Tiếng Việt có Bích, một âm đọc quen thuộc, đặc biệt phổ
biến trong tên người và văn chương dân tộc, thường gợi vẻ đẹp trong trẻo, thanh
cao và có phần quý giá. Thế nhưng trong hệ thống chữ Hán, đây là tập hợp của
nhiều tự dạng khác nhau, với mỗi chữ đều có nguồn gốc và trường nghĩa bất đồng,
góp phần tạo nên những sắc thái phong phú cho âm đọc này khi đi vào tiếng Việt.
Chúng là những chữ Bích nào?
Bích 璧
nghĩa gốc là một loại ngọc quý hình tròn, ở giữa có lỗ, thường dùng làm lễ khí
trong thời cổ. Chữ này thuộc kiểu hình thanh, gồm bộ Ngọc 玉 (王)
chỉ ý và chữ Bách 辟
làm thanh phù. Theo quan niệm xưa, ngọc bích tượng trưng cho trời, sự viên mãn
và hài hòa với hình dạng “ngoài tròn, trong rỗng”. Vì lẽ đó, Bích dần được dùng
để chỉ ngọc nói chung, đặc biệt là loại ngọc quý, sau mở rộng sang nghĩa vẻ đẹp
trọn vẹn, không tì vết, tốt đẹp, tròn đầy,...

Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
Khi đi vào tiếng Việt, chữ Bích này trỏ cho vẻ đẹp
tinh khiết và quý giá, cho nên những từ mà ta thường gặp trong tiếng Việt như
toàn bích, hoàn bích, ngọc bích, bích nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Bích
này. Trong tên người, đây cũng là một chữ được ưa chuộng, hàm ý vẻ đẹp thanh
cao, hoàn hảo và không chút khuyết điểm.
一朝大運有時至,
六印纏腰鳴得意。
黄金百鎰璧百雙,
從車千乘來鄉里。
Nhất triêu đại vận hữu thì chí,
Lục ấn triền yêu minh đắc ý.
Hoàng kim bách dật bích bách song,
Tòng xa thiên thặng lai hương lý.
Một mai vận đến công thành,
Tướng công sáu nước ấn vàng ý khoe.
Về làng nghìn chiếc cỗ xe
Trăm đôi ngọc bích trăm bè vàng y.
(Nguyễn Du, bản dịch thơ Lương Trọng Nhàn)
璧月高,宵煙裊裊,
銀河轉,漏鼓沈沈。
Bích nguyệt cao, tiêu yên niểu niểu,
Ngân hà chuyển, lậu cổ trầm trầm.
Nguyệt biếc cao, mây đêm lãng đãng
Ngân hà chuyển, trống điểm trầm trầm
(Tùng Thiện Vương, bản dịch thơ Phan Văn Các)
“Ngựa tuấn nọ còn để xương thiên lý, ngàn vàng chưa dễ
mấy ai mua!
Ngọc bích kia chưa tỏ giá liên thành, giọt luỵ chớ
hoài riêng kẻ khóc!”
(Tản Đà)
Bích 壁
có nghĩa là tường vách.
Đây là loại chữ hình thanh, gồm bộ Thổ 土 biểu ý và chữ Bách 辟
biểu âm. Về sau chữ Bích này dần mở rộng ra nhiều tầng nghĩa khác liên quan, ví
như chỉ các lớp bao bọc của sự vật như thành lũy trong quân sự, hay các cấu
trúc bảo vệ của cơ thể,... Đồng thời chữ này cũng được dùng để chỉ vách núi dựng
đứng, gợi cảm giác hiểm trở và hùng vĩ.
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
Trong tiếng Việt, nghĩa này xuất hiện khá rõ qua một số
từ quen thuộc ví như tường bích, thạch bích, bích họa, bích báo, xích bích,...
Ngoài ra, Bích còn là tên của một vì sao trong hệ Nhị thập bát tú.
動如雲鶴,
靜如牆壁。
其輕如毛,
其重如石。
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
(Trần Thánh Tông, bản dịch thơ Phạm Tú Châu)
“Sông Xích Bích luống thương người khốn quẫn,
Bến Tầm Dương còn nhớ khúc Ly tao,
Ngại ngùng thay trong lúc ba đào,
Ai đứng mũi chịu sào cho đáng mặt?”
(Trần Tuấn Khải)
“Nghìn lẻ một đêm mộng thắp đèn
Hồn đi vào giấc ngủ hoa sen
Nền mây bích họa sương vờn bóng
Điên đảo trời sao mắt lượn thuyền.”
(Đinh Hùng)
Bích 碧
có nghĩa là xanh biếc.
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
Phàm những gì mang sắc xanh trong trẻo đều có thể gọi
là Bích. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng rằng Bích là loại đá có màu xanh đẹp, gần
giống với ngọc. Trong cách nhìn của người xưa, chữ Bích này chính là sắc xanh
tinh khiết và sáng trong, thường gắn với những vật quý hoặc cảnh sắc thanh sạch,
không nhiễm bụi trần.
Từ đó, chữ Bích xuất hiện nhiều trong tiếng Việt như
ngọc bích, bích câu, Bích Câu kỳ ngộ,... thường được dùng rộng để chỉ màu xanh,
đặc biệt là trong những hình ảnh trời xanh nước biếc. Đồng thời trong văn
chương, Bích còn mang sắc thái thẩm mỹ rõ rệt, được dùng để khắc họa những
không gian cao rộng, trong lành và có phần thoát tục.
庭舞胎禽雲掩關,
露華嚥罷覺清寬。
碧桃華下渾無事,
時倩東風掃石壇。
Đình vũ thai cầm vân yểm quan,
Lộ hoa yến bãi giác thanh khoan.
Bích đào hoa hạ hồn vô sự,
Thời thiến đông phong tảo thạch đàn.
Lân múa thai cầm mây đóng quan
Yên tan hoa lộ tiếng chuông khoan
Dưới hoa đào biếc rành vô sự
Sẽ mượn gió đông quét thạch đàn.
(Chu Văn An, bản dịch thơ Nguyễn Bích Ngô)
“Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay.”
(Hồ Xuân Hương)
“Thành tây có cảnh Bích Câu
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.”
(Bích Câu kỳ ngộ)
Bài viết của Khánh Ly
Trích từ Tri thư đạt lễ