BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

TỪ MỘT CÀNH MAI ĐẾN MỘT MÁI CHÙA – Trần Kiêm Đoàn



Nhân lễ tưởng niệm 20 năm ngày Hòa Thượng Mãn Giác – Thi sĩ Huyền Không viên tịch. Tôi được Ban Tổ chức phân công phát biểu đôi điều qua trải nghiệm thân quý là sinh viên của Thầy tại Đại Học Huế. Thời gian yêu cầu là 10 phút. Dạ tôi xin bắt đầu:
 
Hai hồn thơ Mãn Giác và một dòng tâm thức Việt
 
Mãn Giác Thiền sư thời Lý (1052–1096).
Mãn Giác Thiền sư thời hiện đại (1929–2006).
 
Hai bậc chân tu cùng một pháp danh, cách nhau gần một nghìn năm lịch sử, nhưng dường như đã gặp nhau trong một cõi thi ca không có tuổi.
 
Ngày xưa, Cao Bá Quát từng nói đến bốn bồ chữ của thiên hạ. Nguyễn Công Trứ lại ung dung giữa cuộc đời mà “ngâm một câu thơ vỗ bụng cười”. Chữ nghĩa có thể chất đầy kho sách, nhưng rốt cùng, ngôn ngữ vẫn chỉ là những ký hiệu tạm thời chuyên chở cảm xúc và tư tưởng. Có những điều càng giải thích càng xa. Có những câu thơ vừa đọc lên đã nghe lòng mình chạm đến một miền sâu thẳm không lời.
Thi ca huyền diệu có lẽ ở chỗ đó.

Một nghìn năm trước, Mãn Giác Thiền sư để lại bài kệ Cáo Tật Thị Chúng, vỏn vẹn sáu câu, mà hai câu cuối đã vượt qua bao cuộc thịnh suy:
 
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
 
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một cành mai.
 
Một cành mai thôi mà nghìn năm qua đã làm nở ra không biết bao nhiêu mùa suy tưởng. Từ những học giả uyên bác đến người yêu thơ bình dị, ai cũng có thể tìm thấy trong đó một chút tâm tình, một thoáng triết lý riêng mình. Đôi khi người ta còn đem cả điều mình muốn thấy vào thơ, như chuyện “trái ấu khi thương cũng tròn”!
 
Cũng chẳng sao.
 
Thơ vẫn là thơ. Cành mai vẫn là cành mai. Người đời cứ luận bàn, còn cành mai của Mãn Giác vẫn lặng lẽ nở giữa sân thiền, không bận tâm ai đúng ai sai.
 
Một nghìn năm sau, lại một Mãn Giác khác đi vào lòng người Việt bằng hình ảnh thân thương không kém:
 
Mái chùa che chở hồn dân tộc,
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
 
Nếu cành mai của Mãn Giác đời Lý mở ra chân trời giải thoát thì mái chùa của Mãn Giác Huyền Không thời hiện đại lại mở ra chân trời văn hóa và tình tự dân tộc.
 
Cành mai nở giữa vô thường. Mái chùa đứng giữa phong ba lịch sử. Một bên gợi sự tỉnh thức trước sinh diệt, một bên chuyên chở ký ức tâm linh của bao thế hệ. Nhưng trong chiều sâu tâm thức Việt Nam, cả hai đều là những hình ảnh thân thiết của một quê hương tinh thần.
 
Cành mai không giữ mùa xuân cho riêng mình. Mái chùa cũng chẳng giữ bóng từ bi cho một người hay một thời đại. Hoa cứ nở rồi tàn. Chuông cứ ngân rồi lặng. Chỉ có lòng người, khi biết trở về, mới nhận ra những gì tưởng đã mất đôi khi vẫn còn nguyên vẹn trong một miền sâu kín.
 
Mới đó mà đã hai mươi năm từ ngày Hòa thượng Thích Mãn Giác viên tịch. Và cũng gần sáu mươi năm kể từ những ngày tôi còn là sinh viên Đại học Văn khoa Huế, được theo học lớp thỉnh giảng về lịch sử tư tưởng và triết học với hai vị giáo sư mà hình ảnh đến nay vẫn in đậm trong ký ức: Hòa thượng Thích Mãn Giác và Linh mục Nguyễn Ngọc Lan.
 
Nhắc đến Thầy, tôi không chỉ nhớ một vị giáo sư uyên bác hay một bậc cao tăng có ảnh hưởng trong sinh hoạt Phật giáo Việt Nam. Tôi còn nhớ một ông thầy rất Huế, gần gũi, cởi mở, có lúc hóm hỉnh và luôn dành cho tuổi trẻ một sự quan tâm chân tình.
 
Kỷ niệm về Thầy bắt đầu từ những năm tôi còn sinh hoạt Gia Đình Phật Tử Liễu Hạ. Mỗi lần đoàn thiếu nhi chúng tôi gánh gạo mới từ làng quê lên chùa Châu Lâm thăm Ôn Bổn Sư, thế nào cũng ghé chùa Thiên Minh thăm Thầy Mãn Giác.
 
Đám trẻ nhà quê áo lam, gánh gạo trên vai, đến chùa với tấm lòng thành kính đơn sơ. Thầy đón chúng tôi bằng sự thân tình. Có khi được uống nước ngọt bỏ đá lạnh, có khi được ăn trái cây vừa cúng Phật, có khi lại được thưởng thức bữa cơm chay thơm phức do mấy dì Phật tử tiểu thương chợ Đông Ba lên chùa nấu nướng.
 
Bây giờ nghĩ lại, những ly nước ngọt có đá lạnh ngày ấy sao mà ngon đến lạ! Ngon không chỉ vì tuổi nhỏ hiếm khi được uống nước ngọt, mà còn vì trong vị ngọt ấy có cả bóng mát sân chùa, tiếng cười bạn bè và tấm lòng một vị thầy thương đàn con trẻ.
 
Có những bài học đạo lý không cần đến một lời thuyết pháp. Một chén cơm chay, một ly nước mát, một nụ cười hiền cũng đủ theo người ta suốt cuộc đời.
 
Huế vốn được xem là một trung tâm Phật giáo lâu đời của đất nước. Những ngôi cổ tự bên đồi thông, dưới bóng cây đại thụ, bên dòng Hương Giang lặng lẽ đã trở thành một phần máu thịt của văn hóa cố đô. Nhưng sau biến cố Phật giáo năm 1963, tinh thần Bi, Trí, Dũng không còn chỉ là những lời nhắc nhở trong kinh sách mà trở thành sức mạnh dấn thân giữa cuộc đời.
 
Trong bối cảnh ấy, sự trở về của Thầy Mãn Giác sau thời gian du học Nhật Bản mang ý nghĩa đặc biệt đối với giới trí thức và sinh viên Huế. Thầy là hình ảnh một vị “thiền sư xuống núi”, am hiểu Phật học và triết học Đông Tây nhưng không khép mình trong tháp ngà học thuật.
 
Tôi vẫn nhớ một hình ảnh rất vui, rất Huế.
 
Thầy Mãn Giác đi chiếc xe Mobylette màu xanh, phía sau chở Linh mục Nguyễn Ngọc Lan mặc áo chùng đen, từ cư xá Đại học lên giảng đường Morin để dạy triết học.
 
Một thầy chùa chở một ông cha!
Mấy đứa trẻ bên đường nhìn theo, ngạc nhiên rồi reo lên bằng giọng Huế hồn nhiên:
 
“Coi thầy chở cha, ngụy chưa tề!”
 
Tiếng cười bật lên giữa phố. Nhưng đằng sau câu nói trẻ thơ ấy là hình ảnh đẹp về sự gặp gỡ giữa những con người khác tôn giáo mà cùng chung thao thức giáo dục và phụng sự.
 
Đạo Phật nhập thế đâu nhất thiết phải bắt đầu bằng những tuyên ngôn lớn lao. Đôi khi, chỉ cần một chiếc Mobylette cũ, một thầy chùa và một linh mục cùng đến giảng đường cũng đủ nói lên tinh thần cởi mở mà bao cuộc hội thảo liên tôn chưa chắc diễn đạt trọn vẹn.
 
Sau năm 1975, sinh hoạt Phật giáo Việt Nam bước vào giai đoạn nhiều đổi thay và thử thách. Tháng Tư năm 1976, tôi được mời tham gia một phái đoàn Phật tử Huế, với tư cách cựu huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, vào Sài Gòn vấn an chư tôn đức và thỉnh ý về phương hướng sinh hoạt trong hoàn cảnh mới.
 
Tại chùa Xá Lợi, người tiếp phái đoàn là Thầy Mãn Giác. Trước buổi gặp chung, tôi có dịp thăm riêng Thầy với tư cách một người học trò cũ. Thầy vẫn thân tình, cởi mở nhưng thẳng thắn khi nói về tương lai Phật giáo Việt Nam.
 
Điều tôi nhớ nhất là quan niệm của Thầy về một tổ chức Phật giáo có khả năng dung hợp các truyền thống khác nhau, tôn trọng sự độc lập trong sinh hoạt tôn giáo và đặt tinh thần lục hòa lên trên những khác biệt về tổ chức. Thầy nhắc đến tinh thần thống nhất của Tổng hội Phật giáo Việt Nam được hình thành tại chùa Từ Đàm năm 1951.
 
Theo cách nhìn ấy, thống nhất không nhất thiết là đồng nhất. Lục hòa không có nghĩa mọi người phải nghĩ giống nhau, nói giống nhau hay đi cùng một con đường. Lục hòa trước hết là biết sống chung trong sự tôn trọng, biết đặt điều lớn lên trên điều nhỏ và nhận ra những khác biệt về phương tiện không nhất thiết làm chia cách những người cùng chung lý tưởng.
 
Sau khi sang Hoa Kỳ định cư, tôi lại có dịp gặp Thầy tại chùa Việt Nam ở Los Angeles và trong một số sinh hoạt Phật giáo về sau. Từ những mái chùa xứ Huế đến những ngôi chùa Việt giữa lòng nước Mỹ, hoàn cảnh đã đổi thay nhưng ở Thầy vẫn là mối quan tâm nhất quán: làm thế nào để Phật giáo Việt Nam giữ được bản sắc, tinh thần hòa hợp và khả năng đồng hành cùng dân tộc.
 
Hai mươi năm trước, khi Hòa thượng Thích Mãn Giác viên tịch, chúng tôi đến chùa Việt Nam ở Los Angeles để đảnh lễ và bái biệt Thầy.
 
Đứng trước di ảnh, tôi nhớ lại biết bao hình ảnh của một đời người: vị trụ trì chùa Thiên Minh hiền hòa với đàn thiếu nhi áo lam; vị giáo sư đi xe Mobylette xanh chở ông linh mục áo chùng đen trên đường phố Huế; vị tu sĩ thao thức về sự hòa hợp Phật giáo; và nhà thơ Huyền Không đã để lại cho đời những câu thơ giản dị mà thấm sâu tình tự dân tộc.
 
Hôm nay, nhân lễ tưởng niệm hai mươi năm ngày Thầy viên tịch tại Tu viện Huyền Không, San Jose, tôi lại có dịp trở về với những kỷ niệm xưa. Tuổi đời đã bước qua nhiều mùa xuân thu. Những người thầy một thời lần lượt đi xa. Bạn bè đồng môn, huynh trưởng, đoàn sinh năm cũ cũng kẻ còn người mất. Nhưng có những điều càng đi qua năm tháng càng trở nên gần gũi, như tiếng chuông chùa vọng lại từ một buổi chiều rất xa.
 
Tôi nghĩ đến cành mai của Mãn Giác Thiền sư ngàn năm trước. Tôi nghĩ đến mái chùa của Mãn Giác Huyền Không ngàn năm sau.
 
Một cành mai không sợ xuân tàn. Một mái chùa không ngại phong ba.
 
Nếu cành mai là biểu tượng của sự tỉnh thức trước vô thường thì mái chùa là biểu tượng của lòng người biết tìm về cội nguồn. Một bên mở ra chân trời giải thoát, một bên nuôi dưỡng tình thương và ý thức cộng đồng. Hai hình ảnh ấy bổ sung cho nhau, như trí tuệ và từ bi, như xuất thế và nhập thế, như một đời tu và một đời thơ.
 
Tôi vẫn mong một ngày, những người con Phật Việt Nam, dù thuộc truyền thống, hệ phái hay tổ chức nào, dù ở quê nhà hay nơi đất khách, đều có thể cùng nhìn về một mái chùa chung trong tinh thần lục hòa. Không phải thống nhất để mọi người trở thành giống nhau, mà hòa hợp để những khác biệt không còn là nguyên nhân của phân tranh.
 
Trong tâm tưởng, tôi vẫn nghe vang vọng lời ca của nhạc sĩ Lê Cao Phan:
“Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc Trung Nam từ đây...”
 
Ước mong ấy, qua bao thăng trầm, vẫn đẹp như một giấc mơ chưa cũ.
 
Và giữa giấc mơ ấy, tôi chợt thấy một cành mai đang nở trước sân chùa. Không biết đó là cành mai của Mãn Giác ngàn năm trước hay cành mai của một mùa xuân chưa đến.
 
Chỉ thấy mái chùa vẫn đứng đó, lặng lẽ dưới trời mây.
Tiếng chuông ngân lên rồi tan vào khoảng không.
Mây trắng thong dong.
 
Và trong một thoáng vô ngôn, hai hồn thơ Mãn Giác dường như đã gặp nhau.
 
                                                           Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn
 
Nhân lễ tưởng niệm 20 năm ngày viên tịch của Hòa thượng Thích Mãn Giác
Thi sĩ Huyền Không (2006 - 2026).
Tu viện Huyền Không, San Jose, California.

Không có nhận xét nào: