BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2026

GIẾNG XƯA – Thơ Đặng Xuân Xuyến


   

(Viết tặng chị Trịnh Thị Nhâm)
 
Giếng xưa trơ đáy cả rồi
Chị còn thơ thẩn đứng ngồi với xưa
Chị nào hờn trách nắng mưa
Chỉ là trăng khuyết như vừa vặn đây.
 
Một đời sương gió hao gầy
Chị ngồi gọi nhớ cho đầy giếng xưa
Vọng từ xa tiếng đò đưa
Chị đan giọt nắng vào trưa tháng Mười.
 
Ai về cho gửi tiếng cười
Gửi theo giọt nắng rạng ngời ngõ xưa
Mà nghe tiếng vọng nhặt thưa
Chị mời gáo nước giữa trưa tháng Mười.
 
              Hà Nội, sáng 30 tháng 10/2026
                   ĐẶNG XUÂN XUYẾN

THU HÀ NỘI 2026 - Thơ Nguyễn Khôi


 
      
“Hà Nội mùa thu “ chẳng có thu ,
Nắng nóng, bụi toang tỏa sương mù .
Lớp lớp Cao tầng ngoi lên thở,
Còn khoảnh trời nào để cho Thơ ?

                    Nguyễn Khôi
        (Hà Nội , 31/10/2026- 33oC)

LÀM BÁO VĂN NGHỆ (KỲ 3) - Hồi ký Nguyên Ngọc (trích)

                                                                           Tòa soạn báo Văn Nghệ

Lê Ngọc Trà mở đầu bài viết của mình nhẹ nhàng, thận trọng, nhưng liền đó cũng tỏ ngay ý muốn bàn lại chuyện này một lần cho rành rõ. Anh viết: “Mấy chục năm qua đất nước chúng ta sống chủ yếu bằng đời sống chính trị. Cách mạng, chiến tranh, các sự kiện chính trị, sinh hoạt chính trị đi vào cuộc sống hằng ngày. Mọi thứ đều được đo bằng chính trị… Do tầm quan trọng của nó, vấn đề chính trị và văn nghệ trở nên một đề tài có cái gì như là hơi “thiêng”, và vì vậy ít người dám bàn hoặc giả có bàn thì cũng chỉ nói một cách kính cẩn. Mà trong khoa học đã cung kính như thế thì khó có thể có ý kiến gì cho mới mẻ, sáng tạo…”. Tức anh bảo ta nên thử giải “thiêng” mà nói chyện này một cách trần tục hơn, tức thật hơn, đời hơn, xem sao. Và anh nói thẳng: “Chính trị là cái cốt yếu quan trọng của xã hội, nhưng cuộc đời rộng hơn chính trị…”.
Mà văn học thi nói về cuộc đời, nên nó rộng hơn chính trị. Rộng hơn và lâu dài hơn.

XUÂN PHÂN, HẠ CHÍ, THU PHÂN VÀ ĐÔNG CHÍ - Bài viết của Thi Lê



Chiều nay mấy cậu học sinh cũ của tôi ngồi nhậu cãi nhau chuyện thiên văn. Có em gọi điện cầu cứu: "Thầy ơi vì răng ngày giữa mùa Xuân, mùa Thu thì gọi là Phân (Xuân phân,, Thu phân) mà ngày giữa mùa Hạ và mùa Đông thì lại gọi là ngày Chí (Hạ chí, Đông chí). Thầy đăng lên fb lời giải thích (ngắn gọn) chứ bọn em chừ "líu lưỡi" cả rồi. Nghe qua điện thoại không nhớ để cãi". Xin trả lời mấy ông "đệ tử" của Lưu Linh thân yêu.

NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ - Kim Khánh (theo Fb Phannguyên Psg



Doãn Quốc Sỹ sinh năm 1923. Cha ông là Doãn Hưu, một nhà nho và người em trai của ông là Doãn Nho (Doãn Nho là nhạc sĩ, Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, tác giả của các bài hát Tiến bước dưới quân kỳ, Người con gái sông La, Năm anh em trên một chiếc xe tăng, Chiếc khăn Piêu...)
Năm 1946, Doãn Quốc Sĩ lập gia đình với con gái nhà thơ Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) là bà Hồ Thị Thảo. Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào Nam.
Ông dạy học, là giáo sư trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn, Đại học Văn Khoa Sài Gòn và viết văn, làm thơ. Ông du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và rồi trở về nước tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975.

PHẠM HUỲNH TAM LANG: HUYỀN THOẠI KHIẾN CẢ BÓNG ĐÁ VIỆT NAM NGẢ MŨ - Theo iThethao TV



Hơn nửa thế kỷ qua, bóng đá Việt Nam đã chứng kiến biết bao tài năng xuất chúng, những con người góp công đưa nền bóng đá nước nhà từng bước khẳng định vị thế. Nhưng giữa rất nhiều huyền thoại ấy, Phạm Huỳnh Tam Lang luôn chiếm một vị trí đặc biệt. Ông không chỉ là một trung vệ xuất sắc, một nhà cầm quân tài ba mà còn là hình mẫu hiếm có về nhân cách, sự khiêm nhường và tinh thần trách nhiệm. Với đồng nghiệp, ông là người đáng kính. Với các thế hệ cầu thủ, ông là người thầy tận tụy. Còn với người hâm mộ, ông là biểu tượng của một thời bóng đá đẹp, nơi tài năng luôn song hành cùng đạo đức và sự tử tế. Khi ông qua đời ngày 2/6/2014, bóng đá Việt Nam mất đi một cây đại thụ, nhưng những giá trị ông để lại vẫn còn nguyên vẹn trong lòng những người yêu môn thể thao vua.

BÓNG QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng


   

Bóng  Quê
 
1.
Bao năm người mới quay về
Tìm làng xóm cũ, tình quê ngập lòng…
Đò ngang rời bến rạng đông
Nắng vàng soi bóng xuống dòng sông sâu
Trời xanh, xanh thẳm một màu
Bãi ngô tươi lá, ruộng dâu xanh trời
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi ngọt lành
Con đường nhỏ, lũy tre xanh
Ngã nghiêng bóng nắng, chòng chành tỉnh say
Đồng vàng thẳng cánh cò bay
Em tôi gánh lúa, gánh đầy ước mơ
Cánh diều bay bổng vào thơ
Cánh cò cõng nắng đơn sơ một mình
Nắng qua kẽ lá lung linh
Rơi trên áo tím chung tình tươi xinh…
 
2.
Bâng khuâng đồng vắng một mình
Hình như lòng đã say tình chơi vơi
Người về giờ đã cuối đời
Bên sông rụng tím một trời hoa Mua…
Quê hương mưa nắng hai mùa
Mẹ già gánh cả nắng mưa vơi đầy
Áo tơi, nón lá, vai gầy
Lo toan cơm áo những ngày… xa xưa
Mẹ đi cùng nắng, cùng mưa
Tảo tần, vất vả sớm trưa lưng còng
Một đời ngô lúa nghề nông
Mồ hôi đổ xuống cánh đồng vàng tươi…
Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng mẹ trong tôi nhớ hoài
Nợ Người chữ Hiếu không phai
Một bông hồng trắng… con cài Vu Lan…
  
                    Nha Trang, tháng  10. 2026 
                             Lê Kim Thượng

VÀI CHUYỆN BÌNH THƠ VĂN – Bài viết của Đặng Xuân Xuyến



Tôi nhớ có lần gặp bài nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Hữu Quyền bình thơ của ông trên trang facebook cá nhân. Tôi đọc rất thích nhưng lúc đó có việc gấp, vội quá tôi không kịp lưu lại để đọc thêm nên cứ tiếc mãi. Xưa nay, thường là người này bình thơ cho người kia, người kia bình thơ cho người kia nữa chứ trường hợp tự bình thơ của mình như nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Hữu Quyền thì (hình như) thật hiếm. Người ngoài nhìn vào có thể sẽ băn khoăn, e ngại chuyện “tự hát tự khen” nhưng đã đọc bài ông tự bình thơ của mình tôi lại rất thích vì hiểu được ý đồ và những nỗi niềm ẩn trong con chữ mà nếu không có gợi mở từ ông thì người đọc khó giải mã chính xác. Đọc ông viết, tôi không thấy những câu phân tích khô khan về niêm luật, về ý tứ mà như thấy tác giả đang tự mổ xẻ chính mình, như nghe được, cảm được cái run rẩy rất thật của người làm ra những câu chữ đó. Tôi nghĩ, khi chính tác giả tự bình thơ của mình, sẽ có những ưu điểm mà không một nhà phê bình nào làm được:

CHÙM THƠ TỨ TUYỆT THÁNG 11 – 2026 CỦA NGUYỄN KHÔI


  
 

1/ XÓM QUÊ
Những dãy nhà xây vắng bóng người,
bỏ Quê lên Phố sống cả rồi.
Trai gái phương trời nơi Xuất Khẩu,
Đình chùa rêu phủ Bướm dong chơi.
 
2/ TRÚC XINH
Trúc xinh trúc đứng một mình
Trúc đi Xuất khẩu để Đình trơ vơ
Lối ao nào có ai chờ
Hoa xoan tím rụng chẳng hờ dấu chân.
 
3/ GIẾNG XƯA
Giếng xưa soi bóng ta mình
Ao xưa tắm lội lung linh trăng thề
Bao năm về lại thăm quê
Chẳng đâu còn giếng nằm kề bên ao.
 
4/ El NINO
Bằng lăng, Phượng nở trái mùa
Cuối thu nắng nóng hóng chờ sang đông
Ngày xưa sợ Nắng miền Trung
Nay thì đội nắng Hồ Gươm vỡ đầu.
 
5/ HIỆU ỨNG MATTHEW
Người ta tranh chấp Mỏ dầu
Đạn bom tên lửa vỡ bầu trời yên
Người giầu thì lại giầu thêm
Để cho điên đảo Dân đen mơ giầu.
 
                        Hà Nội, 2-11-2026
                            Nguyễn Khôi

MỘT PHẦN BẢN TỰ KIỂM ĐIỂM CỦA "NHÀ TRIẾT HỌC DUY NHẤT NGƯỜI VIỆT" TRẦN ĐỨC THẢO – Theo Face book Duong Thang


Triết gia Trần Đức Thảo

Ông phải bị áp lực như thế nào mới viết ra bản tự kiểm thảo theo mẫu như thế này!
Trước ông, và sau ông cho đến nay, xứ Việt ta chưa xuất hiện nhà triết học thứ hai!
Cuối đời ông được sang Pháp danh nghĩa dưỡng bệnh và chết tại Paris trong nỗi cô đơn và bệnh tật!
 Ông đúng là một người
OANH - LIỆT.
Mà đoạn bị "liệt" quá dài!

CHỮ HÁN, ÂM ĐỌC HÁN VIỆT – Theo Tri Thư Đạt Lễ



Trong tiến trình tiếp xúc văn hoá, nhiều yếu tố ngôn ngữ, đặc biệt là từ vựng tiếng Hán đã du nhập vào tiếng Việt. Những yếu tố vay mượn này được người Việt tiếp nhận, biến đổi và đồng hóa, qua thời gian dần hình thành nên hệ thống lớp từ có số lượng lớn là từ Hán Việt, được sử dụng rộng rãi và ổn định trong tiếng Việt hiện nay.
Có thể nói từ Hán Việt và từ vựng tiếng Hán hiện đại vẫn duy trì mối quan hệ họ hàng gần gũi, do cùng bắt nguồn từ một gốc chung trong lịch sử tiếng Hán. Song do sự khác biệt về lịch sử, văn hóa và lối tư duy của hai dân tộc qua thời gian nên giữa tiếng Hán, âm Hán Việt và từ Hán Việt tồn tại những khác biệt quan trọng. Cần phân biệt chúng như sau: