trút hơi thở cuối cùng, bà Trịnh Thuý Nga. Chính tình yêu với bà đã cho ông niềm cảm hứng dạt dào để khởi sự trở thành một nhà thơ.Mối duyên của họ bắt đầu từ những ngày mùa đông trên đất Pháp như trong lời kể của bà Thuý Nga:

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên thật nhà thơ Nguyên Sa là Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy buôn bán lớn, sợ Việt Minh làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông”.

HỮU LOAN NGƯỜI THƠ BẬN VIỆC LÀM NGƯỜI - Bài viết của Nguyễn Duy

Thành phố Hồ Chí Minh, một ngày thu năm 1988. Tôi đang điều hành cuộc họp cơ quan thường trực phía Nam của tuần báo Văn Nghệ tại trụ sở 43 Đồng Khởi, chợt có người đến tìm gặp, xưng là nhà thơ Hữu Loan, từ quê vào. Lật đật chạy xuống phòng khách, tôi thấy một ông già hom hem, râu tóc lam nham, áo quần xốc xếch, hao hao giống “đười ươi thi sĩ” Bùi Giáng, ngồi co một cẳng lên ghế. Cái cách đó, đích thị Hữu Loan rồi, theo hình dung của tôi. Tôi ôm chầm lấy ông như người quen thân lâu ngày gặp lại.


Nhớ, năm 1988,sau khi được "phục hồi" quyền được viết cùng với tư cách hội viên (sáng lập) Hội Nhà văn VN, "thi sỹ xe thồ" này đã làm cuộc "Nam tiến" bằng xe lửa và xe đạp vào Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Ông đến thăm tôi và sau đó tôi đã mấy lần về quê thăm ông, tại xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn. tỉnh Thanh Hóa. Nay tôi rất vui nhận được tin Thanh Hóa vừa đặt tên đường phố HỮU LOAN. Xin chúc mừng tỉnh nhà và gia đình thi sỹ. Nhân sự kiện văn hóa này tôi post lại bài viết về lần đầu gặp gỡ giữa hai người thơ Thanh Hóa tại Sài Gòn, tháng Tám năm 1988. (Bài viết vào dịp tang lễ cụ Tú Loan, 2010, đã được đăng trrên vài tờ báo hồi đó và in trong GHI & NHỚ - tuyển tập bút ký của Nguyễn Duy (nxb Hội Nhà văn).
Ông là nhà thơ đàn anh, người đồng hương xứ Thanh của tôi, nơi nổi tiếng “địa linh, nhân kiệt”. Ông thuộc lọai “nhân kiệt”, không chỉ là “hào kiệt” mà còn là “cùng kiệt”, một thường dân kiệt quệ theo nghĩa đen.