Hiểu 曉 là trời hửng sáng sau một đêm dài. Sách Thuyết văn giải tự giảng: Hiểu là sáng sủa. Chữ này còn phái sinh những nét nghĩa khác như biết rõ, hiểu rõ hoặc làm cho người khác hiểu mà thường gặp trong các từ am hiểu, hiểu ngộ, hiểu dụ,...
Trong văn chương cổ điển, Hiểu nguyệt thường đi cùng mỹ từ khác như hiểu phong, tàn nguyệt, trường đình, viễn khách,... tạo nên những khung cảnh man mác buồn đặc trưng của thi ca phương Đông. Đó là dấu hiệu của nỗi nhớ, chia ly, niềm bâng khuâng khi đứng trước sự chuyển dịch của tháng năm.
獨遊千里外,高臥七盤西。曉月臨窗近,天河入戶低。Độc du thiên lý ngoại,Cao ngoạ Thất Bàn tây.Hiểu nguyệt lâm song cận,Thiên hà nhập hộ đê.Nghìn dặm một mình chơiNằm cao núi lưng trờiTrăng thu gần trước cửaSông Hán lẫn bên vời.(Thẩm Thuyên Kỳ, bản dịch thơ Trần Tế Xương)翡翠為樓金作梯,誰人獨宿倚門啼?夜坐寒燈連曉月,行行淚盡楚關西。Phỉ thuý vi lâu kim tác thê,Thuỳ nhân độc túc ỷ môn đề?Dạ toạ hàn đăng liên hiểu nguyệt,Hàng hàng lệ tận Sở quan tê.Thang vàng ngọc thuý tạo nên lầu,Tựa cửa một mình ai khóc sầu?Đèn lạnh đêm ngồi cùng nguyệt sớm,Ải tây thành Sở lệ rơi đau.(Lý Bạch, bản dịch thơ Lê Trọng Nhàn)石古有聲敲曉月,沙鹽無味濕秋霜。世人苦作天台夢,不想天台亦戲場。Thạch cổ hữu thanh xao hiểu nguyệt,Sa diêm vô vị thấp thu sương.Thế nhân khổ tác Thiên Thai mộng,Bất tưởng Thiên Thai diệc hý trường.Vang om thạch động trăng gần sáng,Nhạt nhẽo diêm điền muối đẵm sương,Giấc mộng Thiên Thai mong mỏi mãi,Ai hay cũng chỉ hí du trường!(Lê Quý Đôn, bản dịch thơ Lê Thế Vinh)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét