BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

DANH TỪ 名詞 – Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng



Danh từ là những từ dùng để gọi tên sự vật (người, vật, sự, hiện tượng, khái niệm, đơn vị...), trong đó bao gồm các khái niệm trừu tượng được xem như là sự vật: đạo đức, kinh nghiệm, trí tuệ, cuộc sống, sự sống... Khi chuyển ngữ các danh từ phái sinh của ngoại ngữ, ta gặp rất nhiều đối tượng được gọi là "sự ...".
 
NOUN - DANH TỪ
COMMON NOUN - DANH TỪ CHUNG
CONCRETE NOUN - DANH TỪ CỤ THỂ
ABSTRACT NOUN - DANH TỪ TRỪU TƯỢNG
PROPER NOUN - DANH TỪ RIÊNG

Danh từ chung là danh từ gọi chung tên sự vật, gồm danh từ cụ thể và danh từ trừu tượng. Danh từ riêng là tên riêng của đối tượng, chẳng hạn tên người hoặc địa danh, do đó trên lí thuyết, số lượng danh từ riêng nói riêng có thể nhiều vô hạn, và số lượng âm tiết hay thành phần của danh từ nói chung có thể nhiều vô hạn.
"Danh" nghĩa là tên gọi, "danh từ" 名詞 là thuật ngữ dùng chung tại vùng văn hoá Hán tự. Tiếng Nhật đọc là "mei-shi" めいし, tiếng Hàn đọc là "myeong-sa" 명사. Tiếng Trung Quốc viết giản thể là . "Noun" tiếng Anh, "nom" tiếng Pháp có gốc tiếng Latin "nomen" nghĩa là tên gọi, đồng nguyên với "ὄνομα" (ónoma) tiếng Hi Lạp cổ và "nā́man" नामन् tiếng Phạn.
Sách "Việt-Nam văn-phạm" (1940) của Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ cho thấy người xưa đã có những bước sáng tạo, cải biên về tên các từ loại khi so với cách gọi của tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật:

- Các loài tiếng. — Tiếng chia ra làm mười ba loài sau này:
1. Danh-tự
2. Mạo-tự
3. Loại-tự
4. Chỉ-định-tự
5. Đại-danh-tự
6. Tĩnh-tự
7. Động-tự
8. Trạng-tự
9. Giới-tự
10. Liên-tự
11. Tán-thán-tự
12. Trợ-ngữ-tự
13. Tiếng đệm

"Quán" (đội mũ lên đầu, trùm lên đầu, thêm vào phía trước (phía đầu), đứng đầu, như trong "quán quân"; quan : cái mũ đội đầu, cái mào trên đầu một số loài chim) được cải biên thành "mạo" (cái mũ, cái mão, cái khăn đội đầu, âm Việt hoá gồm "mão", "mào", "miều", thanh điệu thuộc khuôn khổ "huyền - ngã - nặng"). Việc gọi tính từ là "tĩnh tự" 靜字 để đối lập với "động tự" 動字 đã được người Việt duy trì trong một quãng thời gian dài vào thế kỉ 20. Sách "Nam-học-Hán-văn khoá-bản" 南學漢文課本 (1920) của Nguyễn Can Mộng giảng về các chữ Hán xếp theo loại (dựa trên nghĩa của Hán tự), phàm lệ của sách ghi:

1 — Nói về Tự-loại (字類 famille de mots) thì có:
Chữ Danh-tự 名字 nom.
Tĩnh-tự 靜字 adjectif.
Động-tự 動字 verbe.
là chữ cùng một bộ với nhau, cho nên theo bộ mà yết ra từng bảng để dễ nhận.

2 — Nói về Hư-tự (虛字) thì có:
Chữ Đại-tự 代字 pronom.
Trạng-tự 狀字 adverbe.
Giới-thiệu-tự 介紹字 préposition.
Khiển-tự 遣字 conjonction.
Trợ-ngữ-tự 助語字 particules finales.
là chữ không cùng bộ với nhau, cho nên theo mối chữ mà yết ra từng bảng để không sót.

3 — Nói về Văn-phạm (文範 fonction de mots), thì cứ theo bảng Tự-loại và bảng Hư-tự suy dùng ra một bài (Application) để biết cách dùng chữ.
                                                                           Ung Chu
                                                             Theo Hán-Việt Thông Dụng

Không có nhận xét nào: