COMMON NOUN - DANH TỪ CHUNG
CONCRETE NOUN - DANH TỪ CỤ THỂ
ABSTRACT NOUN - DANH TỪ TRỪU TƯỢNG
PROPER NOUN - DANH TỪ RIÊNG
Danh từ chung là danh từ gọi chung tên sự vật, gồm
danh từ cụ thể và danh từ trừu tượng. Danh từ riêng là tên riêng của đối tượng,
chẳng hạn tên người hoặc địa danh, do đó trên lí thuyết, số lượng danh từ riêng
nói riêng có thể nhiều vô hạn, và số lượng âm tiết hay thành phần của danh từ
nói chung có thể nhiều vô hạn.
"Danh" 名 nghĩa là tên gọi, "danh từ" 名詞 là thuật ngữ dùng chung tại vùng văn hoá Hán tự. Tiếng Nhật đọc là "mei-shi" めいし, tiếng Hàn đọc là "myeong-sa" 명사. Tiếng Trung Quốc viết giản thể là 名词. "Noun" tiếng Anh, "nom" tiếng Pháp có gốc tiếng Latin "nomen" nghĩa là tên gọi, đồng nguyên với "ὄνομα" (ónoma) tiếng Hi Lạp cổ và "nā́man" नामन् tiếng Phạn.
Sách "Việt-Nam văn-phạm" (1940) của Trần Trọng
Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ cho thấy người xưa đã có những bước sáng tạo, cải
biên về tên các từ loại khi so với cách gọi của tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật:
"Danh" 名 nghĩa là tên gọi, "danh từ" 名詞 là thuật ngữ dùng chung tại vùng văn hoá Hán tự. Tiếng Nhật đọc là "mei-shi" めいし, tiếng Hàn đọc là "myeong-sa" 명사. Tiếng Trung Quốc viết giản thể là 名词. "Noun" tiếng Anh, "nom" tiếng Pháp có gốc tiếng Latin "nomen" nghĩa là tên gọi, đồng nguyên với "ὄνομα" (ónoma) tiếng Hi Lạp cổ và "nā́man" नामन् tiếng Phạn.
- Các loài tiếng. — Tiếng chia ra làm mười ba loài sau này:
1. Danh-tự
2. Mạo-tự
3. Loại-tự
4. Chỉ-định-tự
5. Đại-danh-tự
6. Tĩnh-tự
7. Động-tự
8. Trạng-tự
9. Giới-tự
10. Liên-tự
11. Tán-thán-tự
12. Trợ-ngữ-tự
13. Tiếng đệm
"Quán" 冠 (đội mũ lên đầu, trùm lên đầu, thêm vào phía trước (phía đầu), đứng đầu, như trong "quán quân"; quan 冠: cái mũ đội đầu, cái mào trên đầu một số loài chim) được cải biên thành "mạo" 帽 (cái mũ, cái mão, cái khăn đội đầu, âm Việt hoá gồm "mão", "mào", "miều", thanh điệu thuộc khuôn khổ "huyền - ngã - nặng"). Việc gọi tính từ là "tĩnh tự" 靜字 để đối lập với "động tự" 動字 đã được người Việt duy trì trong một quãng thời gian dài vào thế kỉ 20. Sách "Nam-học-Hán-văn khoá-bản" 南學漢文課本 (1920) của Nguyễn Can Mộng giảng về các chữ Hán xếp theo loại (dựa trên nghĩa của Hán tự), phàm lệ của sách ghi:
2 — Nói về Hư-tự (虛字) thì có:
3 — Nói về Văn-phạm (文範 fonction de mots), thì cứ theo bảng Tự-loại và bảng Hư-tự suy dùng ra một bài (Application) để biết cách dùng chữ.
Theo Hán-Việt Thông Dụng

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét