BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2026

CHUYỆN PHIẾM VỀ “GÁY, HÓT, HÚ…” – La Thuỵ ghi chép lại



Anh em trong gia đình chúng tôi, khi gặp nhau hay trêu ghẹo nhau về chữ nghĩa. Vào lúc cháu gái tôi Ý Nhi (con gái đầu của chú Lợi) lấy bằng tiến sĩ về Hoá dầu ở Hoa Kỳ. Chúng tôi họp mặt để chúc mừng cháu cùng trò chuyện rôm rả.
Chú út Vững mới nói: “lần này, anh Lợi tha hồ gáy to chơ hè…”. Chú Lợi trả lời “con gái đậu tiến sĩ là niềm tự hào, nhưng có chi mô mà gáy…”. Chú Vững mới nói: “Khi đặt tên cho con gái là Ý Nhi, anh Lợi đã muốn gáy rồi, không phải trong bản dịch Chinh phụ ngâm có câu thơ:. ‘Ý Nhi đã gáy trước nhà líu lo’ đó sao !”. */1

Cháu Kiệt con trai út của tôi mới cười, trêu chú Lợi: “gà trống gáy thì hợp lý, ai đời chim én mái không hót mà lại gáy…”.
Chú Lợi nói : “xem lại nguyên tác Chinh phụ ngâm khúc Đặng Trần Côn viết thế nào đã, chứ người dịch không sát thì sao?”
Chúng tôi tra cứu hai câu thơ nguyên tác của Đặng Trần Côn
 
Du quyên dĩ trục hoàng li lão,
Thanh liễu lâu tiền ngữ ý nhi.
 
青柳樓前語意兒。
 
Nghĩa là:

(Đỗ quyên đã đuổi theo khiến hoàng oanh già đi,
Trước lầu liễu xanh chim én ríu rít trò chuyện)
 
Bản dịch Chinh Phụ Ngâm:

“Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.” */2
 
Chú Lợi nói: “Đặng Trần Côn dùng chữ NGỮ 語, người dịch chế ra là ‘hót’, quý vị thấy chưa!” 
Chú Vững nói: “ Chim yến, chim oanh thường hay đi liền với nhau. Vua Tự Đức cũng dùng chữ NGỮ để nói chim oanh gáy khề khà đó thôi!”
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ  (Thơ vua Tự Đức) *3/
(Trong vườn, chim oanh chuyển giọng gáy khề khà)
 
Câu chuyện các anh em chuyển dần, bàn về tiếng hót chữ Hán gồm những từ nào ?
Cháu Kiệt nói ‘hót’ chữ Hán là ĐỀ 啼. Chú Vững mới bác bỏ ‘đề’ là kêu, như trong thơ của Trương Kế ‘ô đề’ là quạ kêu. Cháu Kiệt mới dẫn bài thơ “Xuân oán” của tác giả đời Đường Kim Xương Tự
 
Đả tử hoàng oanh nhi,
Mạc giao chi thượng đề.
Đề thời kinh thiếp mộng,
Bất đắc đáo Liêu Tê.
 
(Đánh cho chết cái hoàng oanh
Ai xui mi hót trên cành cây giao
Hót thời tan giấc chiêm bao.
Không cho hồn thiếp được vào Liêu Tây.)
 
Anh em xúm lại tra chữ ĐỀ trên mạng:
Chữ “đề” (啼) nghĩa là kêu khóc hoặc hót, gáy.
- Oanh đề (鶯啼) nghĩa là chim oanh hót
 “Cách lân hân thính hiểu oanh đề”
                                  (Hồ Chí Minh)
(Mừng nghe xóm bên, chim oanh hót báo sáng)

- Dạ đề (夜啼) là khóc đêm, dùng để nói về chứng trẻ con khóc nhiều về đêm
Anh em hỏi nhau: “Còn chữ Hán nào nói về tiếng hót nữa không?”
Tôi đọc câu chúc mừng hay gặp trong đám cưới “loan phượng hoà minh” (chim phượng chim hoàng cùng hoà giọng hót)
Lúc này, chú Vững lại nói:
Viên minh điểu khiếu 猿鳴鳥叫: chim kêu vượn hú
Vậy MINH 鳴 là “kêu, hót” hay “hú” ?
Anh em lại cùng nhau tra từ điển Hán Việt để tìm hiểu
MINH 鳴: Kêu, gáy, hót, rống... (chim, thú, côn trùng).
- Như: “thiền minh” 蟬鳴 ve ngâm, “kê minh” 雞鳴 gà gáy, “viên minh” 猿鳴 vượn hú.
Nói rộng ra phàm cái gì phát ra tiếng đều gọi là minh. Như minh cổ 鳴鼓 đánh trống.
 
“Tây phong minh tiên xuất vị kiều”
“Thét roi cầu vị ào ào gió thu”.
                          (Chinh phụ ngâm)
 
Tôi cho rằng Viên minh điểu khiếu 猿鳴鳥叫 cũng có thể nói là  “chim kêu vượn hót”. Trước đây, khi vào nhà thờ giáo xứ Thanh Xuân thăm nhà thơ Xuân Ly Băng (Đức ông Gioan Baotixita Lê Xuân Hoa), tôi thường ghé xem con vượn nuôi trong chuồng nhảy nhót leo trèo thoăn thoắt. Đôi khi con vượn cất vang tiếng hót. Tiếng vượn hót lảnh lót xen kẻ tiếng ve ngâm mùa hè làm tôi chợt nhớ thơ Tản Đà
 
“Nhạn về én lại bay đi,
Đêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm”
            (Cảm thu tiễn thu - Tản Đà)
 
“Ve ngâm vượn hót nào tày,
Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.”
                       (Kiều – Nguyễn Du)
 
“Ve ngâm vượn hót” tức Thiền ngâm viên đề 蝉吟猿啼 chữ dùng của Ngô Quân 吴均 (469-520) thời Nam Bắc triều.
 
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày.
                           (Hồ Chí Minh)
 
Không những vượn cất tiếng hót mà còn hót véo von nữa kia
 
“Chim kêu vượn hót véo von
Chớp bể đồi đoạn mưa nguồn từng phen”
(Văn Chầu thờ Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn)
 
Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.
                                           (ca dao)
 
Có người thắc mắc: loài vượn có phải chim đâu mà hót!
Vậy rốt cuộc con vượn hú hay là hót?
Hú là cất tiếng kêu lớn, vang vọng và kéo dài. Tiếng vượn kêu cô gái lấy chồng xa nghe được trong ca dao đó, là tiếng vượn gọi bầy, tả được nỗi niềm khắc khoải của người xa xứ.
Còn “vượn hót” là tiếng kêu của vượn lúc nó thảnh thơi, ngâm nga lảnh lót cùng bầy đàn
 
Nói chung, vượn lúc hú lúc hót, tùy tâm trạng người nghe…
 
Sau khi chuyện gẫu về “viên minh” (tiếng vượn hú, hót), anh em chúng tôi lại bàn về “điểu khiếu” (chim hót)
 
Chữ KHIẾU 叫  nghĩa là hót. Trong thơ Vương An Thạch
“Minh Nguyệt sơn đầu khiếu / Hoàng Khuyển ngọa hoa tâm”
(Chim Minh Nguyệt hót đầu núi/ Con sâu Hoàng Khuyển nằm trong lòng hoa)
 
Anh em mới lan man về giai thoại hai câu thơ trên
 
“Câu chuyện kể rằng, khi đọc hai câu thơ của Vương An Thạch:
“Minh Nguyệt sơn đầu khiếu / Hoàng Khuyển ngọa hoa tâm”
(trăng sáng hót trên đỉnh núi, chó vàng nằm trong lòng hoa)
 
Tô Đông Pha cho rằng hai câu thơ trên rất vô lý. Theo lẽ thường, trăng không thể “hót”, chó không thể “nằm trong lòng hoa”, nên ông tự ý sửa thành:
“Minh Nguyệt sơn đầu chiếu / Hoàng Khuyển ngọa hoa âm”
(trăng sáng soi đỉnh núi, chó vàng nằm dưới bóng hoa)
Sửa xong ông tỏ ra rất đắc ý.
Sau này, khi bị giáng chức và đi xa đến phương Nam, Tô Đông Pha mới tận mắt chứng kiến thực tế địa phương có một loài chim tên là Minh Nguyệt, chỉ hót trên đỉnh núi vào những đêm trăng sáng; và một loài sâu lớn sống trong lòng hoa, tên là Hoàng Khuyển, chuyên hút nhụy hoa. Lúc ấy, ông mới bàng hoàng nhận ra rằng hai câu thơ của Vương An Thạch hoàn toàn chính xác, còn sự “sửa thơ” của mình xuất phát từ việc thiếu hiểu biết về tri thức nền mới là sai.”
 
Chú Vững cho rằng KHIẾU 叫 có thể là HÚ. Chú ấy dẫn chứng:

呴 Hú.
Chim trĩ kêu, phiếm chỉ tiếng chim kêu.
呴 Hú có âm khác là “hống”
吼 Hống: rống, gào, gầm, kêu to
 
Cháu Kiệt cười trêu ghẹo chú lợi “Ý Nhi không những gáy mà còn rống như sư tử nữa… ghê thiệt!”. Cháu ấy đọc thơ Tô Đông Pha
 
“Hốt văn Hà Đông sư tử hống,
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên.” */4
 
(Chợt nghe sư tử Hà Đông rống,
Gậy chống buông tay tâm hoảng liền.)
 
Chuyện phiếm hồi lâu, anh em chúng tôi chia tay.

*
Như vậy, những chữ Hán nói về tiếng hót, tiếng gáy, tiếng kêu của chim, gà, vượn, sư tử… mà qua câu chuyện phiếm mà anh em chúng tôi trêu chọc nhau đã tập hợp những từ:
Khiếu 叫, Minh 鳴, Đề 啼, Ngữ 語, Hú 呴, Hống 吼….
Anh em bạn hữu có bổ sung thêm gì không, xin góp ý nhé!
 
                                                                           La Thuỵ ghi chép lại
Chú thích:
 
*1/ Ý nhi (意兒 / 鷾鴯): Là tên gọi cổ của chim én hoặc chim yến trong văn học.

*2/ Bản dịch Chinh phụ ngâm
 
“Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về? ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã dục oanh già,
Ý nhi lại hót trước nhà líu lo.”
 
Nguyên tác chữ Hán Chinh phụ ngâm khúc (征婦吟曲) của Đặng Trần Côn:
 
憶昔與君相別時,
柳條猶未囀黃鸝。
問君何日歸?
君約杜鵑啼。
杜鵑已逐黃鸝老,
青柳樓前語鷾鴯
 
Phiên âm Hán - Việt
 
Ức tích dữ quân tương biệt thời,
Liễu điều do vị chuyển hoàng li.
Vấn quân hà nhật quy?
Quân ước đỗ quyên đề.
Đỗ quyên dĩ trục hoàng li lão,
Thanh liễu lâu tiền ngữ ý nhi.
 
*3/
Giai thoại về bài thơ Cao Bá Quát trêu thơ Tự Đức
Một hôm Tự Đức kể các quan đại thần là ông nằm mơ thấy mình làm được hai câu thơ chữ nho, câu nào cũng có hai tiếng Nôm chen vào. Ông truyền cho các quan chép lại.
Hai câu ấy như sau:
 
“Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai”
 
Nghe vậy, Cao Bá Quát liền quỳ xuống, tâu:
Muôn tâu bệ hạ, hai câu ấy không có gì lạ. Đó là hai câu tam tứ ở một bài thơ mà thần đã được nghe.
Tự Đức rất ngạc nhiên truyền cho ông đọc toàn bài. Cao Bá Quát ứng khẩu đọc liền:
 
Bảo mã  tây phong huếch hoác lai,
Huênh hoang nhân tự thác đề hồi.
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ,
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai.
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp,
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài.
Khù khờ thi tứ đa nhân thức,
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài.
 
Đặc sắc của bài thơ trên là cả 8 câu, câu nào cũng có hai chữ Nôm chen vào các chữ Hán của bài thơ thất ngôn bát cú.
Nghe xong, Tự Đức biết là Cao Bá Quát bịa ra bài thơ để giễu minh, nhưng đành chịu tài ‘xuất khẩu thành thơ’ của Cao Bá Quát”
 
Nghĩa là:
 
“Ngựa báu theo gió tây huếch hoác lại,
Huênh hoang người tự theo về.
Trong vườn tiếng oanh hót khề khà,
Ngoài đồng hoa đào nở lấm tấm.
Ngày xuân chẳng thấy sương xuân rơi lộp bộp,
Trời thu chỉ thấy mưa loài nhài.
Khù khờ câu thơ đã nhiều người biết,
Còn khệnh khạng đem hỏi các nhà văn học”
 
Quả thật Chu Thần đã bịa ra bài thơ này để trêu chọc vua Tự Đức chơi, nhất là hai câu cuối, cái ý ngạo mạn của ông bộc lộ không cần che giấu. Nhà vua biết mình bị trêu chọc ức lắm nhưng ông không có bằng chứng gì để quở phạt Chu Thần được, ngược lại ông cũng phải bấm bụng khen cái tài biện bác của Chu Thần
 
*4/ Hai câu thơ trích từ bài thơ chữ Hán của Tô Đông Pha (Tô Thức) trêu chọc bạn là Trần Quý Thường (Long Khâu Cư Sĩ), xuất xứ của thành ngữ "Sư tử Hà Đông"
 
Nguyên văn chữ Hán
 
龍丘居士亦可憐
談空說有夜不眠
忽聞河東獅子吼
住杖落手心茫然
 
Phiên âm Hán Việt
 
Long Khâu Cư Sĩ diệc khả liên,
Đàm không thuyết hữu dạ bất miên.
Hốt văn Hà Đông sư tử hống,
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên.
 
Dịch thơ:
 
Cư sĩ Long Khâu thật đáng thương,
Đêm ngày bàn đạo suốt năm trường.
Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,
Gậy tuột khỏi tay tim bàng hoàng.

*
Clip vượn hót véo von:

Không có nhận xét nào: