Đào Văn Bình
*
Kính Đạo hữu Đào Văn Bình,
Dạ, tui cũng có biết chút xíu đó chớ! Và chính vì biết
chút xíu nên càng học, tui càng thấy ngôn ngữ là một chuyện… không dễ rạch ròi
như mình tưởng.
Tui rất đồng cảm với Đạo hữu ở một điểm quan trọng:
thông minh chưa hẳn là trí tuệ, và trí tuệ theo nghĩa Phật học lại càng không
thể đồng nhất với khả năng tính toán, suy luận hay xử lý thông tin. Một người
có thể cực kỳ thông minh mà vẫn bị tham, sân, si dẫn dắt. Máy móc cũng có thể
vượt con người trong nhiều năng lực nhận biết và suy luận mà chẳng vì thế trở
thành một bậc giác ngộ.
Nhưng có lẽ chỗ mình cần bàn thêm là vấn đề ngôn ngữ.
Trong tiếng Anh, intelligence không chỉ có duy nhất một
nghĩa cố định là “thông minh”; cũng như mind không đơn giản tương đương với
“trí tuệ”, và wisdom tuy gần với “trí tuệ” hơn nhưng vẫn chưa chuyên chở trọn vẹn
những tầng nghĩa của Trí, Tuệ, Trí Huệ, Tuệ Giác, Bát Nhã trong truyền thống Phật
giáo.
Ngôn ngữ vốn sinh ra từ quy ước. Một chữ chỉ có nghĩa
trong tương quan với cộng đồng sử dụng, thời đại và ngữ cảnh của nó. Cũng như
dollar ở Mỹ, euro ở châu Âu hay đồng ở Việt Nam: hình thức và tên gọi khác nhau
nhưng đều là phương tiện quy ước để trao đổi. Chữ nghĩa cũng vậy.
Bởi thế, gọi Artificial Intelligence là “Trí tuệ nhân
tạo” đã trở thành một quy ước ngôn ngữ phổ biến. Ta hoàn toàn có thể bàn rằng
“trí tuệ” ở đây dễ gây ngộ nhận nếu đem so với Tuệ giác Phật giáo, nhưng cũng sẽ
rất khó nếu từ đó mà kết luận rằng cách dịch ấy hoàn toàn “sai”.
Điều quan trọng hơn có lẽ là phân biệt các tầng nghĩa.
“Thông minh” thiên về khả năng nhận biết, học hỏi, giải
quyết vấn đề.
“Trí tuệ” trong nghĩa thông thường có thể rộng hơn,
bao gồm hiểu biết, suy xét và phán đoán.
“Trí huệ” là cách dùng quen thuộc trong văn mạch Phật
giáo Hán - Việt, thường hướng đến cái thấy sâu hơn kiến thức thông thường.
Còn “Tuệ giác”, theo cách tui muốn dùng trong bài viết
này, là cái thấy và biết có tính chuyển hóa: thấy vô thường, duyên khởi, vô
ngã; thấy để bớt chấp, bớt tham, bớt sân, bớt si.
Và chính ở đây AI gặp một giới hạn rất đáng suy nghĩ.
AI có thể có intelligence theo nghĩa kỹ thuật. Nó có
thể tính nhanh hơn ta, nhớ nhiều hơn ta, tổng hợp hàng triệu dữ kiện mà ta
không làm nổi. Nhưng khả năng ấy tự nó chưa phải là Tuệ giác. Một hệ thống có
thể nói rất hay về vô thường mà chưa chắc đã “thấy” vô thường; có thể giải
thích Tánh Không mà không vì thế đã chứng nghiệm Tánh Không.
Nói cách khác:
Thông minh giúp ta biết làm thế nào.
Trí tuệ giúp ta biết nên làm gì.
Tuệ giác còn hỏi sâu hơn: Ai đang biết, ai đang chấp, và cái gì thật sự cần buông?
Cho nên tui không muốn tranh hơn thua rằng
intelligence nhất định phải là “thông minh” hay nhất định phải là “trí tuệ”.
Càng đi sâu vào ngôn ngữ, càng thấy mỗi chữ chỉ là một ngón tay tạm thời chỉ về
phía mặt trăng.
Trong tinh thần Trung Đạo, ngôn ngữ là phương tiện,
không phải cứu cánh. Chấp vào chữ “Trí Tuệ” cũng là chấp; mà chấp vào chữ
“Thông Minh” để chống lại chữ “Trí Tuệ” thì e rằng mình lại vừa bước sang một bờ
chấp khác.
Rốt cuộc, điều đáng lo không phải AI được gọi là
“thông minh” hay “trí tuệ”.
Điều đáng lo hơn là:
Máy càng thông minh, con người có càng sáng ra không?
Kiến thức càng nhiều, tham sân si có càng vơi đi không?
Nếu không, thì cái thiếu của thời đại này có lẽ không
phải thêm một định nghĩa về trí tuệ, mà là thêm một chút Tuệ Giác để soi lại
chính mình.
Vài dòng trao đổi với Đạo hữu trong tinh thần học hỏi.
Chữ nghĩa còn có thể bất đồng, nhưng trà vẫn có thể cùng uống, và đạo thì chắc
chẳng nằm riêng trong một chữ nào. Mong có dịp, anh em chúng ta sẽ hội ngộ ở
Sacramento hay San Jose để trao đổi “ấm lòng chiến sĩ U90” hơn anh Bình nhé.
Kính,
Trần Kiêm Đoàn
Trí tuệ giúp ta biết nên làm gì.
Tuệ giác còn hỏi sâu hơn: Ai đang biết, ai đang chấp, và cái gì thật sự cần buông?
Kiến thức càng nhiều, tham sân si có càng vơi đi không?
Trần Kiêm Đoàn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét