Thật ra Miên man, chữ Hán viết 綿蠻, vốn không phải từ láy như chúng ta hay
nghĩ mà là một từ Hán Việt đẳng lập.
Hình ảnh: Miên man, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
Hình ảnh: Miên man, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
Trong tiếng Việt ngày nay, Miên man thường được hiểu
là cái gì đó kéo dài vô bờ bến. Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), Miên man
nghĩa là “hết cái này sang cái khác, tiếp liền theo nhau không dứt”. Ví như người
ta hay nói “suy nghĩ miên man”, “nỗi buồn miên man”, “tiếng hát miên man”,…
Thật ra Miên man, chữ Hán viết 綿蠻, vốn không phải từ láy như chúng ta hay
nghĩ mà là một từ Hán Việt đẳng lập.
Trong đó Miên 綿
là hình ảnh sợi tơ mềm mại kéo dài, gồm bộ mịch 糸
chỉ sợi tơ, chữ bạch 帛 ở
sau cũng có nghĩa tơ lụa, từ đó chỉ chung cho nét nghĩa mềm mại nối liền. Những
từ thường gặp trong tiếng Việt như liên miên, triền miên,… đều dùng chữ miên
này.
Man 蠻
từng được dùng để chỉ các dân tộc phương Nam Trung Hoa, ngoài ra còn có nghĩa
hung bạo, ngang ngược như trong các từ dã man, man di, man rợ,... của tiếng Việt.
Từ này xuất phát từ Kinh Thi. "Kinh Thi - Tiểu
Nhã - Miên man" có câu: Chim vàng miên man, đậu trên gò đất.
Mao Truyện chú thích Miên man ở đây là "hình dáng chim nhỏ”, Chu Hy thì giảng Miên man là “tiếng chim”. Các học giả đời sau đều xác nhận Miên man trong cổ văn có thể hiểu là tiếng kêu ríu rít kéo dài của chim nhỏ hoặc hình ảnh chim nhỏ bay lượn đều được. Từ điển tiếng Việt cổ (Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện) cũng ghi nhận nét nghĩa “tiếng chim kêu liền tiếng nhau” của từ này, hay từ điển Nguyễn Quốc Hùng cũng giảng là “tiếng chim hót líu lo, tiếng nọ dính với tiếng kia”.
Từ nghĩa gốc ấy, Miên man dần được chuyển nghĩa thành cảm giác hoặc trạng thái kéo dài liên tục của thời gian hoặc cảm xúc. Văn học Việt Nam đều tiếp nhận Miên man với nghĩa phái sinh sau này. Ví như:
Mao Truyện chú thích Miên man ở đây là "hình dáng chim nhỏ”, Chu Hy thì giảng Miên man là “tiếng chim”. Các học giả đời sau đều xác nhận Miên man trong cổ văn có thể hiểu là tiếng kêu ríu rít kéo dài của chim nhỏ hoặc hình ảnh chim nhỏ bay lượn đều được. Từ điển tiếng Việt cổ (Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện) cũng ghi nhận nét nghĩa “tiếng chim kêu liền tiếng nhau” của từ này, hay từ điển Nguyễn Quốc Hùng cũng giảng là “tiếng chim hót líu lo, tiếng nọ dính với tiếng kia”.
Từ nghĩa gốc ấy, Miên man dần được chuyển nghĩa thành cảm giác hoặc trạng thái kéo dài liên tục của thời gian hoặc cảm xúc. Văn học Việt Nam đều tiếp nhận Miên man với nghĩa phái sinh sau này. Ví như:
“Tú bà chực sẵn bên màn,Lựa lời khuyên giải miên man gỡ dần.”(Truyện Kiều, Nguyễn Du, câu 1003 - 1004)“Rượu chay nhấp chén tẩy trần,Hát chay di dưỡng tinh thần miên man.”(“Sư cậu” đi hát ả đào, Tú Mỡ)“Ngỡ cứ chạy miên man cả ngày không lạc lốiCả vùng đồi tươi sức sống đỏ hoe!”(Bè bạn một vùng đồi, Bằng Việt)"Mẹ đừng suy nghĩ miên man?Cho hao mình hạc cho tàn bóng trăng.Hẳn là trọn đạc quân thần,Chồng con chưa nhẽ buông thân mà về."(Tỳ bà truyện, Nguyễn Bính)“Các nhà thơ đi miên man trên đườngTrong bóng đêm, những mái tóc phất phơ.”(Các nhà thơ trên đường, Nguyễn Khoa Điềm)
Tóm lại, ngày nay, nghĩa “tiếng chim hót” hay “hình dáng chim nhỏ” của Miên man đã mờ dần trong cách hiểu thông thường của tiếng Việt. Thay vào đó, từ này được hiểu là những dòng cảm xúc và trạng thái kéo dài, hiện đã trở thành một phần quen thuộc trong cách người Việt biểu đạt sự lan man bất tận.
Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮

2 nhận xét:
MIÊN MAN 綿蠻 Trích từ Kinh Thi
《诗》云:“缗蛮黄鸟,止于丘隅。”
Thi vân: "miên man hoàng điểu, chỉ ư khưu ngu”.
子曰:“于止,知其所止,可以人而不如鸟乎?”
Tử viết: ư chỉ, tri kỳ sở chỉ, khả dĩ nhân nhi bất như điểu hồ;
*
Kinh Thi nói rằng: "Chim hoàng li hót líu lo, đậu ở một góc gò". (Thi. Tiểu nhã. Miên man, chương 2, câu 1-2).
Khổng Tử nói rằng: Con chim kia đậu, còn biết chọn chỗ mà đậu, há lẽ người ta lại không bằng con chim sao!
Dịch cho sát âm:
Miên man hoàng điểu 缗蛮黄鸟
Chim vàng hót miên man
Đăng nhận xét