Tuy nhiên, nhiều người chưa hiểu vì sao lại có tuổi mụ và từ bao giờ loại tuổi này xuất hiện.
Trên toàn thế giới có lẽ chỉ ở Trung Quốc và Việt Nam là có hai loại tuổi, đó là Tuổi mụ và tuổi thực.
Trong tiếng Hán, tuổi mụ được gọi là “hư tuế” – chữ “hư” ở đây có nghĩa là hư rỗng, rỗng không; ở ngữ cảnh này có thể tạm hiểu là “giả, trái nghĩa với chữ “thực”.
Nếu hỏi về tuổi thực, hầu như ai cũng có thể nói một cách dễ dàng, nhưng với tuổi mụ - “hư tuế” thì “hư” giả ở chỗ nào lại là một câu hỏi rất khó trả lời.
Tuổi mụ là một phương pháp tính tuổi truyền thống của người Trung Quốc và Việt Nam. Tuổi này được tính trên cơ sở đơn vị là năm (chứ không phải ngày, như hôm nay).
Vào thời điểm một người vừa chào đời, người đó đã có 1 tuổi vào năm đó (lý do lớn nhất là đã ở trong bụng mẹ gần 10 tháng, ~280 ngày). Sau này mỗi một năm trôi qua sẽ tăng thêm một tuổi nữa.
Vào thời kỳ cổ đại, tuổi mụ là cách tính tuổi duy nhất và hoàn toàn không có khái niệm tuổi thật. Bằng cách tính này, người xưa không có khái niệm tính tuổi từ 0 (như hôm nay) và cũng không có khái niệm dùng ngày sinh để bắt đầu tính tuổi.
Cũng theo thói quen dân gian, một đứa trẻ vừa ra đời nếu chưa được 100 ngày, em bé đó sẽ được tính tuổi theo đơn vị ngày. Tuy nhiên, nếu đã được hơn 100 ngày tuổi, người xưa sẽ dùng đơn vị năm để tính.
Theo lý luận trên, một người sinh vào ngày 25/4/1990 đến trước lúc giao thừa Tết Nguyên Đán của năm 1991 đã được ghi nhận 1 tuổi. Vừa bước sang năm 1991 thì người đó đã là 2 tuổi.
Như vậy, vào khoảng thời gian trước ngày 25/4/2000 thì tuổi thực của người đó mới là 9 tuổi, nhưng tuổi mụ đã là 11, sai số giữa hai cách tính là 2 tuổi.
Tại sao lại có tuổi mụ?
Muốn lý giải được vì sao lại có “tuổi mụ,” cần phải hiểu kiến thức khoa học trong cách tính thiên văn của người Trung Hoa cổ đại.
Theo đó, người Trung Quốc thời xưa thường quan sát mặt trời lặn, mọc. Trời sáng và trời tối mà cho ra đời khái niệm “ngày”.
Trong khi đó, khái niệm “tháng” được ra đời sau một vòng tuần hoàn lặn, mọc của mặt trăng (và các khái niệm: ngày sóc, ngày vọng). Khái niệm “năm” được hình thành sau một chu kỳ hè qua đông đến.
Nếu như người hiện đại dùng khái niệm 1 ngày gồm 24 giờ, thì người cổ đại xưa chia 1 ngày thành 12 thời thần (cũng gọi là 12 “thì thần”) và dùng 12 địa chi gồm: tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi để biểu thị (thường đi kèm với thập thiên can gồm: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý). Với một người vừa chào đời, người Trung Quốc cổ đại thường ghi lại giờ sinh mà không quan tâm nhiều đến yếu tố ngày tháng. Đây cũng là một lý do mà người xưa không coi trọng sinh nhật như chúng ta hiện nay (nhưng rất quan trọng ngày mất).
Bên cạnh đó, người cổ đại cũng đặc biệt chú ý đến yếu tố sinh thần – nghĩa là cầm tinh và con giáp (kỷ niệm sinh thần ngày xưa tương đồng với kỷ niệm sinh nhật hôm nay). Người Trung Quốc xưa dùng 12 động giáp tương ứng, đại diện cho 12 địa chi.
Một người sinh ra vào năm nào thì sẽ có địa chi của năm đó. Do vậy người xưa thường dùng con giáp đại diện, hơn là nhớ năm sinh dương lịch cụ thể.
Cách ghi nhớ này tồn tại một số vấn đề. Đầu tiên là việc dùng năm làm đơn vị, mỗi năm sẽ tương ứng với một con giáp mà không quan tâm đến yếu tố ngày tháng hay thời thần.
Thứ hai, nếu tính theo cách này, một người sinh ra vào ngày cuối cùng trong năm cũng sẽ có chung con giáp với người sinh ở giữa năm hoặc đầu năm.
Tuổi mụ chính là kết quả của cách ghi nhận tuổi này.
Hiện tại, rất nhiều người trẻ tuổi không hiểu về tuổi mụ. Họ cho rằng, có tuổi mụ là kết quả của quan niệm “xấp xỉ” hay “tương đối” của người Trung Quốc mà ra. Họ cho rằng, người Trung Quốc không có tinh thần khoa học, mọi thứ cứ “tương đối” là được rồi. Vì vậy, vấn đề tuổi tác chỉ cần tính toán đại khái chứ không cần chính xác, cho nên, người ta dùng năm chứ không tính ngày kể tháng. Lại có người cho rằng, đây là do tâm lý “muốn chiếm lợi” của người Trung Quốc gây ra. Vì “tuổi mụ” cao hơn “tuổi thực” cho nên tuổi thọ của người đó cao hơn và người đó sẽ cảm thấy vui vẻ, thỏa mãn hơn.
Còn có người cho rằng, đây là do sự bất đồng về thời điểm tính toán sự bắt đầu của một sinh mệnh. Thời cổ đại chiến tranh mở rộng lãnh thổ là điều thường xuyên xảy ra, nên không quá quan trọng vấn đề ngày tháng cũng là điều dễ hiểu.
Người hiện đại dùng thời điểm sinh ra để tính thời điểm bắt đầu của sinh mệnh, còn người cổ đại lại dùng thời điểm bắt đầu mang thai để tính. Bởi vì một đứa trẻ đã tồn tại trong bụng mẹ 10 tháng tuổi rồi.
Tuổi thực: 1990 + 36 = 2026, hoặc lấy năm hiện nay trừ cho năm sinh: 2026 - 1990 = 36.
Ngày hôm nay, lấy ngày tháng năm sinh để tính tuổi, ví dụ: bạn sinh ngày 25/4/1990 mà hôm nay mới là 24/4/2026 thì bạn chỉ được tính tuổi là 35 thôi, chỉ khi xuất hiện ngày 25/4/2026 thì bạn mới được kể là 36 tuổi.
Nguồn: ĐÀO HOA BỈ NGẠN

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét