BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 - Đơn vị đo lường



Xem clip trên laptop mình thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). Ba chữ đầu 二十六 là “nhị thập lục” (26) thì đọc được ngay tắp lự, nhưng đến chữ  đọc ra chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nhưng không nghĩ nó là đơn vị đo khối lượng.

Tôi tra từ điển để tìm chữ  có chỉ về đơn vị đo khối lượng không, thì có kết quả như sau:

 
Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11
Bộ: bối (+4 nét)
Lục thư: hội ý
Hình thái: 毌貝
Nét bút: フフ丨一丨フ一一一ノ丶

Nghĩa:
1. xâu tiền
2. xuyên qua, chọc thủng
3. thông suốt
4. quê quán. 

Tôi không thấy có chỗ nào cho biết  chỉ về đơn vị đo khối lượng cả

Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như:
 
chữ  /shì/ THỊ : cái chợ 
hoặc 巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 

Nên tôi mày mò tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.

                    

Ban đầu, chỉ riêng chữ  gửi bằng hình chụp thì Chat GPT cho biết như sau:
   Đó là chữ  (phồn thể).
   Phiên âm Hán Việt: mại
   Nghĩa: bán
  (Giản thể tương ứng: )
 
Thế thì 二十六貫 không thể là 26 mại (hoặc bán 26...)


Có lẽ do hình chụp chỉ riêng chữ 貫 có vấn đề nên mình gửi hình chụp nguyên cả cụm từ  二十六貫 (97.5 kg) hỏi Chat GPT, thì được trả lời như sau:

   二十六貫 (97.5 kg) 
     nhị thập lục quán (ở đây quy đổi ra 97,5 kg)

  貫 (quán) → đơn vị đo/đơn vị tiền cổ
  貫 (quán) vốn không phải đơn vị khối lượng cố định như kg, mà là đơn vị “xâu / chuỗi”, sau đó mới được quy ước sang trọng lượng tùy thời kỳ và địa phương.

*
1/ Nghĩa gốc của  (quán) : xâu, chuỗi (xâu tiền, xâu vật)

Ví dụ phổ biến nhất:
 一貫錢 (nhất quán tiền) 1 xâu tiền đồng (thường ~1000 đồng tiền cổ)

2/ Khi  được dùng làm đơn vị cân nặng
Trong thực tế (nhất là Trung Hoa – Việt Nam – Nhật Bản cổ), khi hàng hóa được bó / xâu lại, người ta dùng  như đơn vị quy ước trọng lượng.

3Một số quy đổi phổ biến theo từng bối cảnh

🔹 Trung Quốc (thường gặp)
→ Ví dụ trong hình bạn gửi:
     26  bằng 97,5 kg
       1  ≈ 3,75 kg

Đây là cách tính rất phổ biến, đặc biệt trong:
  - Buôn bán nông sản
  - Hàng hóa buộc bó (thóc, gạo, cá, hàng khô)
 
🔹 Nhật Bản (Kan = )
    1  ≈ 3,75 kg
     → trùng với cách tính trong hình của bạn
 
🔹 Việt Nam (thời phong kiến)  Quán hay (quan)
  貫 thường dùng cho tiền:
    1 quan tiền ≈ 600 1000 đồng tiền kẽm (tùy triều đại)
 
Khi dùng cho hàng hóa:
thường hiểu theo quy ước địa phương, hay gặp khoảng 3–4 kg
 
*
Tôi thử dùng thêm trí tuệ nhân tạo thông minh như AI và gửi chữ (không gửi hình chụp) thì có giải đáp:

  "" (guan4) đọc là "quán" trong Hán Việt.
  "二十六貫" (97.5 kg) đọc là "nhị thập lục quán" trong Hán Việt.

Cụ thể:
  二十 (nhị thập) = 20
  六 (lục) = 6
  貫 (quán) = đơn vị đo trọng lượng (1 quán = 3.75 kg)
Vậy, 二十六貫 26 quán =  97.5 kg

"" (quán) thường dùng để chỉ đơn vị tiền tệ trong thời cổ, tương đương với 1 chuỗi tiền (1000 đồng tiền xu). Trong ngữ cảnh này, "quán" thường được dùng để chỉ lượng tiền lớn.
Ví dụ: 一貫錢 (một quán tiền)
Tuy nhiên, như trong trường hợp trước, "" cũng có thể dùng làm đơn vị đo trọng lượng, tương đương 3.75 kg.
 
*
Được lời như cởi tấm lòng. Cảm ơn các hệ thống trí tuệ nhân tạo thông minh như Chat GPT và AI nhiều. Tôi post lên cùng chia sẻ cùng quý bạn!
 
Nhớ lời thơ của Nguyễn Bính:

“Một quan là sáu trăm đồng,
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.
 
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy,
Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng.
Tôi ra đón tận gốc bàng,
Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem.”
 
                                                                             La Thụy sưu tầm

Ghi chú:

Trang face có clip với dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg) :
 
https://www.facebook.com/groups/1126577924381780/posts/2615586832147541/
 
Nội dung miêu tả trong clip:
 
“Cô gái nâng tảng đá nặng 97.5kg này là tân Bộ trưởng Onoda Miki, lúc đó là thượng nghị sĩ.
Cô này có lần còn thi đấu môn sumo nữ, cô cũng có đai đen Judo và cựu lực sĩ, nên có khác.”

*
Tôi tra Google: Kan () trong tiếng Nhật là gì?
Goole trả lời như sau:
Thông tin tổng quan do AI tạo
 
Kan ( - Quán) trong tiếng Nhật là một đơn vị đo lường cổ truyền thống, tương đương \(1.000\) monme hay \(3,75\) kg, được sử dụng phổ biến để đo trọng lượng ngọc trai nuôi cấy. Trong ngữ cảnh ẩm thực, "kan" (thường viết là ) còn là đơn vị đếm chuyên dụng cho sushi (2 miếng/suất) thể hiện sự sang trọng và truyền thống. 

Các khía cạnh chính về Kan (): 

Đơn vị đo khối lượng (Trọng lượng): \(1\) Kan = \(3,75\) kg (hoặc \(1000\) monme). Đơn vị này được Luật Cân đo Nhật Bản năm 1891 chính thức công nhận và vẫn phổ biến trong ngành công nghiệp ngọc trai.
Đơn vị đếm Sushi: Được dùng để đếm sushi, đặc biệt tại các nhà hàng cao cấp, tượng trưng cho một suất (thường là 2 miếng nhỏ hoặc một cặp).

Ý nghĩa khác (Hán tự ): Ngoài ra,  có thể chỉ sự "xuyên qua", "nối liền", hoặc trong ngữ cảnh cổ (quê quán, xâu tiền).

Khớp nối gỗ (Nuki): Trong kiến trúc,  còn được gọi là nuki, một loại mộng gỗ ngang nối cột và dầm trong xây dựng truyền thống Nhật Bản. 

Kan () không nên nhầm lẫn với Kan (), là từ dùng để chỉ các loại lon, hộp kim loại hình trụ. 

*
Tôi tra chữ cân  (đơn vị khối lượng) và các dị thể của nó, không hề thấy có nét tương đồng với Kan  đọc theo âm Nhật.

Tra chữ  (Quán) thấy có cụm từ “ác quán mãn doanh” 惡貫滿盈 lại nhớ đến nhân vật Đoàn Diên Khánh trong truyện kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, thú vị thật !

Không có nhận xét nào: