BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

ĐOÀN PHÚ TỨ, HÀO HOA PHONG NHÃ MÀ QUYẾT LIỆT – Vũ Đình Hoè



Về một vài nhân vật trong ảnh "Khách thỉnh-1935" cụ Hòe có bài viết sau này trong sách hồi kí cuối cùng "Gương mặt những người cùng thế hệ", in trong Nam, khó tìm được ở Bắc. Bởi vậy tôi xin chia sẻ dần với các bạn.

Đoàn Phú Tứ sinh năm 1910 tại Hà Nội, tốt nghiệp Tú tài Tây, vào học Luật khoa Đại học Đông Dương, nhưng đến năm thứ hai thì bỏ, chuyển sang nghề báo, cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội báo, Tinh Hoa, Thanh Nghị. Ông và Thế Lữ là những người sáng lập nền kịch nói Việt Nam hiện đại, thành lập ban kịch nói Tinh hoa, sáng tác kịch, đạo diễn và làm diễn viên trong nhiều vở, từng trình diễn trên Nhà hát lớn thành phố Hà Nội như Ghen, Ngã ba… 

Năm 1941 ông sáng tác bài thơ “Màu thời gian” nổi tiếng, năm 1942 cùng với Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Xuân Khoát sáng lập nhóm Xuân thu nhã tập, với tuyên ngôn nghệ thuật gồm ba nguyên lý nhất thể là Trí thức – Sáng tạo – Đạo đức, nhằm đưa nền văn học nghệ thuật thời đại Thơ mới thoát ra khỏi ngõ cụt của “cái Tôi” cực đoan. 

Sau Cách mạng tháng 8 - 1945 Đoàn Phú Tứ được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa I, đi tham gia Kháng chiến, làm giảng viên trường Văn hóa Kháng chiến khu IV, nhưng rồi năm 1951 bỏ về Hà Nội, từ đó chuyên dạy ngoại ngữ, văn học Việt Nam và Pháp ở Đại học văn khoa và ở trường Albert Sarreau. 
Từ sau năm 1954, ông bị coi là phần tử “đào nhiệm”, mất vị trí giáo sư, cuộc sống của gia đình ông rất khó khăn, nguồn thu nhập chủ yếu là đồng lương giáo viên cấp I của người vợ tần tảo, nhận gia công đan len để kiếm thêm nuôi một đàn con nhỏ. 

Đoàn Phú Tứ và cô nữ sinh Nguyễn Thị Khiêm, vợ tương lai của nhà thơ

Hoạt động sáng tạo chủ yếu của Đoàn Phú Tứ bị giới hạn trong lĩnh vực dịch thuật, dưới bút danh Tuấn Đô. Cũng là nhờ sự can thiệp tình cờ của một cán bộ lãnh đạo, ông mới được các nhà xuất bản ký hợp đồng dịch sách. Năm 1984 ông được giải thưởng dịch thuật của Hội Nhà văn Việt Nam. Đoàn Phú Tứ mất năm 1989 trong nghèo túng. Gần đây tên tuổi của nhà văn hóa tài hoa này mới được tôn vinh bằng cách đặt tên ông cho một đường phố ở Đà Nẵng và ở T.P Hồ Chí Minh].

Nhóm diễn kịch Ghen tối 13 - 03 - 1937 trên Nhà hát lớn Hà Nội (trái sang, ngồi: Thế lữ - đạo diễn, Vũ Đình Hòe - vai nhà báo Linh, Phú Tứ - tác giả kiêm vai Tuấn; đứng: bà Minh Trâm, vai mẹ Linh, bà Lê Đình Quị, vai Kim vợ Tuấn, bác sĩ Lê Đình Quị, cô Khánh Vân, vai em gái Kim - Ảnh album gia đình VĐH.

... Cứ chiều chiều, Tứ đến rủ Ngọc  hoặc tôi đạp xe tới cổng trường “đầm non” ở Félix Faure đón hai bóng từ trường ra. Cả hai bước lên chiếc “xe tay” nhà, vén gọn những tà áo lụa tím phất phơ: một dong dỏng cao, dáng quý phái – cô Mộng Chi, quê ở Huế; một, mảnh mai, hiền dịu đôi mắt bồ câu đen nhánh – cô Vân, con cụ Nguyễn VănVĩnh, chị ruột thi sĩ trẻ Nguyễn Nhược Pháp (học sinh Lycée Albert Sarreau, mấy lớp sau Tứ).
Chúng tôi theo hút, hướng về phía hồ Tây – trường Bưởi. Rồi đạp ngoắt lên đê Parreau  dựng xe, ngồi phệt xuống bờ. Dưới chân đê là một biệt thự, vườn rộng, hàng rào tầm xuân bao quanh.
Có tiếng dạo đàn. Từ cửa sổ gác biệt thự, bay ra những notes dương cầm thánh thót. Anh Tứ hồn như bị hút vào không trung...
Tôi không hiểu gì về nhạc Tây phương, lại sợ các bạn trọ ở nhà chờ cơm nên len lén rút lui. Tứ cứ ngồi lặng đi, đê mê... có lẽ đến khuya mới về; cả những đêm sương giá, mưa phùn. Khổ – hay sướng? – anh chàng “si”! Si giai điệu và si giai nhân.
 
“Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian không xanh,
Màu thời gian tím ngát...”
(Trích bài Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ)
 
Đúng là Đoàn Phú Tứ mê “tiếng chim thanh” “trong gió xanh”, nên “tình một thuở còn hương”! Nói vậy chứ – tôi biết – Tứ không bao giờ rời thực tế cuộc sống. Cậu ta, như hết thảy bọn tôi, quen sống rồi, với hương “nồng” nồng và màu “xanh” ngăn ngắt của những trưa hè chói chang. Anh thường đến “ngủ” trưa, tán chuyện gẫu với chúng tôi tại gác trọ cuối phố Hàng Đẫy. Tất cả nằm sóng soài trên những manh chiếu giải trùm lên sàn gác, phành phạch chiếc quạt nan. Cũng chính ở đấy, trong tư thế ấy, anh Tố Lang (Vũ Văn Tân), kể về cuộc đời “oanh liệt” của mình. Anh là một đảng viên Q.Z. đang bị truy nã vì đồng lõa trong vụ trừ khử Thị Nhu, Thị Uyển ở Hải Phòng (1930); bằng nhiều thủ đoạn láu lỉnh nên anh vẫn cứ thoát khỏi bẫy của mật thám. Đoàn Phú Tứ (và Thế Lữ) mải mê nghe, còn ghi chép nữa; có lẽ hai người tìm được ở đó những tư liệu sáng tác văn nghệ.
 
Tuy ấp ủ một “khối tình con” trong suốt và nên thơ, anh Tứ lại vẫn có thể tả được khá thật cái cảnh tượng gia đình của “Hai vợ chồng” (kịch đăng trong Thanh Nghị) nọ, qua mấy tuần trăng mật tất nhiên là đằm thắm, phải kéo lê thê những ngày tẻ nhạt, rồi bực mình, rồi gắt gưởi nhau, rồi dằn dỗi... vì những va chạm không đâu, vì những sở thích lặt vặt không hợp. Cứ thế, tích lũy sự nhàm chán đến mức anh chị đột ngột lìa nhau... để rồi hình như nhớ nhau, thương hại nhau, nên lại tìm gặp nhau! Bà vú già hiền hậu, trung thành, xót xa cho sự lủng củng giữa “cậu mợ”, cứ ra sức vun vào... “Kịch” hơn nữa là chuyện suýt đổ vỡ của một gia đình khác, gây bởi máu ghen vu vơ của đức ông chồng (vở Ghen). Ông ghen với ngay người bạn của mình, một nhà báo, thường qua lại chuyện trò khi ông có nhà... và cả khi ông vắng nhà – lần này “đúng” là “hắn” có biết ông vừa đi khỏi. Thế là, vốn sẵn lòng ngờ, ông sinh sự với vợ, một người rất mực đoan trang. Bằng những xét nét tinh vi, hoặc những mỉa mai cay độc, ông làm khổ vợ. Sự suy diễn ngộ nghĩnh của ông, mà cũng không phải là hoàn toàn vô lý (theo kiểu phân tích của ông) đã đẩy cả vợ ông lẫn bạn ông vào tình thế lúng túng. Họ càng lúng túng thì ông càng yên trí điều mình nghi ngờ có thực. Suy đoán sai sự thực; nhưng có một sự thực khác, một sự thực mới phát sinh do chính ông tạo ra thì ông không biết. Đó là tình huống éo le đã khiến cho vợ ông và bạn ông cứ xích lại gần nhau mà than thở, có lúc gần như thông cảm với nhau... Phảng phất một tình ý gì không bình thường. Phía “nhà báo” thì rõ, vì thốt ra lời. Phía người phụ nữ thì chưa rõ lắm. May mà cái sự thực ấy mới chỉ xảy ra một giây, rồi tắt: “nhà báo” đã kìm lại được cảm xúc bồng bột. Yêu thực chăng? Có thể. Nhưng...
Vở kịch kết thúc ở đấy. Người xem hể hả.
 
Đến hôm nay, hãy cho phép tôi “bật mí”. Trong bản thảo vở kịch, Đoàn Phú Tứ cho câu chuyện rắc rối trên kết thúc khác cơ. Nghĩa là: cho “nhà báo - bạn” của ông chồng dại dột... cuối cùng đã “tấn công” người đàn bà. Muốn “thừa gió bẻ măng” mà! Âu cũng là tự nhiên, trong tập quán sinh hoạt của xã hội không Việt Nam.
Nhưng khi tập diễn, tôi (đóng vai ông bạn - “nhà báo”) cảm thấy trong sự chuyển biến tâm lý của nhân vật theo kiểu đó, có cái gì gờn gợn không ổn, không hợp với óc thẩm mỹ của khán giả người Việt. Tôi mạnh dạn gợi ý với tác giả. Đoàn Phú Tứ sau một lúc suy nghĩ, chấp thuận đổi hướng kết thúc, theo kiểu tôi đã gợi – có lẽ hợp đạo lý hơn.
 
Sở dĩ tôi lộ “bem” là vì muốn chứng minh rằng tính cách con người Đoàn Phú Tứ là thế đấy, khá “ngang tàng” nhưng không phải không biết phục thiện, tuy lối suy nghĩ có chịu ảnh hưởng phong độ Tây phương, nhưng về chiều sâu vẫn kế thừa đậm nét cốt cách dân tộc. Quả thật, từ đầu tóc bù xù, loăn xoăn, mũi dọc dừa, ria lún phún, bước đi, giọng nói, dáng nhếch mép cười tủm... cho đến tứ văn, lời kịch, bút pháp, ngôn từ... ở Tứ, tất cả rất “Tây”. Ai mới quen cũng nghĩ ngay anh chàng theo xu hướng tự do, lãng mạn, tùy hứng, phóng túng, tí chút buông thả. Nhưng gần gụi lâu thì lại mến tính anh vui vẻ, hồn nhiên, ít tư lự về chuyện đời. Ưa hào hoa phong nhã, ghét bon chen, cầu cạnh. Ghét tính toán vun vén cá nhân, chi li từng đồng xu, chén tương, quả cà! Tuy nhiên, nếu cần lại quan tâm tinh tế đối với bố mẹ, anh em, vợ con, bạn bè, láng giềng, đồng hương!... Suốt thời gian dài kháng chiến, tôi không gặp anh.
 
Phùng Quán kể chuyện: có lần Đoàn Phú Tứ từ Thanh Hóa lên Việt Bắc dự cuộc họp văn nghệ sĩ. Sau đó người ta mời anh tới một đám cưới linh đình giữa rừng sâu, đèn măng sông như sao sa, sâm banh, xì gà, sơn hào hải vị bày la liệt; chủ hôn là vị Cục trưởng quân nhu – “Mạnh thường quân” Trần Dụ Châu. Trong cơn say sưa bởi những lời chúc tụng, Đại tá Cục trưởng mời thi sĩ Đoàn phát biểu. Tứ đứng lên, nhìn ông chằm chằm:
 
“Anh em rủ tôi đến đây, yến tiệc ồn ào, cực kỳ vui vẻ làm tôi bỡ ngỡ... Mấy ngày vừa rồi, tôi len lỏi qua nhiều cảnh hãi hùng... Thôn xóm tan hoang, khói lửa đây đó còn nghi ngút, thây chiến sĩ chưa vùi kịp, phơi xương... Thật quả, tôi không thể đụng vào món ăn nào của Cục trưởng cả. Vì đau xót! Vì xấu hổ! Phè phỡn đến thế này, xa xỉ đến thế này ư?”.
 
Chợt viên sĩ quan cận vệ của Đại tá nhảy tới vả vào miệng Đoàn Phú Tứ. Thi sĩ lặng lẽ cúi đầu nhổ toẹt một bãi nước bọt vào cốc rượu đầy, rồi lẳng lặng rũ áo rời khỏi... bữa đại yến ghê tởm ... Nghe chuyện này tôi không lạ. Tứ là thế. Chuyện lạ là đây cơ:
Sau Điện Biên Phủ, Chính phủ lại về lại thủ đô. Tôi tìm đến chơi Đoàn Phú Tứ, thấy anh đã xây “tổ ấm”: vừa lạ, vừa mừng quá! Chị là học trò cũ của anh, trẻ, đẹp, mảnh mai, mắt đen, dịu hiền (có lẽ cũng hay mặc áo lụa màu tím?) – và chị vốn rất thích nghe anh giảng văn!  Hai cháu nhỏ, xinh, ngoan...
 
Bẵng đi mấy năm. Qua lời chị Song Kim kể với mấy bạn sân khấu, anh chị Tứ đang gặp khó khăn: thêm con, chị yếu, anh thôi dạy học. Biết tính anh, bạn bè thường giúp bằng cách: tháng một đôi lần, rủ nhau lên chơi mua sẵn thực phẩm tươi, chủ khách cùng “xoay trần” xào nấu “chén” với nhau một bữa rôm rả, chủ yếu tạo cái vui cho các cháu; phần dư chưa chế biến thì để lại các cháu tập làm bếp.
 
Một hôm, cơn gió hè làm bật cửa phòng tôi ở. Anh Tứ ùa vào, hoa tay rối rít báo tin anh vừa dịch xong tập kịch Ibsen. Nhà xuất bản đang in. Số phát hành hạn chế, vì chắc độc giả mình chưa quen kiểu kịch này. Sẽ in mấy chục bản đặc biệt, giấy tốt, giá cao, cố nhiên. Anh nói đã dành cho tôi một quyển. Tôi xin năm quyển. Và, hiểu ý anh, tôi dốc hết tiền túi, gần hết tháng lương vừa lĩnh, đặt trước.
 
Tiễn anh ra về, tôi nghĩ không khéo mình “hớ hênh”. Bèn dặn với: “Trời tối rồi. Về nhà ngay đi. Các cháu đang chờ bố Tứ, đòi quà đấy!”. Tôi cứ phấp phỏng. Chỉ lo khi anh đạp xe qua Taverne Royale  thuở ấy, mấy bạn văn ngồi nhậu bia ở đấy, thì tránh sao khỏi không vẫy ông vào. Và chắc chắn, gọi là chỉ một loáng, ông sẽ nướng hết món tiền nhỏ đặt mua sách cho mà xem!
...
Anh Tứ đã đi xa. Gia tài văn chương anh để lại cho đời không nhỏ. Nhưng tôi cứ thành thực “phát biểu” rằng giá anh làm việc có quy củ hơn, bền bỉ hơn, thì sự nghiệp kịch của anh còn có thể phong phú hơn rất nhiều. Tiếc quá!
 
Riêng đối với báo Thanh Nghị, anh thiết tha đến mức đã dành cho chúng tôi gần như tất cả những đóa hoa đầu mùa thơm ngát nhất do anh vun xới. Kịch Ngã ba đã giúp chúng tôi nhiều trong việc phân tích tâm trạng của lớp thanh niên trí thức một thời nô lệ sôi sục chiến tranh thế giới. Những ý kiến của Đoàn Phú Tứ và nhóm Xuân Thu nhã tập về quan niệm thơ là nhạc, thơ là vũ trụ, là vô cùng, là đạo, về vai trò của tiềm thức và vô thức trong sáng tác, về kho tàng âm thanh trong tiếng nói Việt Nam, v.v... là những đóng góp vô cùng quý giá đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng văn nghệ và triết học ở nước ta, ở các nước phương Đông... Riêng thái độ độc lập suy nghĩ và phong độ kẻ sĩ có vẻ ương bướng của anh, bất khuất trước bất cứ loại uy vũ nào cũng đủ làm gương cho nhiều thế hệ già, trẻ – tôi nghĩ thế.
 
Anh Tứ ơi!
Tôi thắp nén nhang, cúi đầu trước di ảnh của anh.
Bức ảnh chụp anh ngồi giữa – anh nhớ không? – đầu hơi ngả về đằng sau, miệng nhếch mép cười một cách tự nhiên và hơi “tự do” một chút. Không sao, tôi rất mến anh. Xung quanh anh là mấy bạn thân, diễn viên và đạo diễn của vở kịch Ghen mở màn cho nghề kịch chuyên nghiệp. Tôi còn ghi mãi trong óc dòng chữ tự tay anh viết trên tấm ảnh Anh tặng tôi:
“Gửi cho Vũ Đình Hòe, người bạn đã làm tôi ghen lồng ghen lộn cái đêm hôm ấy!”
                                                                                   Vũ Đình Hòe

Không có nhận xét nào: