BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

CỔ VŨ 鼓舞 - Theo Nguồn Gốc Của Từ



Cổ vũ, chữ Hán viết là 鼓舞, trong đó:
– Cổ, danh từ là cái trống, động từ là đánh trống, như đồng cổ (銅鼓) là trống đồng, canh cổ (更鼓) là trống canh, trống báo hiệu từng canh trong đêm (xưa một đêm được chia làm năm canh), cổ xuý (鼓吹) là đánh trống và thổi sáo, ý nói hô hào vận động ai đó làm gì, hiện nay thường theo hướng tiêu cực.
– Vũ là múa, như vũ kiếm (舞劍) là múa gươm, khiêu vũ (跳舞) là nhảy múa, vũ hội (舞會) là tiệc nhảy múa. Chữ này có nhiều trường hợp đồng âm mà ta cần lưu ý như “vũ – ” nghĩa là khinh nhờn, coi thường trong vũ nhục (侮辱), “vũ – ” chỉ khoảng không gian như trong vũ trụ (宇宙), “vũ – ” chỉ sức mạnh, uy lực trong vũ khí (武器), “vũ – ” chỉ lông chim trong lông vũ, “vũ – ” nghĩa là mưa trong hô phong hoán vũ (呼風喚雨).

Cổ vũ là đánh trống và nhảy múa, ý nói khuyến khích, thôi thúc ai đó làm điều gì đó, làm cho ai đó phấn chấn lên. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng “vừa đánh trống vừa múa” kèm theo nghĩa bóng là “vui vẻ khuyên người ta làm”.

Bài Bắc Trấn hỷ vũ (Mừng mưa ở Bắc Trấn) của Lê Quý Đôn có câu:

Tỉnh khước cần lao tranh cổ vũ,
Hưởng tư phong túc cộng bình khang.

省却勤勞爭鼓舞,
享茲豐足共平康。

Tạm dịch:

Vơi hẳn nhọc, đua nhau cổ vũ,
Được mùa này, tất cả an vui.
 
                                                                 Theo Nguồn Gốc Của Từ

12 KHÚC ĐỘC VẬN TRƯỜNG THIÊN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến


   


TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
 
Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằm
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
 
Tôi nhớ, người ta một cuối năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
 
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.
 
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...
 
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
 
 
VỀ THĂM HÀ NỘI
- viết tặng Nguyễn Minh-
 
Tôi xa Hà Nội, xa Hà Nội
Mới đó thôi mà bấy năm trôi
Bạn cũ gặp nhau nhìn rất vội
Nụ cười te tẻ hé trên môi.
 
Ờ gió heo may đã mỏng rồi
Mây chiều cũng ít bảng lảng trôi
Giờ còn ai đợi canh chừng tối
Dụ một tiếng reo thả chỗ ngồi?!
 
Tôi lặng nghe lòng chất vấn tôi
Người ta giờ đã khác xưa rồi
Thời gian thì cứ trôi vồi vội
Tôi lại giam mình góc xa xôi.
 
Tôi biết nhưng mà biết vậy thôi
Chuyện xưa còn giữ được mấy hồi
Tôi về Hà Nội thăm Hà Nội
Mua chút niềm riêng ngủ quên rồi...
 
Hà Nội, ngày 9 tháng 2-2025
 
 
TÔI BIẾT
 
Tôi biết người ta cố quên tôi
Ước thề chỉ để thoảng đầu môi
Gặp tôi người cứ ne né vội
Như sợ chạnh buồn phía xa xôi
 
Tôi đã dằn lòng phải thế thôi
Người ta giờ đã khác xa rồi
Chữ tình khéo bẻ thành trăm lối
Dụ khách say tình, lén chuốc vôi.
 
Tôi sẽ về thăm lại lần thôi
Để nghe gió lạnh thốc mé hồi
Để xem u uẩn chiều loang lối
Để ngó mây trời lững lững trôi.
 
Hà Nội, ngày 06 tháng 03-2024
 
 
EM RỦ RỈ RẰNG...
 
Em rủ rỉ rằng chỉ hôm nay
Gom mây nhột gió để nhốt ngày
Chả cần vịn đến lời bỏng cháy
Mà ánh trăng cuồng líu ríu say.
 
Em lại thì thầm chỉ đêm nay
Vãi trăng rắc sáng trải làm ngày
Cuộn gió làm mồi nhen lửa cháy
Cho khối kẻ khờ ngất ngư say.
 
Em lại... Ừ thì, ta đêm nay
Kê nắng làm đêm gió làm ngày
Vì em ta nguyện làm mồi cháy
Đốt cạn đêm cuồng líu qíu say!
 
Hà Nội, đêm 23 tháng 10/2023
 
 
CẠN LÒNG
- viết tặng 1 người -
 
Ta trở về làng buổi chớm Đông
Đường xưa nhạt nắng vẹt gió đồng
Gió chiều xưa đấy sao mà lộng
Mướt cả triền đê, mướt cả sông.
 
Ta ngẩn ngơ lòng đến bến đông
Hỏi dò từ đấy có về không?
Chín năm, ờ nhỉ, bao biến động
Người ấy giờ sao chửa lấy chồng?!
 
Ta lặng lẽ tìm giữa thinh khôn
Ngược nắng mưa xưa ngược gió đồng
Chợt hiểu lòng người sâu hơn rộng
Nửa đời ngờ nghệch sắc sắc không.
 
Ta đành tạ lỗi với hư không
Tạo hóa trớ trêu nợ vợ chồng
Người ấy vì yêu mà sầu mộn
Vét cạn tơ lòng đốt cháy sông.
 
Hà Nội, 08:08 ngày 23/07/2023
 
 
GỬI ĐÊM
 
Em lại ra ngồi ngóng đợi ai
Để se sợi nhớ thắt thêm dài
Để dìu ánh mắt thêm hoang hoải
Để ríu cười buồn thêm mắt ai
 
Em lại ra ngồi ngóng đợi ai
Để líu ríu đêm tiếng thở dài
Để ngân ngấn lệ đêm trống trải
Để nhói đêm dài một dáng ai!
 
Hà Nội, 09:30 ngày 19/04/2023
 
 
THÌ ĐÃ NHỦ RẰNG...
 
Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu
Mà tin to nhỏ những mỹ miều
Mà nhìn đăm đắm mùi hàng hiệu
Mà tín ai kia bởi dáng kiều
 
Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu
Mà than gió lạnh ngả ngớn chiều
Mà vin nắng nhạt chao ôi điệu
Mà vịn mây buồn lững lững phiêu.
 
Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu
Mà sao khóe mắt lệ cứ nhiều
Mà sao thổn thức từng ngữ điệu
Mà dáng đổ dài bóng xiêu xiêu. 
Làng Đá, 03 giờ 35 - 09/04/2023

MIÊN MAN 綿蠻 - Theo Tri thư đạt lễ 知書達禮

Thật ra Miên man, chữ Hán viết 綿蠻, vốn không phải từ láy như chúng ta hay nghĩ mà là một từ Hán Việt đẳng lập.
 
                                             Hình ảnh: Miên man, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt ngày nay, Miên man thường được hiểu là cái gì đó kéo dài vô bờ bến. Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), Miên man nghĩa là “hết cái này sang cái khác, tiếp liền theo nhau không dứt”. Ví như người ta hay nói “suy nghĩ miên man”, “nỗi buồn miên man”, “tiếng hát miên man”,…

GIAI ĐIỆU LÊ UYÊN PHƯƠNG: BÍ MẬT CỦA “NỖI BUỒN TRONG CUNG TRƯỞNG” - Bài viết của Ngu Yên



Phần lớn người yêu nhạc Lê Uyên Phương đến với ông qua cảm xúc: cái nồng nàn, cái khắc khoải, cái buồn da diết. Ít ai dừng lại để hỏi: bằng những thủ pháp âm nhạc nào mà ông tạo ra được hiệu ứng ấy? Nhưng chính khi đặt câu hỏi này, ta mới chạm tới một trong những bí mật thú vị nhất của hiện tượng Lê Uyên Phương, một bí mật mà ngay cả những nhạc sĩ bậc thầy đương thời cũng phải dừng lại suy sâu.
 

HIỂU NGUYỆT 曉月 - Bài viết của Khánh Ly



Hiểu nguyệt, chữ Hán viết, nghĩa là vầng trăng lúc rạng đông.
Hiểu là trời hửng sáng sau một đêm dài. Sách Thuyết văn giải tự giảng: Hiểu là sáng sủa. Chữ này còn phái sinh những nét nghĩa khác như biết rõ, hiểu rõ hoặc làm cho người khác hiểu mà thường gặp trong các từ am hiểu, hiểu ngộ, hiểu dụ,...
Nguyệt là mặt trăng. Những từ quen thuộc trong tiếng Việt như nhật nguyệt, nguyệt quang, nguyệt sắc, nguyệt dạ, nguyệt thực, tuế nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Nguyệt này.

“CÒN ĐÂU CÁNH BƯỚM ?”, TƯỞNG NHỚ NGHỆ SĨ NGÂM THƠ HỒ ĐIỆP – Bái viết của Trịnh Anh Khôi



Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu (Có tài liệu ghi là Nguyễn Thị Tý) sinh năm 1930 tại Sơn Tây. Bà vào Nam năm 1954. Thi sĩ Đinh Hùng đã phát hiện ra tài năng ngâm thơ thiên phú của bà nên đặt cho nghệ danh Hồ Điệp.
Có thể giải thích cái tên được hàng triệu người yêu mến này: Hồ Điệp nghĩa là Cánh Bướm, ý rằng giọng ngâm của bà nhẹ nhàng, mỏng manh, nhưng lại nhiều mầu sắc như những cánh bướm.
 

PHỐ CHIỀU HÀ NỘI – Thơ Đặng Xuân Xuyến


   


Về phố Thái Hà thật là phiêu
Chợ cóc lùi xa, gió mượt nhiề
Và kìa phố nhỏ Trần Quang Diệu
Hè thoáng, vườn hoa trổ sắc yêu.
 
Tôi lạc bước vào Trương Hán Siêu
Phố nay lột xác dáng yêu kiều
Sờ-pa cao cấp, thời trang hiệu
Nhịp sống phồn hoa quá mỹ miều.
 
Ồ, phố Hoàng Cầu đã “xuất chiêu”
Đường sắt trên cao check-in chiều
Quảng trường hồ nước lung linh chiếu
Gom cả hoàng hôn gửi dáng Kiều.
 
Tôi ngẩn ngơ tìm phố Yết Kiêu
Nơi "Tiến quân ca" cuộn thủy triều
Nơi Bùi Xuân Phái khơi huyền diệu
Nơi khúc tâm tư lắng một chiều
 
Tôi rảo bước về một quãng yêu
Hàng cây cổ thụ phủ bóng chiều
Tôi mang cầm cố phố Bà Triệu
Nhặt chút hương thầm giữa lối yêu..
 
Hà Nội, chiều 16 tháng 06-2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

CÁT BỤI – Thơ Lê Kim Thượng


   

 
Cát bụi
 
1.
Xa quê xứ lạ dung thân
Trong lòng vẫn mãi bâng khuâng trông chờ…
Quê nhà đẹp tựa bài thơ
Sông dài nối những bến bờ chiêm bao
Chiều buông vạt nắng hanh hao
Gió đùa sóng lúa dạt dào mông mênh
Cánh diều no gió thênh thênh
Trời xanh xanh thẳm bồng bềnh mây trôi
Gió lùa mây xuống góc trời
Ráng chiều sắc đỏ chơi vơi dạt dào
Nắng chiều rũ bóng xanh xao
Xô nghiêng chiều tím ngã vào hoàng hôn…
Những ngày chớp biển mưa nguồn
 
Võng đưa kẽo kẹt, tiếng buồn ru con
Lời ru tha thiết héo hon
“Cái cò lặn lội… nỉ non…” chung tình…
 
2.
Một mình thì vẫn một mình
Cô đơn một bóng, một hình đơn côi…
Quê nhà xa cách phương trời
Chôn nhau, cát rốn là nơi thiếu thời
Gom từng chiếc lá vàng rơi
Đếm từng nỗi nhớ đầy vơi thắm đằm
Người đi, đi mãi biệt tăm
Quê nhà là tiếng gọi thầm mà đau
Chỉ là cát bụi mai sau
Cuối đời chỉ thấy một màu thê lương
Nhân sinh mộng ảo vô thường
Trầm luân một kiếp vấn vương làm gì…
Nhớ nhiều ngày ấy Mẹ đi
Rưng rưng nước mắt chia ly không lời
Khói nhang đưa tiễn một đời
Mẹ đi về phía xa vời Tây Phương…
 
Nha Trang, tháng 06. 2026
       KIM  THƯỢNG

TRẦM KHÚC HẠ, GIÓ QUÊ, DƯỚI RẶNG HOÀNG HÔN – Thơ Tịnh Bình


   

 
TRẦM KHÚC HẠ
 
Không gì mới giấc mơ đời cũ kỹ
Mùa quen hơi tiếng ve hạ trưa mòn
Con mọt gỗ nhai hoài lời đay nghiến
Hạ oi nồng mưa giận dỗi trời không
 
Chiều sót lại vài mặt người hoang hoải
Gió về đâu và nắng về đâu
Chân trời cũ sao lối về đã khác
Trống vắng ơi không bắc nổi nhịp cầu
 
Mây ảo vọng trùng trùng muôn phương hướng
Tiếng chim xưa khắc khoải gọi ta về
Mưa thong thả giọt tẩy trần chiếu lệ
Cõi tạm nào phản chiếu bóng hình ta ?
 

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

NHÀ LAN (LAN THẤT 蘭室) - Bài viết của Khánh Ly




“Nhà lan sum họp bạn mai,
Đã trong tần tảo, lại ngoài ty ca.”
                     (Bích Câu kỳ ngộ)

Nhà lan, tức Lan thất 蘭室, nghĩa là căn phòng thơm hương lan. Vì Lan vốn là loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao và tao nhã, cho nên đây là một mỹ từ, dùng để chỉ nơi ở thanh nhã của phụ nữ trong văn chương cổ điển, tương tự với những cách gọi khác như Huệ lâu 蕙樓 (lầu huệ) hay Tiêu phòng 椒房 (phòng tiêu).

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

VẤN ĐỀ ĐẤU TỐ VĂN NGHỆ SĨ - Bài viết của Linh Hoàng Vũ



Tháng Tám năm 1966, người ta lôi Lão Xá, nhà văn 67 tuổi nổi tiếng nhất Trung Quốc, cùng một nhóm nhà văn nghệ sĩ ra sân Khổng miếu ở Bắc Kinh, bắt họ quỳ quanh một đống lửa đốt đạo cụ tuồng cổ. Các tiểu tướng hồng vệ binh bằng tuổi cháu nội ông treo bảng đen lên cổ ông, rồi đánh và sỉ nhục ông giữa tiếng hô hào phần khởi của đám đông. Lão Xá là tác giả lớn của Trung Hoa hiện đại, người từng được kỳ vọng cho một giải Nobel. Đám đông hành hạ ông không phải vì họ cho rằng tác phẩm của ông dở hay thậm chí “phản động”, mà vì ông đã bị dán nhãn là tàn dư của cái cũ, là phần tử cần quét đi.  Sáng hôm sau, nhà văn lớn Trung Quốc ra hồ Thái Bình, ngồi lặng cả ngày bên mặt nước, rồi khi đêm xuống thì trầm mình.
Không ai trong đám đông hôm ấy nghĩ mình đang giết một nhà văn. Họ tin mình đang làm sạch đất nước. Đó mới là điều đáng sợ nhất của mọi cuộc đấu tố: nhiên liệu của nó không phải cái ác, mà là sự xác tín: cái cảm giác êm ái rằng mình chắc chắn đứng về phía đúng, và do đó được miễn mọi nghi ngờ về phương tiện.
Hơn nửa thế kỷ sau, ở Việt Nam, cùng cái xung năng ấy trở lại, nhưng đã thay hình, lần này là trên không gian mạng. Để buộc tội một cuốn sách và tác giả của nó, người ta không cần chứng minh nó sai. Chỉ cần làm cho nó có mùi rủi ro.

THIÊN TẢI NHẤT THÌ 千載一時 - Bài viết của Khánh Ly



“Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,
Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.”
                              (Truyện Kiều)
 
Thiên tải nhất thì, chữ Hán viết, là một thành ngữ dùng để chỉ những dịp hiếm hoi khó gặp. Trong tiếng Việt, thành ngữ này thường được diễn đạt bằng những thành ngữ quen thuộc như “ngàn năm một thuở”, “trăm năm khó gặp”, ngàn năm có một,... Tất cả đều mang nghĩa dịp may mong manh xuất hiện trong đời mà ta biết rằng sẽ khó lòng gặp lại lần hai.

BA SAO GIỮA TRỜI - Bài viết của Khánh Ly



“Đêm thu, gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.”
                                           (Truyện Kiều)
 
Ba sao giữa trời, nguyên văn chữ Hán viết “tam tinh tại thiên 三星在天, xuất phát từ Kinh Thi, phần Đường phong 唐風, bài Trù mâu 綢繆 rằng: “Trù mâu thúc tân, tam tinh tại thiên 綢繆束薪,三星在天. Tạm dịch là: buộc chặt bó củi, ngẩng lên thấy ba ngôi sao giữa trời. Trong văn chương cổ, Tam tinh 三星 thường dùng để chỉ ba ngôi sao sáng nằm giữa bầu trời đêm, cũng là dấu hiệu cho biết đêm đã về khuya.

BẾ GIẢNG 閉講 - Bài viết của Khánh Ly


Hình ảnh: Bế giảng, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ   
 

Bế giảng, chữ Hán viết, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) là cách gọi lễ kết thúc một khóa học hoặc một năm học. Đây là một từ được sử dụng rất quen thuộc trong môi trường giáo dục Việt Nam, thường đi đôi với khai giảng 開講. Dẫu vậy điều khá thú vị là bế giảng lại không xuất hiện với tư cách một từ cố định phổ biến trong Hán văn cổ. Đây là một tổ hợp mang tính tạo nghĩa tương đối muộn, hình thành từ nghĩa sẵn có của hai chữ Bế và Giảng .

NHỚ "BỐ GIÀ" SƠN NAM – Bài viết của Bùi Chí Vinh


Hình chụp ở phi trường Nội Bài Hà Nội năm 1994 dự Hội Nghị Nhà Văn Trẻ Toàn Quốc. 
Từ trái qua phải: Một nhà văn, Sơn Nam, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Nguyễn Nhật Ánh, một nhà văn, Phan Hoàng. Người ngồi là Lê Minh Quốc.

Đối với tôi, hai chữ BỐ GIÀ dành cho nhà văn Sơn Nam không cần đóng khung trong ngoặc kép. Thuở ông còn sinh tiền, mỗi lần hai chú cháu đi chơi riêng hoặc cùng chơi trong đám đông tôi vẫn luôn luôn gọi nhà văn Sơn Nam là “bố” một cách trìu mến.
Còn xét về mặt chuyên môn trong làng văn và trưởng thượng trong làng đời thì tôi hằng kính trọng ông như một… bố già.
 
Buổi trưa ngày 13 thứ Tư năm 2008, đang ngồi cụng ly với Cung Tích Biền, Nguyễn Đạt, Đoàn Thạch Biền, Phạm Viêm Phương, Nguyễn Tôn Nhan… nhằm ăn mừng vụ bán bức tranh của Lê Thị Kim thì bất ngờ chúng tôi nhận được hung tin “bố già” đã mất.
Cho dù tất cả gần như được chuẩn bị về cái chết được báo trước của bậc tiền bối hôn mê nằm liệt giường, nhưng cái tin sét đánh ấy đã làm ai nấy bàng hoàng.
Bàn tiệc đang vui bỗng như đưa đám. Trong đầu tôi hình dung “con khủng long cuối cùng còn sót lại của miệt vườn Nam Bộ” một con khủng long oằn vai chở nặng chữ nghĩa của ruộng đồng bát ngát như một bộ tự điển bách khoa biết đi.

NỖI NHỚ - Thơ Lê Kim Thượng


   

Nỗi Nhớ
 
1.
Tôi về một sớm bình minh
Vịn vào nỗi nhớ tìm hình tuổi thơ…
Mái tranh khói tím giăng mờ
Gió đưa hương lúa đơn sơ mơ hồ
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh xô bềnh bồng
Heo May thả gió trên đồng
Lúa mùa đến cử đòng đòng trổ bông
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều treo giữa mênh mông trời chiều
Cánh chim chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu ngọt ngòn
Chiều tà nắng xế đầu non
Ai đem giấu nắng hoàng hôn cuối đèo
Gió mơn man, gió hanh hao
Thổi vào mái lá ngọt ngào tái tê…
 
2.
Tôi giờ xa xứ, xa quê
Nhớ quay quắt nhớ lời thề đinh ninh
Nhớ mông lung, nhớ vô hình
Thèm trông một cụm lục bình xa khơi
Nhớ nhiều tiếng hát “À ơi…”
Ngọt ngào, chân chất những lời thương yêu
Giữa đồng bóng Mẹ liêu xiêu
Áo nâu đã bạc vá nhiều đường may…
Hoa sen nở những ngón tay
Cánh hoa tim tím hương bay bồi hồi
Phù sa bên lở bên bồi
Quê hương thương lắm một thời đắm say…
Trên trời mây trắng vẫn bay
Dòng sông vẫn chảy, hàng cây vẫn còn
Lâu rồi lòng dạ héo hon
Người đi biệt xứ héo mòn tình quê…
 
Nha Trang, tháng 06. 2026
 Lê Kim Thượng

ĐẶNG XUÂN XUYẾN VÀ TRIẾT LÝ NGŨ HÀNH THỰC CHỨNG – Bài viết của Đỗ Việt Phương



Đọc những tiểu luận của tác giả Đặng Xuân Xuyến về Ngũ hành và Tử vi, người ta không thấy cái vẻ thần bí, hù dọa thường gặp ở các thầy tướng số mà lại thấy bóng dáng của một trí thức đang ưu tư về nhân sinh. Cống hiến lớn nhất của ông chính là việc gạn đục khơi trong cổ học phương Đông bằng nhãn quan thực chứng, giúp hóa giải cái gọi là "mê hồn trận" vốn làm nản lòng bao thế hệ người học lý số.

BỒNG BỘT 蓬勃 – Bài viết của Trúc Âm



Bồng bột, chữ Hán viết 蓬勃, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), từ này được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là sôi nổi, có khí thế mạnh mẽ; nghĩa thứ hai là sôi nổi, hăng hái nhưng thiếu chín chắn và không lâu bền, thường dùng để nói về tính cách hoặc tình cảm.
Đây vốn là một từ gốc Hán dùng để chỉ trạng thái hưng thịnh, phát triển mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Cụ thể:
Bồng vốn trỏ một loại cỏ mọc nhanh và sum suê, sau phát triển thành nét nghĩa rậm rạp, tươi tốt, sinh trưởng mạnh.
Bột có nghĩa là nổi lên, dâng lên, hưng khởi hoặc phát triển mạnh mẽ mà ta hay gặp trong các từ như bột phát, hưng bột,...
 

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

THANH THUÝ: TIẾNG HÁT LƯỠNG TÍNH ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ - Long Phạm


Danh ca Thanh Thúy

Ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, nữ trầm (contralto) là loại giọng cực kì hiếm gặp. Nó ít xuất hiện hơn rất nhiều so với nữ trung (mezzo soprano) và nữ cao (soprano).
 
Các giọng nữ có âm vực trầm và âm sắc hơi tối như Khánh Ly, Bảo Yến, Thu Phương, Hoàng Quyên, Ngọc Anh, Thanh Lam, Uyên Linh, Hồ Ngọc Hà... thường bị nhầm là nữ trầm. Nhưng thực chất, họ vẫn là nữ trung.
Ca sĩ Bảo Yến còn cho rằng: "Tôi chưa thấy một nữ trầm nào ở Việt Nam".
 
Theo định nghĩa trong nhạc cổ điển, giọng nữ trầm được tạo bởi contre (trầm) và alto (cao) - do trước đây alto là thiếu niên nam hoặc castrato. Đây là giọng nữ trầm nhất, hát chủ yếu bằng giọng ngực. Giọng dày, trầm, khoẻ.
 
Đặc điểm của một nữ trầm gồm:
- Màu giọng rất dày, có độ sâu, nặng và tối (hơn nữ trung).
- Hát với man tone và có tính lưỡng tính (hermaphrodite), tức là có thể hát như một giọng nam cao.
- Tessitura (quãng hát thoải mái) nằm trên âm khu trầm và trung trầm.

Trong đó, tính lưỡng tính là tiêu chuẩn lớn cho một nữ trầm.
Xét theo các điều kiện trên, Thanh Thúy là nữ ca sĩ duy nhất ở Việt Nam từ trước đến nay sở hữu giọng nữ trầm.
Không giống với tất cả các nữ ca sĩ khác, âm vực của Thanh Thúy mở rộng xuống rất thấp. Cô có thể hát thoải mái, nhả chữ ở C3, C#3 và xuống tận A2, B2, ngang với âm vực của một giọng nam.