BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

BÀI KỆ “CÁO TẬT THỊ CHÚNG” CỦA MÃN GIÁC THIỀN SƯ - Bài viết của Khánh Ly



Mãn Giác (滿覺, 1052-1096) là một thiền sư thuộc đời thứ tám của dòng thiền Vô Ngôn Thông, từng được vua Lý Nhân Tông trọng đãi và thỉnh làm trụ trì chùa Giáo Nguyên. Trong lịch sử văn học Phật giáo thời Lý, Mãn Giác được nhắc đến nhiều nhất qua bài kệ Cáo tật thị chúng, đọc vào lúc cuối đời và cũng là tác phẩm duy nhất còn lại của Sư.
 
Cáo tật thị chúng, chữ Hán viết 告疾示眾, nghĩa là "báo bệnh cho mọi người biết". Đây là một bài kệ ngắn được Mãn Giác đọc vào cuối tháng 11 năm Hội Phong thứ năm (1096), khi Sư lâm bệnh nặng. Tuy nhiên nhan đề này không phải do chính Mãn Giác đặt. Trong Thiền Uyển Tập Anh chỉ có lời ghi chú hoàn cảnh đọc kệ, vì Lê Quý Đôn đặt tiêu đề cho bài kệ nên sau này bài kệ mới dần được đọc như một bài thơ độc lập, song thực chất nó nằm trong mạch ngữ lục của Mãn Giác Thiền Sư.

Khoảnh khắc thị tịch trong truyền thống Thiền Tông thường gắn với những lời nói trực diện về sinh tử. Có vị nhắc đến thân huyễn/huyễn thân, có vị nói đến đi đến, vì vậy khi đọc "Cáo tật thị chúng", người ta dễ chờ đợi một bài kệ cũng xoay quanh chuyện sống - chết, còn - mất, hoặc ít nhất là một lời dặn dò nào đó dành cho môn đồ. Nhưng Mãn Giác lại không đi theo hướng đó, bài kệ của Sư không hề nhắc đến sinh tử:
 
春去百花落,
春到百花開。
事逐眼前過,
老從頭上來。
莫謂春殘花落盡,
庭前昨夜一枝梅。
 
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
 
Xuân qua, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa cười.
Trước mắt, việc đi mãi,
Trên đầu, già đến rồi.
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một nhành mai.
             (Bản dịch thơ Ngô Tất Tố)
 
Trong thế giới quan của Mãn Giác Thiền Sư, hoa nở hay hoa rụng đều là biểu hiện của một dòng vận hành liên tục, dễ hiểu nhất là mọi sự vật không đứng yên một chỗ để chờ đợi được con người tán thưởng hay tiếc nuối. Xuân không biến mất vì hoa rụng, cũng không bắt đầu chỉ vì hoa nở. Cho nên khi Sư đặt “xuân khứ - hoa lạc” lên trước “xuân đáo - hoa khai” đã đảo ngược thói quen cảm thụ thông thường của con người, ấy là vốn thích nhìn thấy khởi đầu trước khi chấp nhận sự kết thúc.
 
Hoa rụng cũng là đạo, giống như hoa nở cũng là đạo. Cách nhìn này rất gần với tư duy Dịch học của Nho gia, đồng thời cũng hòa vào cảm thức Phật giáo về vô thường, nói đến mọi sự hiện hữu trên đời đều nương vào duyên mà thành rồi theo duyên mà đổi, tất cả những biến động đều nằm trong thế xoay vần liên tục, không có điểm dừng tuyệt đối nào.
 
Sang hai câu “Sự trục nhãn tiền quá, lão tùng đầu thượng lai”, bài kệ chuyển từ thiên nhiên sang nói chuyện đời người, mà giọng điệu của Sư vẫn rất điềm nhiên, giống như cách Khổng Tử từng nói về trời đất rằng: “Thiên hà ngôn tai? Tứ thì hành yên, bách vật sinh yên 天何言哉? 四時行焉百物生焉, tức trời không nói gì nhưng bốn mùa vẫn vận hành, vạn vật vẫn sinh sôi nảy nở.
 
Điều này gặp gỡ tư tưởng Phật giáo về vô thường và luân hồi, ví như chuyện sinh, lão, bệnh, tử vốn là những trạng thái tất yếu của đời sống, được cấu thành bởi nhân duyên. Hiểu được chúng không phải "những cột mốc cần vượt qua cho xong", con người sẽ không phải sợ hãi trước sự biến đổi, cũng không cần bám chấp vào một trạng thái cố định nào trong đời. Chỉ trong hoàn cảnh đó, con người mới thật sự hình thành cái gọi là tâm thái an nhiên.
 
“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, đình tiền tạc dạ nhất chi mai”, đây ắt hẳn là hai câu thơ quá đỗi quen thuộc đối với những người học chữ Hán. Sau bao lớp diễn giải, sau những gì đã nói về xuân, về hoa, về đời người, điều còn đọng lại sâu sắc nhất lại chính là một nhành mai đứng lẳng lặng trong sân trước, vào đêm qua. Nó sâu sắc đến mức hầu như đã trở thành một phản xạ ký ức với bao lớp thế hệ người đọc. Nếu đặt cạnh cảm xúc cô tuyệt “tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giả” của Trần Tử Ngang trong Đăng U Châu đài ca, thì mới thấy "đình tiền tạc dạ nhất chi mai" của Mãn Giác Thiền Sư thật sự rất "thiền".
 
“Nhất chi mai” không đứng trong nỗi cô đơn mênh mông, mặc dù cành mai ấy chỉ có một mình song lại không hề gợi cảm giác trống vắng của con người khi đối diện vũ trụ. Không sinh để vui, không diệt để buồn, cành mai ở ngay trước sân chứ không ở cõi khác, trong kinh sách hay xuất hiện sau đoạn tận sinh tử, chỉ cần ta nhìn qua là thấy. Nó chẳng tượng trưng cho điều gì khác ngoài chính nó, và thật ra chính sự hiện diện ấy âu đã đủ để người ta suy nghĩ về nó rất lâu rồi.
 
                                                                        Bài viết của Khánh Ly

Không có nhận xét nào: