BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

BÚT LỰC MỘNG BÌNH SƠN - Vũ Hùng Khanh


                         

Trước 1975, chúng ta nếu thích đọc truyện Tàu, truyện kiếm hiệp và cả truyện Tây được dịch lại từ nguyên bản, thì chắc chắn phải biết tên tác giả - dịch giả Mộng Bình Sơn. Một cây bút sung sức, nhưng cũng đến lúc phải ẩn dật, đúng nghĩa không quan tâm thế sự bên ngoài đang diễn biến thế nào, kể cả chuyện người ta khai thác vô giới hạn các tác phẩm của mình!

              

Mộng Bình Sơn tên thật là Phan Canh, sinh năm 1923, quê quán ở thôn Thọ Sơn, xã Nhơn Thọ, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông mất vào tháng 5/2011.

Sinh thời lúc còn trẻ, Mộng Bình Sơn là một chàng trai tài hoa, rất phong lưu và lãng mạn. Người ta biết nhiều về ông sau này với vai trò là một dịch giả (Tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa - Tiểu thuyết phiêu lưu Pháp) nhưng ít ai biết, trước khi viết văn, trong thời kỳ long đong phẫn chí, ông đã từng làm Thơ. Mặc dù không có tác phẩm Thơ đăng, nhưng một số công trình sưu khảo và biên soạn về văn học, nghệ thuật; đặc biệt về thi ca như Khuynh Hướng Thi Ca Tiền Chiến, Thi Ca Bình Dân Việt Nam (Đồng tác giả - Nguyễn Tấn Long), Thi Nhân Việt Nam (Thế hệ 1953-1975), Nghệ Thuật Làm Thơ… đã cho thấy sự am tường sâu sắc của ông đối với Thơ. 

Trong sự nghiệp văn chương của mình, với nhiều bút danh khác nhau mà bút danh nào cũng quen thuộc, như Mộng Bình Sơn, Phan Canh, Phan Cảnh Trung, Phan Hồng Trung, Hồng Trung, Hùng Phương, Nguyễn Quân, Phan Quân, có vẻ như ông đã tham gia hầu hết các lĩnh vực sáng tác, văn học nghệ thuật, phê bình, khảo cứu, biên soạn, sưu tầm, dịch thuật. Xa hơn nữa, có thể nói ông là một trong những người đi tiên phong khai sinh ra dạng tiểu thuyết kiếm hiệp “made in Việt Nam”, sau khi chính mình đi mở đường biên dịch các tác phẩm võ hiệp kỳ tình từ bản gốc Trung Hoa.

Phan Canh là con thứ 13 của một gia đình chức sắc thời Vua Bảo Đại, học đến trung học, nhưng thi Tú tài Tây không đỗ, lại chịu ảnh hưởng nhiều từ nền Tây học, giao du và quan hệ nhiều với người Pháp nên ông thạo tiếng Pháp hơn tiếng Hoa mà về sau, do quyết chí tự học rồi thành tài với ngoại ngữ thứ hai này. Năm 1946, ông theo học một lớp đào tạo Tư pháp tại Bồng Sơn, rồi được bổ vào làm Thẩm phán tại Tòa tỉnh Phú Yên (Chính phủ quốc gia miền Nam Việt Nam - thời chính phủ Bửu Lộc). 

Chuyện kể lại: Một lần ông tham gia điều tra, xét xử một vụ án làm tiền giả - Bị án là một cô gái trẻ đẹp. Sau khi tận mắt thấy cô ấy thao tác lại các công đoạn làm tiền giả rất tài tình như thế, người Thẩm phán trẻ đã vô cùng thán phục cô, để sau đó, đã tìm mọi cách tháo gỡ cho cô được giảm án và chính sự yếu lòng không đúng lúc như thế trước phái đẹp đã gây cho ông nhiều rắc rối rất đáng tiếc.

Không lâu sau đó (1955), chính vì vụ ấy mà ông bị tố giác về tội đồng lõa và bao che, nên bị tước bỏ chức vụ và bị bắt giam vào nhà lao Gia Định. Nhà lao này lúc bấy giờ giam giữ phần lớn là tù nhân chính trị, ngoài tổ chức Việt Minh còn có Lực lượng Bình Xuyên, các tổ chức giáo phái khác như Cao Đài, Hòa Hảo, và cả Phật Giáo. Thời gian này, Phan Canh viết trong tù một số bài thơ về thế cuộc, đả phá chế độ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm; cám cảnh xương rơi, thịt nát của đồng bào cả nước; chia sẻ tình cảm và tinh thần bất khuất của những bạn tù. 

Sau khi được trả tự do (1956), ông về lại Quy Nhơn với hy vọng sẽ tìm một công việc nào đó đáng đồng tiền bát gạo, nhưng thời thế binh biến, loạn lạc với bao tâm trạng và thân phận bị dày vò, bất ổn luôn ám ảnh ông khiến ông ngộ ra, tìm được việc là không dễ. Không thể khác, Phan Canh vùi đầu vào ngọn bút và viết tiểu thuyết xã hội Thác Loạn, diễn tả tâm tình của giới học sinh ở ngay Qui Nhơn vào thời kỳ 1939-1945. 

Nghề Thẩm phán trước kia giờ đã xa vời và không còn là đất cho ông diễn nữa, nên ông bắt đầu chú tâm và chuyển hẳn sang nghề viết văn, vốn là năng khiếu thiên phú. Sau Thác Loạn, là bộ tiểu thuyết dã sử Bóng Hoa Rừng viết về cuộc đời và sự nghiệp kháng Pháp của nhân vật Mai Xuân Thưởng trong phong trào Cần Vương của Duy Tân. Nhưng hầu hết các tác phẩm thơ cũng như văn của ông, về sau được nhận xét là không thể hiện tính sắc bén, quyết liệt, một mất một còn như những tác phẩm của các tác giả khác đứng trong hàng ngũ phản kháng. Cái nhìn của ông đối với giặc Pháp là khẳng định ý chí quật cường của con người Việt Nam, mong muốn gìn giữ những gì tươi đẹp, bình yên của đất nước khi đang bị ngoại bang chà đạp. Nhưng với chính những người lính Pháp ấy, ông lại mang một niềm cảm thông, chia sẻ như những người bạn cần phải khoan dung, độ lượng với họ. Tinh thần này thể hiện rất rõ trong bài thơ Một Thế Kỷ Mấy Vần Thơ, hợp với tình cảm và tính cách của Phan Canh:

... Ngày anh đến đây,
Cửa Đà Nẵng tan hoang vì đại bác,
Xác anh hùng, dinh lũy hóa tro bay.
Giữ Gia Định, Duy Ninh liều mạng thác,
Ôm quốc kỳ tử tiết giữa trùng vây.
Phan Thanh Giản ngậm hờn pha thuốc độc,
Bởi xâm lăng bắt nhượng nước Nam này,
Và Thăng Long máu hòa ba thước đất,
Thất kinh thành Hoàng Diệu ngã trên thây!
Hỡi ơi, xương máu đã đầy,
Chân anh lại dẫm đất này tóc tang!
Tay gươm, tay súng,
Bước nghinh… bước ngang…
Anh bắn, anh giết,
Anh đâm, anh vằm,
Anh đày Bà Ná, Côn Lôn,
Anh đọa Sơn La, Lao Bảo,
Anh giật hết cơm, hết áo,
Anh đoạt hết bạc, hết vàng.
Chặt đầu ông lão treo hàng thịt,
Mổ mật thanh niên giữa chiến trường.
Cối quết trẻ thơ văng máu óc,
Phanh thai sản phụ ném vào than!
Con xa mẹ, vợ xa chồng,
Cây hết trái, nhà trống không.
Người chìm đáy biển,
Người tấp ven sông,
Người ngã bên rừng, người gục bên suối.
Đây Cà Mau, đó Nam Quan…
Thôi rồi, dải đất Việt Nam ,
Hung hăng anh bóp trong bàn tay anh!
Nước tôi đang độ yên vui sống,
Mít ngát hương mùa, bưởi ngọt thanh.
Lúa nặng tình quê, khoai mến đất,
Không thương sao nỡ giết nhau đành!
Cắn răng tôi chịu cực hình,
Vênh râu anh hưởng công trình của tôi.
Nhưng thôi,
Hận thù nhắc mãi bao giờ dứt,
Bút mực làm sao kể hết lời.
Nhắc mãi, kể hoài thêm tủi nhục,
Hương hồn thơm ngát tổ tiên tôi.
Mấy năm khói lửa,
Ta hiểu nhau rồi.
Cái gì bạo ngược là phi nghĩa,
Là trái lòng dân, nghịch ý trời.
Sắt thép tinh ròng, binh tướng mạnh,
Không sao thắng được trái tim người.
Anh về là phải anh ơi!
Về bây giờ để cho đời quên anh !
Những cái gì tôi hận,
Những cái gì tôi khinh.
Giờ đây anh xuống tàu binh,
Trăm năm chuyện cũ, thôi mình bỏ qua.
Bao giờ tôi cũng nhớ
Nước Pháp rộng bao la,
Thành Paris rực rỡ,
Ánh văn minh chói lòa.
Côte d’Azur người thanh cảnh lịch,
Bờ Marseille xinh đẹp nhất sơn hà.
Khí sông núi đúc thành trang tuấn kiệt,
Vị anh hùng cứu nước Joffre, Jeanne d’Arc
Tôi nhớ lắm! Năm 1789
Anh đứng lên phá ngục Bastille nhà,
Và giải phóng cho giống dòng được sống,
Được vinh quang trên Đệ tứ Cộng hòa.
Anh vui, anh sướng, anh hát, anh ca,
Tôi là người ở phương xa,
Ngày anh sáng lạn cũng hòa niềm vui.
Anh về nước Pháp xa xôi,
Chắc không bao giờ quên được
Những là đường đi nét bước,
Những là tên tuổi Việt Nam .
Suối Yên Thế tuôn tràn hậm hực,
Đất Thái Nguyên căm tức nổi vồng,
Tháp Mười hận nước mênh mông,
U Minh mấy trận bão lòng chưa nguôi.
Việt Nam, nước của tôi,
Cây cao, đồng rộng, trái ngọt hoa tươi.
Hà Nội kinh thành trang chiến sử,
Sài Côn đô thị rạng anh tài.
Phú Xuân lừng chói gương ái quốc,
Nghĩa nặng tình thâm vạn thuở nay!
Việt Nam, nước của tôi,
Già như trẻ, gái như trai,
Chết thời chịu chết, không cúi luồn ai,
Xâm lăng ai muốn vô đây chiếm,
Thì giặc vào đây chết ở đây.
Dù ai cắt nước chia hai,
Cho trong than thở, cho ngoài thở than.
Dù ai phanh ruột xé gan,
Cho tim xa óc, cho nàng xa tôi.
Thì anh hãy nhớ lấy lời,
Ngày mai thống nhất liền đôi bến bờ.
1956

Chúng ta thử đọc ở đây một thi phẩm khác của ông viết vào thời kỳ đó:

Tiễn Bạn Tù
(Lao Gia Định)
… Anh đi đừng quên nhé !
Lao Gia Định canh bầu.
Lềnh bềnh cải úa lộn sâu,
Nước trong chìm nổi mấy đầu tôm ươn.
Ngày ngày cơm gạo lức,
Lặng lẽ tôi nhìn anh.
Răng nhai như nghiến bầu căm tức,
Cổ nuốt cơm như nghẹn tủi hờn.
Mắt thẳm long lanh trào uất ức,
Nhìn muôn người sống cảnh lầm than.
Chắc chắn anh không quên,
Trong cửa sắt đen ngòm.
Đầu người như sóng nhìn ra cửa,
Mắt uất long lanh hận nước non!
Bác già…
Tôi trẻ…
Em bé…
Chú sồn sồn…
Đêm đêm tâm sự nỉ non,
Đêm đêm những mắt xoe tròn nhìn nhau.
Ngày mai đày về đâu?
Ai Biên Hòa… Ai Thủ Đức…
Ai Phú Quốc… Ai Côn Lôn…
Ai còn nằm Gia Định…
Ai được thả về mau…
Cắn răng mà bắt tay nhau,
Bắt tay hẹn một nhịp cầu tương lai.
Nuốt hờn chờ một ngày mai,
Ngày mai biển rộng sông dài núi xanh.
1956

Mặc dù Phan Canh căm thù giặc Pháp nhưng trong thơ ông chỉ kêu gọi lòng yêu nước, vùng dậy, đấu tranh của nhân dân với ý thức không thể chịu áp bức, không thể làm nô lệ, không thể để mất nước mà không hề đứng trong một quan điểm, lập trường chính trị nào để kêu gọi đấu tranh vì lợi ích cho một tổ chức hay đảng phái. Vì vậy, trong thơ ông không có khổ thơ nào thể hiện tính chiến đấu quyết liệt và trực diện với kẻ thù dù trước khi đi tù, trong khoảng thời gian từ 1946 – 1955, ông đang là một công chức Tư pháp trong chế độ bù nhìn thân Pháp và sau là thân Mỹ, việc đi lại cũng như nắm bắt các thông tin, diễn biến về thời cuộc có nhiều thuận lợi.

Đúng vào lúc Phan Canh đắm mình vào các sáng tác thơ văn mang tính dằn vặt nội tâm về thế cuộc như thế, và ông tuy thích viết nhưng vẫn chưa tìm triệt để cách khai thác ngòi bút của chính mình để kiếm sống thì một ngày, ông tình cờ đọc được một đoạn của tác phẩm Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung trên một tờ Minh Báo nhập về từ Hồng Kông nơi một phòng đọc sách trong nhà một người bạn. Đọc lướt thôi, đọc mà không chú ý gì lắm nếu như chính người bạn ấy, là một thầy giáo dạy tiếng Quảng Đông, không bảo ông: “Cậu giỏi ngoại ngữ và giỏi viết lách như thế, sao không thử dịch văn chương loại này thử xem để kiếm tiền?”. Phan Canh ngẫm nghĩ, và quyết định thử. Quyết định đó đã làm thay đổi đời ông.

Rất nhanh, bạn đọc đã biết đến tên ông và dù ông ký bút danh nào thì người ta cũng dễ dàng nhận ra cho mỗi thể loại: Truyện Tàu thì Mộng Bình Sơn (Ý hướng: Mơ san phẳng non cao); truyện kiếm hiệp thì Phan Cảnh Trung (Ý hướng: Phan quân đắm vào khung cảnh hành hiệp) và sách biên khảo thì ký tên thật mà nổi tiếng nhất chính là quyển Khuynh Hướng Thi Ca Tiền Chiến.

Trở thành một dịch giả, ông nổi tiếng với các bản dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa như Hán Sở Tranh Hùng (tên Hán Việt là Tây Hán Chí - 48 hồi), Tái Sanh Duyên (Còn gọi là Sự Tích Mạnh Lệ Quân - 74 hồi), Thuyết Đường (27 hồi), Vạn Huê Lầu Diễn Nghĩa (47 hồi), Nhạc Phi Diễn Nghĩa, Xuân Thu Chiến Quốc, Diệp Gia Kiếm, Phong Thần Diễn Nghĩa (Bộ 4 tập), Chung Vô Diệm, Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa; Ôn Cố Tri Tân – Những Tấm Gương Phản Chiếu Muôn Đời Trong Truyện Đông Châu Liệt Quốc, Từ Điển Danh Ngôn (Với hơn 10.000 câu danh ngôn của các danh nhân từ cổ chí kim), Tìm Hiểu Phong Thổ Học Qua Quan Niệm Triết Đông.

Dù muốn hay không, vẫn phải nhìn nhận: Các danh tác của Tây, của Tàu dưới ngòi bút Phan Canh, đã mang một nét hành văn rất riêng. (1)                                                                        
                                                                                  Vũ Hùng Khanh

(1) Với bút danh Phan Cảnh Trung, Phan Canh đã đưa 2 bộ Thần Điêu Đại Hiệp và Anh Hùng Xạ Điêu đến bạn đọc. Ông yêu thích các nhân vật trong đó đến mức đã tự sáng tác thêm bộ Võ Lâm Ngũ Bá gồm 3 tập, giải thích gốc gác của các quái kiệt từng tham dự cuộc Hoa Sơn Luận Kiếm trong bản gốc để tranh nhau pho Cửu Âm Chân Kinh. Theo đó, Vương Trùng Dương có tên gốc là Vương Tiêu Thu, Hoàng Dược Sư là Hoàng Cố, Hồng Thất Công là Hồng Thông, Đoàn Nam Đế là Đoàn Trí Hưng, và Âu Dương Phong vẫn là Âu Dương Phong. Công ty văn hóa Minh Lâm hợp tác với nhà xuất bản Hồng Đức phát hành, giá bán lẻ mua trực tuyến tại FAHASA là 444.000 đồng cả bộ 3 quyển, còn trong nhà sách là 550.000 đồng.

1 nhận xét:

Bâng Khuâng nói...

Một bài thơ ở bài viết bên trên cho là của Phan Canh, thực ra tác giả là Truy Phong

MỘT THẾ - KỶ MẤY VẦN THƠ

*Tiễn chân quân viễn chinh Pháp
*Kỷ niệm 100 năm Việt Nam đau khổ
Ánh hồng chói rạng chân trời mới
Ngọn lửa đao binh tắt lịm rồi.
Có kẻ chiều nay về cố quán,
Âm thầm, không biết hận hay vui ?!
Chiều nay,
Kèn kêu tức tưởi nghẹn lời
Tiếng ngân xúc động dạ người viễn chinh !
Chiều nay trên nghĩa địa
Có một đoàn tinh binh
Cờ rủ và súng xếp
Cúi đầu và lặng thinh.
Nghẹn ngào giã biệt người thiên cổ
Đất lạ trời xa sớm bỏ mình.
Thịt nát, xương tan, hồn thảm bại
Nghìn năm ôm hận cõi u minh !
Những ai làm lính viễn chinh,
Chiều nay bước xuống tàu binh trở về.
Tàu xúp - lê !
Tàu xúp - lê !
Cửa Hàm Tử lao xao sóng gợn
Bến Bạch Đằng lởn vởn hồn quê …
Bước đi những bước nặng nề
Ngày đi chẳng biết, ngày về chẳng hay !
Một ngàn chín trăm năm sáu (1956)
Một ngàn tám trăm sáu hai (1862)
Giật mình bấm đốt ngón tay,
Trăm năm một giấc mộng dài hãi kinh !
Ngày anh đến đây :
Thành Đà Nẵng tan hoang vì đại bác
Xác anh hùng Đinh Lý hóa tro bay !
Giữ Gia Định, Duy Ninh liều mạng thác
Ôm quốc kỳ tuẩn tiết giữa trùng vây !
Phan Thanh Giản nuốt hờn pha thuốc độc
Bởi xâm lăng bắt nhượng nước non nầy !
Và Thăng Long máu hòa ba lớp đất
Mất kinh thành, Hoàng Diệu ngã trên thây ! …
Hỡi ơi ! Xương máu dẫy đầy,
Chân anh dẫm tới, đất nầy tóc tang !
Tay gươm, tay súng
Bước nghinh, bước ngang
Anh bắn !
Anh giết !
Anh đâm !
Anh dầm !
Anh đày Bà Rá, Côn Lôn,
Anh đọa Sơn La, Lao Bảo …
Anh đoạt hết cơm hết áo,
Anh giựt hết bạc hết vàng …
Chặt đầu ông lão treo hàng thịt,
Mổ mật thanh niên giữa chiến tràng.
Cối quết trẻ thơ văng nát óc,
Phanh thây sản phụ đốt thành than ! …
Con lìa mẹ,
Vợ xa chồng,
Cây rụi lá,
Nhà trống không …
Người chìm đáy biển
Người tấp ven sông
Người ngã trên núi
Người gục trong rừng …
Đây Cà Mau, đó Nam Quan,
Hung hăng anh bóp trong bàn tay tanh !
Nước tôi đang độ yên vui sống
Mít ngát hương mùa, bưởi ngọt thanh
Lúa nặng tình quê, khoai luyến đất,
Không thương nhau, lại giết nhau đành !
Cắn răng tôi chịu cực hình
Vuốt râu anh hưởng công linh đồng bào.
Anh phân ly Nam, Bắc
Anh chia rẻ nghèo, giàu.
Nước non anh quậy tan tành hết
Cho oán hờn nhau, giết lẫn nhau ,
Người chết thì dại,
Người sống thì ngu.
Dân ngu vì bị làm ngu
Đặng dân làm ngựa, làm trâu suốt đời !
Nhưng, thôi !
Bao năm khói lửa
Ta hiểu nhau rồi !
Cái gì bạo ngược là phi nghĩa
Là trái lòng dân, nghịch ý trời.
Sắt thép tinh ròng, binh tướng dữ
Không sao thắng được trái tim người !
Anh về là phải, anh ơi !
Về bây giờ, để còn đời nhớ anh.
Những cái gì tôi hận
Những cái gì tôi khinh,
Bây giờ anh xuống tàu binh
Trăm năm chuyện cũ, thôi mình bỏ qua !
TRUY PHONG

Nguyễn Thanh - Nhà thơ Truy Phong hay T.P (1925-2005) là bút danh của Dương Tấn Huấn, người tỉnh Vĩnh Long. Ông là nhà thơ kháng chiến hai thời kỳ, thuộc thế hệ các văn nghệ sĩ : Kiên Giang (1920-2014), Sơn Nam (1926-2008), Nguyễn Bính (1918-1966), Viễn Phương (1928-2005), … là tác giả bài thơ “Một thế kỷ – mấy vần thơ”, đã làm dậy sóng văn đàn, đăng trên nhật báo Tiến Thủ (Sài Gòn) ngày 27.04.1956 do ký giả Việt Tha (Lê Văn Thử) làm chủ bút.
“Một thế kỷ – mấy vần thơ” là một bài thơ mới dài như một trường ca, có đủ tính cách biền ngẫu ở bài văn tế và tính mộc mạc của thơ nhiên nhưng sâu đậm, giản dị mà không tầm thường ghi lại được một thời điểm lịch sử – Pháp rút quân khỏi Việt Nam – bi hùng của dân tộc.