BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI KỶ HỢI 2019 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐỒNG MÔN NGUYỄN HOÀNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐỒNG MÔN NGUYỄN HOÀNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2019

TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA VIỆT NAM - Hoàng Đằng


                
                                    Tác giả Hoàng Đằng


          TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA VIỆT NAM
                                    (Ngôn ngữ và văn tự)
                                                                               Hoàng Đằng

Thời gian này, có ý kiến trái chiều về việc lấy tên giáo sĩ Francisco De Pina và giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre De Rhodes) đặt tên cho hai con đường nào đó tại Đà Nẵng.
Qua những ý kiến đưa ra, tôi thấy đang có sự lẫn lộn giữa TIẾNG NÓI và CHỮ VIẾT (Ngôn ngữ và văn tự) ngay cả trong giới trí thức.

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN – Lê Hữu Thăng


            
                             Thầy Lê Hữu Thăng


TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 
                                                                                  
Dù ngôi trường ngày nay không còn tồn tại về mặt vật chất, nhưng tên tuổi của trường vẫn lưu truyền mãi mãi trong con tim của người dân Quảng Trị - nhất là trong lòng những thế hệ học sinh của ngôi trường được vinh dự mang tên Chúa Tiên. Xin tạ ơn quý vị thân hào nhân sĩ, quý vị phụ huynh học sinh của thập niên 1950 đã có tầm nhìn xa trông rộng, góp nhiều công sức xây dựng nên trường Trung học Nguyễn Hoàng. Xin tạ ơn quý thầy cô giáo đã hy sinh, tận tụy khai sáng trí tuệ, truyền đạt tư tưởng một nền giáo dục “nhân bản, dân tộc và khai phóng” để hàng chục thế hệ học sinh của trường Nguyễn Hoàng được thành danh, thành người hôm nay.
Vừa thoát khỏi ách đô hộ 80 năm của thực dân Pháp, một nạn đói kinh hoàng xảy ra vào cuối năm 1944 đến tháng 5-1945 trên địa bàn các tỉnh từ Quảng Trị trở ra khắp vùng Bắc Bộ, đã giết chết hàng trăm ngàn người dân nước Việt. Xác người chết đói nằm rải rác trên các cánh đồng, trên những nẻo đường thị xã. Tiếp theo là những năm tháng chiến tranh khốc liệt đã hủy diệt môi trường sinh sống, đồng ruộng bỏ hoang, cơ sở cộng đồng, trường học bị bom đạn tàn phá. Trong hoàn cảnh ấy, tháng 9-1952, tiếng trống khai giảng trường Trung học Quảng Trị - tiền thân trường Trung học Nguyễn Hoàng đã vang lên như một giấc mơ huyền thoại của thế kỷ, như một tia sáng nhiệm màu soi đường cho tương lai tuổi trẻ Quảng Trị. Một ngày hội tưng bừng của phụ huynh học sinh và của cả cư dân trong tỉnh.

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2019

BÊN CHIẾU RƯỢU VỚI VÕ THÌN – Đỗ Tư Nhơn


            
                      Tác giả bài viết  Đỗ Tư Nhơn 


         BÊN CHIẾU RƯỢU VỚI VÕ THÌN
                                                                                        Đỗ Tư Nhơn

Ai đã từng ngồi chung chiếu rượu với Võ Thìn chắc không thể nào quên giọng ngâm thơ hào sảng, đầy tâm huyết của anh. Những câu thơ của Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Phan Phụng Thạch… và bằng hữu khi thì bay bổng, lúc thì đằm sâu vào tân tâm can của người đồng cảm đồng điệu mà cuộc đời xô dạt nổi trôi đây đó về gặp lại, cùng ngồi xuống bên nhau quên đi bao nhọc nhằn phiền muộn. Chiếu rượu với Võ Thìn có thể nói là chiếu rượu ân tình tri ngộ. 

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2019

BẾN ĐÁ - Thơ Võ Văn Hoa


   
                        Nhà thơ Võ Văn Hoa
     

BẾN ĐÁ

“Gió Lào cát trắng” *
“Đá đổ mồ hôi”
Về thăm Bến Đá
Dòng đời nước trôi!

Quê mình thật lạ
Ca cút chim kêu
Tô canh rau má
Ngọt trong nắng chiều

Mẹ quê còn đó
Rờ rẫm tay con
Một thời máu lửa
Vọng phu mỏi mòn

Đường làng ngõ hẹp
Cam bưởi quanh vườn
Dáng ai khép nép
Dấu vào sau bương!

Về thăm Bến Đá
Đá dựng trong lòng
Hương quê dầu sả
Em còn đợi mong?

VÕ VĂN HOA

* Chữ dùng của nữ sĩ Xuân Quỳnh khi nói về Quảng Trị

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

LỜI MẸ RU - Thơ Phạm Văn Bình


             
                                   Nhà thơ Phạm Văn Bình


GIỚI THIỆU THƠ PHẠM VĂN BÌNH

Phạm Văn Bình (1940 - 2018), tác giả có 2 bài thơ “Chuyện tình buồn” và “12 tháng anh đi” nổi tiếng được Phạm Duy phổ nhạc, còn nhiều thi phẩm khác tản mác trong báo chí trước năm 1975.
Vừa rồi, tôi ngồi nói chuyện với một người bà con nguyên là học trò của Phạm Văn Bình trong thời gian Phạm Văn Bình dạy ở trường trung học Bán Công Đông Hà (1963 - 1966).
Người học trò này đọc thuộc lòng cho tôi nghe bài thơ sau đây do Phạm Văn Bình sáng tác.
Tôi muốn đưa bài thơ lên đây xem như một hình thức lưu giữ và mời bạn đọc thưởng thức.
                                                                                       Hoàng Đằng


LỜI MẸ RU

Khúc hát đó dẫn con vào thơ ấu,
Lời Mẹ ru mềm nhịp võng thời gian,
Những đêm nao như chớp bể mưa nguồn,
Tiếng hát Mẹ ngọt ngào như dòng sữa,
Con đau ốm Mẹ thuốc thang từng bữa,
Con ngủ say Mẹ ôm ấp từng đêm,
Mẹ nguyện cầu khi con Mẹ lớn lên,
Đời đẹp như bài ca dao kể chuyện tình đôi lứa
Và quê hương khổ đau và Việt Nam khói lửa,
Việt Nam hận thù, dân tộc điêu linh,
Hai mươi mấy năm nay xương máu chất chồng.
Nhịp mõ cầu siêu vọng về bi thảm.
Niềm tủi nhục trùm lên từng thân phận.
Cuộc sống bơ vơ vì thiếu tình người.
Khuôn mặt héo hon nào thấy nụ cười.
Kiếp sống lưu đày như loài rêu xanh vật vờ ngoài biển đảo.
Con thất thểu bước đi như tê giác đấu
Chung quanh con bầy sư tử nhe răng,
Đấu trường là cuộc đời hừng hực lửa hờn căm.
Con khao khát ánh trăng rằm dịu mát.
Mẹ ơi Mẹ phải chăng quả đất này là sa mạc
Và con người lữ hành cô độc
Của cuộc hành trình dằng dặc một trăm năm.
Bài ca dao ngày xưa xin Mẹ hát giùm con,
Xin Mẹ mớm vào hồn con bầu sữa ngọt,
Lời phủ dụ êm như dòng mật rót
Như nước cam lồ như suối tình thương
Mười ngón tay sầu xin Mẹ hãy biến cành dương
Tưới nhân ái lên Việt Nam đau khổ
Cho đất nước bình an, hận thù sụp đổ.
Mùa xuân diễm kiều trong ánh mắt em thơ.
Mẹ cho con gục đầu vào lòng Mẹ như ngày xưa
Trong khúc hát ru hời, nôi đưa đẩy nhịp.
Những ngày xuân, những ngày xuân nối tiếp,
Nước sông Hồng không nhỏ lệ thương đau,
Nước sông Hương thôi chứa chất u sầu,
Nước sông Cửu Long ruộng đồng bát ngát.
Lời ru Mẹ sẽ thành ghềnh thành thác
Cuốn đau thương ra khỏi tổ quốc Việt Nam.
Con nằm gối đầu lên ải Nam Quan,
Chân gác nhẹ xuống Cà Mâu thân mến,
Tay ôm dãy Trường Sơn, tay lùa trong sóng biển.
Mẹ nhìn con, ôi trìu mến nụ cười.
Hoa tự do nhân ái nở khắp trời

                                                                       Phạm Văn Bình

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

KÝ ỨC CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG - Thái Mộng Hùng

                           Trường Trung Học Nguyễn Hoàng Quảng Trị năm 1958

    KÝ ỨC CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG
                                                                              Thái Mộng Hùng      
Giới thiệu tác giả:

Ông Thái Mộng Hùng sinh năm 1928 tại Cam Lộ, Quảng Trị.
+ 1951-1952: Giáo sư trường Trung Học Tư Thục Quảng Trị.
+ 1953-1957: Giáo sư trường Trung Học Nguyễn Hoàng Quảng Trị.
+1957-1973: Hiệu trưởng trường Trung Học Nguyễn Hoàng  Quảng Trị.
+ 1973-1974: Chánh Sự vụ Sở Học chánh Quảng Trị.
+ 1974-1975: Chủ Sự vụ Phòng Học vụ Viện Đại học Quảng Đà.

                 

Trước năm 1945, dưới thời Pháp thuộc, tại Quảng Trị cũng như hầu hết các tỉnh khác chưa hề có trường trung học. Tình trạng này vẫn tiếp diễn cho đến năm 1950. Học sinh sau khi học xong bậc tiểu học đành phải xếp bút nghiên ở nhà phụ giúp cha mẹ trong công việc mưu sinh hàng ngày. Chỉ những con em nhà khá giả mới có điều kiện vào Huế tiếp tục bậc Trung học.

HỒI TƯỞNG VỀ NGƯỜI ANH, NHÀ THƠ PHAN PHỤNG THẠCH. - Phan Ngọc Bích


              
              Nhà thơ Phan Phụng Thạch


HỒI TƯỞNG VỀ NGƯỜI ANH - NHÀ THƠ PHAN PHỤNG THẠCH
                                                                        Phan Ngọc Bích

Anh tôi sinh năm 1942, là anh  trai thứ ba trong  gia đình có  bảy anh chị em .Tên khai sinh là Phan Ngọc Thạch, nhưng mọi người quen gọi Phan Phụng Thạch - bút hiệu của những bài thơ được yêu thích trên tạp chí Văn, Bách Khoa, Nghệ Thuật ở Sài Gòn từ năm 1964 đến 1972…Thuở nhỏ, trong nhà gọi anh một cách thân thương là Vinh. Cha tôi và  nhà thơ Phan Văn Dật là anh em chú bác lạị, học cùng khóa ở trường Khải Định. Về sau cha tôi làm trợ-giáo rồi tham gia mặt trận chống Pháp, bị giặc bắt và bắn chết năm 1948 lúc anh Thạch vừa sáu tuổi, còn tôi ba tuổi. Quê hương chìm trong khói lửa, gia đình chúng tôi vào  Huế một thời gian nhờ sự giúp đỡ của bà con họ tộc. Sau hiệp định Geneve , anh Thạch về Quảng Trị học trường trung học Nguyễn Hoàng từ năm 1955 cho đến đỗ tú tài 1. Anh học để thi tú tài 2 ở Trường Petrus Ky - Sài Gòn. Sau đó anh theo học Khoa Sử-Địa thuộc Đại Học Văn khoa - Huế và xin dạy hợp đồng ở trường cũ, cho đến khi tốt nghiệp khóa Khả năng sư phạm mở tại Sài Gòn anh được vào biên chế, vừa dạy vừa làm quản thủ thư viện nhà trường.                                                                 

LÀNG QUÊ QUẢNG TRỊ VÀ BƯỚC CHÂN BẠN TÔI QUA NHỮNG MIỀN TỐI SÁNG - Khang Hồ


         
                             Tác giả Khang Hồ


LÀNG QUÊ QUẢNG TRỊ 
VÀ BƯỚC CHÂN BẠN TÔI QUA NHỮNG MIỀN TỐI SÁNG.
                  (Gởi tặng các bạn bè NH 71-75 yêu thương)

 Chúng tôi rời xa ngôi trường Trung Học Nguyễn Hoàng chỉ sau 6 tháng ngồi học. Vì chỉ có một thời gian quá ngắn, nên khi nghĩ về trường, những học sinh NH 71-75 chúng tôi hay nhớ nhiều về làng quê và phố thị đặc biệt  này. Đó là một thị xã bao quanh một ngôi làng quê Thạch Hãn. Phố nhỏ nửa thành thị nửa nông thôn này đã gắn bó bao đời với những miền quê thôn dã.
  Mỗi lần bạn bè Nguyễn Hoàng gặp lại, câu chuyện được chú ý nhất vẫn là kể về quê cũ ngày xưa. Khi nghe những câu chuyện như vậy, những đứa “con nít” lớn lên trong thị xã như chúng tôi, cứ há hốc mồm lạ lẫm, vì đồng quê của các bạn ấy có nhiều màu sắc, nhiều hương vị, nhiều cung bậc cảm xúc cho dù đó là những tháng ngày đầy gian lao và khổ cực.

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2019

NHỮNG NGƯỜI CHUNG QUANH TÔI - Nguyễn Thị Giáng Hương


           
                   Cô giáo Nguyễn Thị Giáng Hương

            
        NHỮNG NGƯỜI CHUNG QUANH TÔI
                 Nguyễn Thị Giáng Hương (CGS NH 1973-1975)


Mùa Xuân đang ngự trị trên đất nước: Cây cỏ vươn mầm xanh mướt trông thật mát mắt. Bầu trời như trong hơn, xanh hơn và lòng người cũng rộn ràng hơn với những niềm hy vọng mới.
Sau buổi tối họp mặt NH Saigon tại nhà hàng Kim Thanh, dân Nguyễn Hoàng chúng tôi đã tham quan miền Tây Nam Bộ vào ngày 16 tháng giêng âm lịch. Đây là lần thứ ba tôi tham gia đoàn với các cựu học sinh Nguyễn Hoàng. Lần đầu là ngày đầu năm tết dương lịch - tôi theo đoàn về Hàm Tân dự lễ mừng thọ thầy Lê Văn Quýt; mùa thu năm ngoái tham gia tour Kampuchia và chuyến nầy là du lịch sông nước miền Tây.

VIỆT NAM ƠI... KHÓC NHỮNG NIỀM ĐAU - Thơ Trần Kiêm Đoàn


     

VIỆT NAM ƠI... KHÓC NHỮNG NIỀM ĐAU

Sáu mươi năm trước...
Từ cảm xúc của trái tim mới lớn,
Rất hồn nhiên yêu tận đáy lòng:
Yêu quê hương như những sớm mai hồng,
Yêu rất Huế chiều mùa thu chợt tím,
Yêu Quốc Học thương học trò Đồng Khánh,
Yêu... xóm nghèo quê tôi khi nắng lên!

Lòng yêu nước lãng mạn thuở hoa niên...
Như giấc mộng lành không gối đầu thù hận.
Giữa dòng lịch sử phong ba đầy dẫy hận thù...
Tham vọng cỗi cằn yêu nước vẫn ngây thơ,
Sống bằng tận cùng chân thật,
Cho hết nhiệt tình,
Bốn mươi năm qua
Tàn cơn mộng mị:
Thời khẩu hiệu xả đầy sân đạo lý,
Có tâm hồn không chết cũng vong thân!

Cho đến một ngày tôi là Thuyền Nhân:
Vượt đại dương trên chiếc ghe nan đan bằng tre thiếu dầu sơn quết,
Trốn quê Mẹ giữa hai đầu sống chết.
Boat people! Nhân loại thốn tâm...

Bao nhiêu cánh hải âu đã gãy.
Bao thân tàn ma dại vượt biên.
Bao thân xác tiêu diêu trong bụng cá,
Dưới đáy biển sâu,
Sóng ngùi chưa lặn,
Người về đâu,
Xương trắng vẫn còn.

Rồi nửa thế kỷ sau,
Cứ tưởng vạn niềm đau đã khép,
Từ quê người nghe tiếng vọng... lao xao:
“Có bao giờ quê hương ta đẹp như thế này đâu!”
Ai đã nói hãy cúi đầu tự hỏi:
“Nước bốn nghìn năm có thời nào đến nỗi,
Quê Mẹ rốn lìa sinh tử ra đi!”

Có bao giờ quê hương ta nghe lời nhắn Trà My,
(Hăm ba, tháng mười, hai không một chín):
“Con xin lỗi bố mẹ nhiều,
Con đường đi nước ngoài không thành.
Con đang chết vì không thở được.”

Ba mươi chín mạng người chết trong thùng xe vì không thở được:
Nhân loại rụng rời tiếng nói Việt Nam!
Chết đau thương như số phận mấy cùi hàng,
Không gian rộng thân phận người khép lại,
Việt Nam ơi... hãy khóc những niềm đau:
Quê hương ta có khi nào bi thảm thế này đâu!

Thuyền Nhân trước nay thành “Thùng Nhân” Việt...
Boat People hoá thành “Load People”.
Xin cầu nguyện cho những linh hồn vừa khuất bóng.
Giải oan khiên nầy thức tỉnh tận lương tri,
Chết là hết, hết hận thù sướng khổ,
Nguyện sớm về yên nghỉ cõi an vi.

                                                Sacto,Cali thu 2019
                                                  Trần Kiêm Đoàn

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2019

TƯỞNG NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn


            
                  Thầy Đỗ Tư Nhơn – tác giả bài viết


             TƯỞNG NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ 
                                                                                        Đỗ Tư Nhơn

Mỗi khi tưởng nhớ những người bạn trân quí một thời dưới mái trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã sớm lìa cõi tạm về chốn vĩnh hằng, lòng tôi không tránh khỏi bồi hồi xúc động. Điều đó khiến tôi tìm lại trong ký ức từng khuôn mặt, dáng hình, mường tượng từng cử chỉ, nụ cười… nhằm phác thảo bức chân dung tinh thần của bằng hữu. Tôi đã thắp nén tâm hương mỗi độ xuân về để thương tiếc các anh Phan Phụng Thạch, Trần Thương Bá, Đặng Sĩ Tịnh, Trần Đình Bé trong từng giai phẩm Hương Quê Nhà (SG) đặc san  Nguyễn Hoàng (Huế). 

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2019

ƠI ÁO TRẮNG NGUYỄN HOÀNG 1970-1975 / Phan Quỳ


                            Tác giả Phan Quỳ


ƠI ÁO TRẮNG NGUYỄN HOÀNG 1970 - 1975

Đã bao ngày tháng im ắng trong tôi, chợt một hôm nao áo trắng quay về, rộn rã mừng vui, e ấp ngại ngần như thời con gái, thời mẹ may cho áo dài để thay đầm mặc đi học. Mẹ bảo nay con đã lớn rồi, mặc áo dài đi thôi. Thuở ấy mình mười ba, ơi ngại ngùng chi lạ. Đã đến giờ vào lớp mà cứ tần ngần mãi không thôi. Hai tà áo cứ vướng víu bước chân. Anh trai nhìn theo cười cười làm mình càng thêm lúng túng...

TRĂNG LU - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy





            TRĂNG LU
                                                                              Ngô Hương Thủy

Xóm Xẻo Lờ. Cái tên khiến những người nhạy cảm dễ đỏ mặt. Nhưng có hề chi. Nó được đặt và quen miệng từ thời cha ông… Nào là xóm Cầu Bà Banh, Cầu Bà Tành, Xẻo trầu, Xẻo Lờ…mộc mạc, giản dị như con nước ngày hai buổi lên xuống, như chuyện trai gái xưa nay, như chuyện của Út Năm và Bé Gái bây giờ.
Hai đứa biết nhau từ hồi còn ở truồng theo mấy ông anh chạy nhong nhong ngoài bờ ruộng hớt cá lia thia. Lớn chút nữa thì chơi trò vợ chồng làm nhà chòi đằng sau mấy đụn rơm. Cho đến khi biết mắc cở trong một lần tắm sông nhìn qua ngực Bé Gái thấy hai cái chũm cau phập phồng… Từ đó là những câu nói trỏng giữa hai đứa “Lấy cái gỗ đựng mấy con cá gô mới bắt đem về cho bà già kho tộ nè” hay “Ăn gau cải không? Non lắm. Tui bứt nghen.”

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2019

ĐỌC THƠ VỀ CHỢ QUÊ QUẢNG TRỊ CỦA VÕ VĂN HOA - Châu Thạch


         
        Nhà thơ Võ Văn Hoa và nhà bình thơ Châu Thạch   


ĐỌC THƠ VỀ CHỢ QUÊ QUẢNG TRỊ CỦA VÕ VĂN HOA
                                                                                      Châu Thạch

Tôi có người bạn văn viết về chợ thật là độc đáo, đó là ký giả Lương Minh với quyển sách “Chợ Tỉnh Chợ Quê” có một không hai giữa thời này. Tôi có người bạn làm bài thơ về chợ cũng tuyệt vời, đó là nhà thơ Lê Đình Hạnh với bài thơ “Kẻ Chợ” mà mỗi lần anh đọc lên thì bạn bè lắng nghe thích thú. Tôi cũng yêu 10 bài thơ viết về chợ của Anh Thơ, một nữ sĩ của thập niên 40 thế kỷ trước. Ngoài ra còn rất nhiều bài thơ về chợ khác xưa nay có thể làm cho ta thú vị.

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2019

NHÓM THẦY GIÁO TRƯỜNG NGUYỄN HOÀNG VÀ HIỀN LƯƠNG NGHĨA THỤC (1972 – 1975) – Lê Hữu Thăng


            
                                 Thầy cô Lê Hữu Thăng


NHÓM THẦY GIÁO TRƯỜNG NGUYỄN HOÀNG VÀ HIỀN LƯƠNG NGHĨA THỤC (1972 – 1975)
                                                                            Lê Hữu Thăng
           
Hiệp định Geneve năm 1954, sông Hiền Lương chia đôi đất nước để một số bà con quận Vĩnh Linh rời bỏ quê hương lánh nạn. Vết thương chưa hàn gắn được, nỗi đau xót chưa nguôi phai rồi mười tám năm sau, năm 1973, hiệp định Paris lại chia đất mẹ Quảng Trị thêm một lần nữa. Sông Thạch Hãn cùng với sông Hiền Lương đi vào những trang sử bi thảm của dân tộc, hòa với những nỗi khổ đau nghiệt ngã của người dân Quảng Trị. Trận chiến mùa hè năm 1972, hơn ba trăm ngàn người dân Quảng Trị phải di tản trong những tình huống vô cùng gian lao, nguy khốn để đến và tạm cư tại Đà Nẵng.
Những căn cứ, doanh trại của quân đội Mỹ ở Đà Nẵng được tổ chức thành 32 Trại tạm cư, chia làm 2 khu vực tả ngạn và hữu ngạn của sông Hàn (khu Non Nước và khu Hòa Khánh). Chỉ một tuần lễ sau, người dân đã có nếp sống tương đối ổn định, phối trí chỗ ở, trợ cấp thực phẩm (mỗi ngày 500g gạo/người), nước uống… chương trình giọt sữa cho trẻ con và bánh mì buổi sáng cho người lớn. Tuy nhiên, còn một vấn đề mà chính quyền chưa giải quyết được: việc học hành cho học sinh.

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2019

GÓP Ý VỀ TRANG ĐỒNG MÔN NGUYỄN HOÀNG DO BẢO LÂM PHỤ TRÁCH - Võ Văn Cẩm


           
             Anh Bảo Lâm phụ trách trang facebook Đồng Môn Nguyễn Hoàng


GÓP Ý VỀ TRANG ĐỒNG MÔN NGUYỄN HOÀNG DO BẢO LÂM PHỤ TRÁCH
                                                                             Võ Văn Cẩm

Từ lâu có một cựu học sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị tâm huyết, đem hết tài năng, trí tuệ thời gian sưu tập nhiều thông tin, bài vở, hình ảnh có giá trị, về một ngôi trường của một tỉnh địa đầu giới tuyến. Anh có ước vọng làm "Kỷ yếu NH" trên trang mạng như một kỷ vật của trường.
Ngôi trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị chỉ tồn tại 25 năm. Một thời gian không dài so với đời người, nhưng ngôi trường ấy đã đào tạo nhiều thế hệ học trò thành đạt, đóng góp nhiều nhân lực cho tỉnh nhà Quảng Trị nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung.

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2019

THƯ GỬI NGƯỜI CHỒNG CŨ - Ngô Hương Thủy


                 
                                   Tác giả Ngô Hương Thủy


                   THƯ GỬI NGƯỜI CHỒNG CŨ
                          (Tự truyện của một cô giáo) 

Mình biết nhau từ thời mới lớn, cùng đi trên một con đường đến trường, chỉ khác lớp. Gặp nhau có cười - cùng xóm mà - nhưng không thân. Tuổi dậy thì có nhiều rung động nhưng không cùng tần số. Bên ni biết bên tê “bồ” ai.

TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG QUẢNG TRỊ

Anh Bảo Lâm tổng hợp các bài đã đăng trong "Kỷ Yếu Nguyễn Hoàng" và trong đặc san "Quảng Trị - Nguyễn Hoàng Ngày Xưa Thân Ái", chuyển đổi thành file word


        
                 
    TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP 
    TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HÒANG QUẢNG TRỊ
                                                              
Vào đầu thập niên 1930, tại tỉnh Quảng Trị, các quận huyện như Gio Linh, Vĩnh Linh, Hải Lăng, Triệu Phong và ngay thị xã đã thành lập các trường tiểu học (Ecole Primaire) dạy chữ quốc ngữ là chính, tiếng Pháp là sinh ngữ kèm theo từ lớp tư, ba, nhì, nhất và đi thi Tiểu học (bằng Primaire). Học hết cấp tiểu học muốn lên trung học (Đệ thất, lục ngũ, tứ) phải vào Huế, hay ra Hà Nội học các ngành chuyên nghiệp. Hết cấp trung học lại phải vào Sài Gòn hay ra Hà Nội học bậc đại học, trường hợp này chỉ các gia đình khá giả cũng chỉ là thiểu số, còn tuyệt đại đa số dân nghèo không đủ sức thì phải ra đời kiếm sống. Tiêu biểu cho thời kỳ này có bác sĩ Phan Văn Hy người Nhan Biều, sinh năm 1890 là thành đạt cao nhất lúc bấy giờ. Một số khác tiến thân vào Huế sau khi đỗ trung học ra làm các nghề về hành chánh tại các cơ quan nhà nước Nam Triều, hay thông ngôn, thầy phán, hay vào Sư phạm đi dạy học như: Lê Đình Khởi, Hoàng Văn Trâm, Phan Quang Đãi, Phạm Tri, Nguyễn Văn Sinh, Nguyễn Văn Triển, Lê Đình Kham, Hồ Ứng Lẫn... (quý thầy thường được gọi kèm “Trợ” chỉ ngạch Trợ giáo). Một số xuất ngoại du học tại Pháp và thành đạt như:

• Bác Sĩ Lê Thị Hoàng, sinh 1910 tại Thạch Hãn, du học từ 1928 đến 1937, Bác Sĩ Y Khoa.
• Kỹ Sư Lê Sĩ Ngạc, sinh 1911, Thạch Hãn, du học từ 1927 đến 1936, kỹ sư kiều lộ.
• Tiến Sĩ Phan Văn Thính, v.v.

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2019

AI ĂN TRỨNG LỘN ! - Đinh Hoa Lư


           
                                      Tác giả Đinh Hoa Lư


               AI ĂN TRỨNG LỘN !

Nói về ăn hàng về đêm, chúng ta hay nhớ về hàng chè gánh như người viết vừa kể. Cũng ban đêm, nhưng có một thứ hàng hay nách một bên thôi, đó là TRỨNG LỘN. Trứng lộn là thứ hàng ăn không nhiều đến nỗi O đi bán phải gánh. Tuy là cái thúng nách một bên hông, nhưng loại hàng ăn này không phải là rẻ tiền, dễ mua.

GÓC NHỎ... - Thơ Quang Tuyết


    
                       Nhà thơ Quang Tuyết


GÓC NHỎ...

Chiều nay mưa vội đi qua
Ướt mềm góc nhỏ hồn ta dịu dàng
Hạt rơi mong giọt nắng vàng
Khẻ rung trong gió tiếng đàn tri âm

Thả duyên se sợi tình câm
Nối sao đẹp khúc giang cầm hư hao
Dư âm xưa bạt phương nao?
Ta về gom hết ngọt ngào, đắng cay

Dấu than lơ lửng vơi, đầy
Dù tình là gió cuốn mây xa mờ
Lần tay gác chuyện, làm thơ
Bên đời se sắt đợi chờ nắng lên

                            Quang Tuyết