BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

TANG THƯƠNG NGẪU LỤC – Thơ Trần Vấn Lệ


    
            Nhà thơ Trần Vấn Lệ duyên vẽ theo yêu cầu của Nguyệt Mai

Người Việt Nam mình ai ai cũng
là thi sĩ!  Mà đâu thấy thơ...
Ngoảnh lại, quay đi... toàn hát ví
của cô đi cấy, chị quay tơ!
 
Nghèo chi... cứ áo bà ba mãi
cứ rải truyền đơn nói bá xàm
Khăn đóng, áo dài ba bữa Tết
ngó hình lãnh tụ hét muôn năm!
 
Hai chữ Việt Nam, Tàu nó đặt (*)
vẻ vang chi nhỉ mà tôn thờ?
Di cư năm bốn về Nam... Việt,
rồi bảy mươi lăm chạy tới mô?
 
Chạy xuống Nam Dương qua tới Úc
tìm đường qua Mỹ, tới châu Âu,
thơ thì Huy Cận rồi Xuân Diệu,
thỉnh thoảng Bác Hồ...nhớ mấy câu:
 
"Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng
Hai ta cùng một gánh Non Sông
Bác đưa một nước qua nô lệ,
Tôi dẫn năm châu đến đại đồng..."
 
*
Đất Nước ngàn năm còn mấy chữ
gọi là Lục Bát... gió vi vu:
"Nai cao gót lũng sương mù
xuống rừng nẻo thuộc nhìn Thu mới về...".
 
Nhìn Thu... để nhớ mùa Thu ấy
"Kách mệnh mùa Thu" nó thế nào?
Nhà có, tại sao lên núi ở?
Thóc thừa mà nghẹn bữa canh rau!
 
"Chiều nay trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn!"
Thơ Xuân Diệu... Đấy, văn chương
dân Phan Thiết nói... "Cái xương cá mòi!".
 
Dân Việt Nam!  Lũ lạc loài!
Vũ Hoàng Chương nói từ hồi bốn lăm:
"Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
bị Quê Hương ruồng bỏ, giống nói khinh!".
 
Đêm đêm tiếng ếch giật mình
sông dời núi đổi, tang tình, tang thương! (**)
Thơ ai vậy?  Thơ Tú Xương
Ngàn-Chín-Lẻ-Bảy (***) nay còn... thời gian!
                                                                                Trần Vấn Lệ

(*) Năm 1802, Vua Gia Long lên ngôi lập ra Triều Nguyễn, sai Sứ sang Tàu cầu phong An Nam Quốc Vương, Niên Hiệu Gia Long (Giàu Có, Thịnh Vượng), Quốc Hiệu Nam Việt (nước phía Nam, dân có ăn có để, chữ Việt viết với bộ Mễ; năm 1804, Vua Tàu mới trả lời: chấp nhận Gia Long là An Nam Quốc Vương nhưng Quốc Hiệu phải là Việt Nam, chữ Việt viết bộ Tẩu nghĩa là Vượt, Chạy Trốn về phía Nam.  Sử Ta có ghi điều này nhưng các Sử Gia đều viết chữ Việt bộ Tẩu kể cả chữ Nam Việt thời Triệu Đà, chữ Đại Cồ Việt thời Đinh, chữ Đại Việt thời Tiền Lê, thời Lý, thời Trần, thời Hậu Lê.

(**) Bài Sông Lấp Của Trần Tế Xương:  "Sông kia rày đã nên đồng, chỗ làm nhà cửa, chỗ giồng ngô, khoai; đêm nghe tiếng ếch bên tai / giật mình còn ngỡ tiếng ai gọi đò!".

(***) Trần Tế Xương (1870-1907).

Không có nhận xét nào: