BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Chương-Mt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Chương-Mt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

"CHỮ QUỐC NGỮ" ? - Nguyễn Chương Mt


Nhà nguyện, nằm trong khuôn viên Tòa Tổng giám mục TGP Sài Gòn. Đây vốn là ngôi nhà của Đức Thầy Cả (Cha Cả) Bá Đa Lộc, được di dời từ vùng Lăng Cha Cả về đây

/1/ Bấy lâu nay chúng ta vẫn quen cách gọi "CHỮ QUỐC NGỮ" là chữ viết dùng để ghi tiếng Việt bằng hệ thống abc Latin.
Thực ra, thời còn dùng CHỮ NÔM thì thứ chữ này đã được gọi là "CHỮ QUỐC NGỮ" - chữ ghi lại quốc âm trong tiếng Việt, để minh định khác với chữ Hán là thứ chữ ghi tiếng của người ở lân bang phương Bắc!
/2/ Đơn cử, gần hơn, vào gần cuối thế kỷ 18 - năm 1774, Đức Thầy Cả Vê-rô (*) soạn sách giáo lý và in ra bằng CHỮ NÔM, mang tựa "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" ( )
Cách gọi "CHỮ NÔM" hoàn toàn KHÔNG có trong âm Hán-Việt của chữ Hán. "Chữ Nôm" (𡦂 ) , ở đây, được gọi là "Chữ Quốc ngữ" (𡦂 ).

Chú ý:  Ồ, sao CHỮ NÔM vẫn có dòng chữ Hán "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ"?
Trong chữ Hán, CHỈ có âm Hán-Việt, loại bỏ quốc âm của tiếng Việt chúng ta!
Còn CHỮ NÔM: gìn giữ hết thảy quốc âm của tiếng Việt + một số âm Hán-Việt (chữ Hán) được chọn lọc, đã đi vào từ vựng của người Việt.

(*) Hiện nay đã quen với danh xưng "Giám mục", nhưng vào thế kỷ 17, 18 gọi là "ĐỨC THẦY CẢ" (giữ lại cách gọi này để bảo đảm tính chân thực của ngôn ngữ vào từng thời kỳ lịch sử). "Vê-rô", là một cách phiên âm khác, cũng là "Phê-rô" - từ "Pedro".
Có cách CHUYỂN ÂM (không phải phiên âm như "Vê-rô", "Phê-rô") là "Bá Đa Lộc"! Đức Thầy Cả Vê-rô, tức là Đức Thầy Cả (còn gọi "Cha Cả") Bá Đa Lộc.

Cách gọi "Bá Đa Lộc", từ đâu?

Đức Thầy Cả (giám mục) này trước khi đến nước Nam, đã có thời gian dài sống ở Macao. Ở đó, nói tiếng Quảng Đông. Tên thánh của vị này là "Pedro", người Quảng Đông đọc thành /pe-to-lo/, ghi chữ Hán 伯多祿 (ba chữ Hán này, tiếng Quảng Đông đọc /pe-to-lo/).
Âm Hán-Việt của 伯多祿 là "Bá Đa Lộc"! Tên thánh của Đức Thầy Cả (giám mục) là "Bá Đa Lộc" = "Pedro" (Phê-rô).
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

GẶP GỠ TIẾNG MƯỜNG VÀ TIẾNG VIỆT "ĐÀNG TRONG"... - Nguyễn Chương Mt


Trong khung vuông là địa bàn cư trú của người Mường.

/1/ Nhóm của họ, là người Mường ở Thanh Hóa, vô trong Nam sống và làm việc. Một người trong họ thốt lên với vẻ ngạc nhiên, "Ồ, người trong này gọi "mần", sao giống với tiếng Mường vậy!".
Tiếng Việt ngoài châu thổ sông Hồng gọi "làm", người Mường có cách gọi tương tự "là" (nghĩa là "làm"). Và người Mường còn có cách gọi khác nữa là "MẦN". Ở châu thổ sông Hồng người ngoài đó không gọi "mần", nhưng ở miền duyên hải như xứ Nẫu, miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long nhiều người Việt gọi "MẦN"!
Tiếng Mường gọi "MỀN", tiếng Việt châu thổ sông Hồng gọi "chăn". Đâu ngờ, tiếng Việt trong này lại gọi là "MỀN".
Người Việt trong Nam gọi "ƯA", người Mường cũng gọi "ƯA", trong khi tiếng Việt châu thổ sông Hồng không gọi vậy mà thường gọi là "Thích".
Tiếng Mường gọi "Bợi cơm", tiếng Việt trong Nam gọi "BỚI cơm", trong khi ngoài sông Hồng gọi "xới cơm".
... Chỉ đơn cử một chút "phát hiện" như vậy, nằm trong hành trình khám phá ngược dòng về ngôn ngữ - gọi là "VIETIC", trong đó có "proto-Vietic" (tiếng Việt nguyên thủy), "ngữ chi Việt - Mường".
=> Duyên cớ nào - trong lịch sử - đã nối liền thành "VỆT" tiếng Việt ở miền châu thổ Cửu Long với duyên hải xứ Nẩu, xứ Quảng, với tiếng Mường (nằm trong "proto-Vietic") ở Thanh Hóa...?

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

TỪ "GIO" KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG CÁC TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM, CHỮ HÁN, TỰ ĐIỂN CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN! VẬY, "GIO" TỪ ĐÂU? - Nguyễn Chương Mt



* "Gio" (chẳng hạn, trong "Gio Linh") là một hiện tượng ngôn ngữ quái lạ lắm đa!

/1/ Những chữ như "gió", "giỏ", "giò" thuộc về quốc âm tiếng Việt, được ghi trong CHỮ NÔM. Nhưng, "gio" thì không thấy.
Kể cả biến âm từ ngôn ngữ khác thì chữ Nôm cũng ghi lại. Như "Mỹ Tho", "Cần Thơ", "Sóc Trăng" (biến âm từ tiếng Khmer), "Phan Rang", "Nha Trang" (biến âm từ tiếng Chàm) đều được ghi lại bằng chữ Nôm. Muốn hiểu nghĩa thì tra cứu nguyên ngữ tiếng Khmer, tiếng Chàm thì biết.
(mấy chữ trên đây, sách vở đều đã giải thích nghĩa gốc rồi)
Tỉ như "gio" thuộc về biến âm đi nữa, nhưng cũng không thấy ghi lại trong chữ Nôm!

/2/ Chữ Hán thì hoàn toàn KHÔNG có âm HV nào đọc là "Gio", mà chỉ có âm HV đọc "Do". Như trong Đại Nam nhất thống chí, viết bằng chữ Hán, ghi tên địa danh 由靈, âm HV là "Do Linh" - "Do", không "Gio"!

/3/ Còn tự điển chữ Quốc ngữ ĐẦU TIÊN là Tự điển Việt - Bồ - La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của giáo sĩ Đắc Lộ (Alenxander Rhodius, tiếng Pháp là Alexandre de Rhodes), xuất bản giữa thế kỷ 17 (năm 1651): hoàn toàn không có mục từ nào ghi “GIO” hết!

/4/ Hiện nay chúng ta viết bằng chữ Quốc ngữ abc, quí bạn gõ "g-i-o" thành "gio" dễ ợt; nhưng "gio" nghĩa gì thì không biết.
Hoặc "gio", rồi "Gio Linh"... có thể là biến âm từ ngôn ngữ khác, vậy từ ngôn ngữ nào để tìm hiểu nghĩa gốc (cũng "quái", cho dù biến âm thì chữ Nôm thông thường vẫn ghi lại, lưu lại kia mà! - như dẫn chứng /1/).

/5/ Ít nhứt là từ giữa thế kỷ 17, ký ức về chữ "GIO" đã bay đâu mất tiêu rồi (thành thử cuốn tự điển Việt -Bồ - La, chữ Quốc ngữ bấy giờ không ghi "Gio")!
Chữ Hán thì chắc chắn không có âm HV "gio".
Còn chữ Nôm, từ thế kỷ 17 trở ngược TRƯỚC ĐÓ, có ký tự nào được dùng để ghi và đọc là "gio" không?
Quí bạn nào biết, XIN GIÚP CHO BIẾT ký tự Nôm đó viết ra sao (cho biết nguồn mà ký tự đó được lưu lại).

* Sẵn trớn, nói nhanh: có người cho rằng "tro" đọc thành "gio", ồ, đó là cách phát âm của một số nơi ngoài Bắc, trong khi ở đây "Gio" (Gio Linh) là phát âm của người Quảng Trị (không đọc "tro" thành "gio"); mặt khác, kể cả người ngoài bắc phát âm "tro" thành "gio", tự điển chỉ ghi "Tro", không có "gio".

TẠM THAY LỜI KẾT

Vì chưa dám, chưa thể kết luận, nên "tạm thay lời kết".
Sự "biến mất" rất có thể liên quan đến việc "trục xuất" ngôn ngữ cách nào đó - chỉ thấy xuất hiện "gio" trở lại trong CHỮ QUỐC NGỮ mãi về sau này, nhưng do bị "cắt đứt", "trục xuất" nên không còn hiểu cho tỏ tường "gio" từ đâu ra, và ý nghĩa (chẳng hạn nghĩa của "Gio Linh" từ nguyên ngữ gốc).
Không chỉ "Gio", mà còn một số từ ngữ khác nữa cũng bị "đứt mạch" nên hiện nay nói mà không còn rõ nghĩa.
Soi tỏ, "tìm về dấu xưa", cũng là TÌM VỀ những biến động ẨN KHUẤT trong LỊCH SỬ ...
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2025

CHỮ NGHĨA “NỆ HÁN” ĐÃ LÀM SAI LỆCH TIẾNG VIỆT KHÔNG THỂ TƯỞNG! - Matthew NChuong


Hình ảnh trong Chùa Đất Sét (Sóc Trăng), theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (Phật Thầy Tây An), CÚNG DƯỜNG bằng thư pháp.

* Âm Hán-Việt chỉ là một phần trong tiếng Việt, và khi gọi "nệ Hán" nghĩa là lấy cách dùng chữ của người Hán làm "chuẩn" úp chụp xuống cách dùng TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI VIỆT!
* Hai chữ “CÚNG DƯỜNG” bị giải thích méo mó, sai trật tinh yếu của đạo Phật …!

&1&

1a) Để gìn giữ nền tảng của tiếng Việt, trong nhiều thế kỉ ròng rã, tiền nhơn chúng ta đã phải mượn chữ Hán để tạo chữ NÔM (không mượn, biết lấy thứ chữ gì để ghi lại TIẾNG NÓI của người Việt?).
Chữ Nôm thành hình bằng nhiều cách: ghép hai chữ Hán lại với nhau thành một chữ (khiến cho người Hán, và những ai “nệ Hán” chỉ riu ríu dùng Hán mà thôi, nhìn vô là bù trất!);
mượn nguyên dạng chữ Hán, NHƯNG:
- tuy đồng âm (mượn âm Hán-Việt HV mà đọc), NGHĨA THÌ KHÁC HOÀN TOÀN.
- hoặc đồng nghĩa, nhưng “dị âm” (tức ĐỌC BẰNG QUỐC ÂM, khác với âm HV).
- đặc biệt, xin chú ý, là cách thức ĐỌC BẰNG QUỐC ÂM (“dị âm”) và NGHĨA CŨNG KHÁC (“dị nghĩa”) so với chữ Hán.

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2025

GẦN 7 THẾ KỶ TRUNG HOA BỊ CÁC "TIỂU QUỐC" CHIẾM LĨNH, CAI TRỊ ! - Matthew NChuong


Hình ảnh (MONGOL (Mông Cổ) xâm chiếm Trung Hoa

Ghi chú lai rai…

* Các "tiểu quốc" có dân số ít hơn hẳn, nhưng họ tấn công và đều chiến thắng, cai trị Trung Hoa. Khi nào thì "tiểu quốc" mới thua? Khi và chỉ khi giới cầm quyền "tiểu quốc" tự quì mọp mà thôi!

/1/ Sắc tộc du mục Khitai (tiếng Ba Tư: ختن‎; phiên qua chữ Hán là 契丹: Khiết Đan) cư trú ở vùng Bắc Á, Trung Á. Họ tấn công nhà Tống của Trung Hoa, chiếm kinh đô Bắc Kinh và toàn bộ phía Bắc Trung Hoa, đẩy nhà Tống xuống phía Nam (sử gọi là "nhà Nam Tống").
Người Khitai (Khiết Đan) lập ra "Khiết Đan quốc" ((契丹國), còn gọi là nhà Liêu ( ). Cho dù là "ngoại tộc" ít hơn người Hán, nhưng họ buộc "đại quốc" Trung Hoa (Nam Tống) hàng năm phải triều cống cho họ.

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2025

"RA NHẬP", "THĂM QUAN", TỪ DÙNG NGỘ NGHĨNH !!! - Nguyễn Chương Mt



* "THĂM QUAN"?
 
/1/ Nghe mắc cười lắm, không biết nảy nòi từ lúc nào, nhiều cán bộ đoàn thể rồi...một số anh em làm ngành du lịch nói "thăm quan" (!).
Quí bạn biết không, trong tiếng Việt trước đây, bây giờ vẫn còn nghe, ta nói "thăm Sở Thú", "thăm viện bảo tàng" hoặc "viếng thăm Sở Thú", "viếng thăm viện bảo tàng", hoặc "đi xem Sở Thú", "xem viện bảo tàng".
Tiếng Việt mình giản dị, mà cũng hay hết sức. Nói "thăm" (cái chữ này là Nam âm, thuần Việt, ghi bằng chữ Nôm 𠶀 - không có trong Hán tự) mang rộng nghĩa, trong đó có nghĩa tương đồng là "tham quan" (đây là âm Hán-Việt, ghi bằng chữ Hán 參觀).
[ "THAM" , nghĩa là xem xét; còn "quan" nghĩa là ngắm nhìn ]
Nảy nòi lối nói "thăm quan" là thừa chữ "quan"! Ngay tại Hà Nội mà chữ nghĩa lổn ngổn quá sức!
 

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2025

HÃY GỌI THÁP CHÀM, NGƯỜI CHÀM! - Nguyễn Chương Mt



* Cách gọi "Chăm", chú ý, chỉ mới xuất hiện ... "qui định" từ 1979 trở lại đây mà thôi. Trong khi "CHÀM" đã là cách gọi của người Việt suốt VÀI TRĂM NĂM và người CHAM cũng chấp nhận cách gọi "CHÀM" từ người Việt, đã lâu rồi!

* Rất thú vị, hiện nay vẫn đang định vị với tên gọi "Thành phố Phan Rang - Tháp CHÀM" (không gọi "Chăm") thuộc tỉnh Ninh Thuận.

1.
Có một số người cho rằng nói "CHÀM" là không phải phép, là miệt thị (?!). Nhà nghiên cứu Inrasara lên tiếng (trong bài "Chăm hay CHÀM đúng?"):

"Người viết bài này (Inrasara) năm 1994 vẫn có một tiểu luận đăng trên tạp chí Văn học: “Ca dao - dân ca, tiếng nói trữ tình của dân tộc CHÀM” hay có bài thơ có tên là “Apsara, vũ nữ CHÀM” (Tháp nắng, 1996). Tôi phân biệt đối xử với chính tôi à?".

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2025

BÔNG, HOA, HUÊ... - Nguyễn Chương Mt


Hình ảnh: Bông rau muống biển

* Về miền Tây mà nghe câu "Chờ anh, em hết sức chờ. Chờ cho ến xại lên bờ khui huê" (*), nghe ngồ ngộ hết biết.

Coi, "ến xại" là gì? Đây là tiếng Tiều (Triều Châu), họ đọc như rứa cho hai chữ (âm Hán-Việt "ủng thái"), nghĩa là rau muống!
Còn "khui huê", cũng tiếng Tiều, viết (âm Hán-Việt "khai hoa"), nghĩa là trổ bông!
 
/1/ "BÔNG" không phải là "phương ngữ" miền châu thổ Cửu Long đâu, mà cách gọi này thuộc Nam âm (quốc âm), là tiếng thuần Việt của chúng ta!
Thi hào Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều: "Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm BÔNG".
Trong tiếng Mường, còn goi là "proto Vietic" (tiếng Việt nguyên thủy), gọi "Pông".
Xứ Thanh, xứ Nghệ - xin chú ý- cũng gọi "Bông".
Nhiều tỉnh miền duyên hải vẫn giữ cách gọi "Bông".
Miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long, bà con gọi "Bông", dễ mến gì đâu!
Vì là Nam âm (quốc âm) nên ghi bằng chữ Nôm , đọc là "BÔNG".
* Cùng nghĩa với BÔNG, trong chữ Hán ghi là   - "hoa" (âm Hán-Việt), "huê" (tiếng Tiều), "huā" (tiếng Hán Bắc Kinh).