BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

NHÂN LÀNH THÌ QUẢ NGỌT – Nguyễn Toàn Thắng



Trong dòng chảy hối hả của cuộc đời, đôi khi chúng ta dừng lại và tự hỏi: Tại sao có những người dường như luôn gặp may mắn, còn mình lại cứ mãi lận đận? Tại sao có những người sống giữa giông bão vẫn an nhiên, còn mình lại dễ dàng sụp đổ trước một biến cố nhỏ? Câu trả lời không nằm ở sự thiên vị của số phận, mà nằm ở quy luật thầm lặng nhưng bền bỉ nhất của vũ trụ: Nhân lành thì quả ngọt.
 

SỰ "THẬT THÀ" CỦA NHÀ VĂN ĐÔNG LA – Đặng Xuân Xuyến



Được bạn bè chuyển cho xem ảnh chụp những dòng chua chát của nhà văn Nguyễn Quang Lập về “thói đời tình người” rất thật trên facebook cá nhân ngày 14 tháng 6 năm 2025: "Bạn bốn phương toàn bạn nhậu, hơn nghìn lít rượu may lắm mới có một người son sắt thuỷ chung. Một người giúp chục kẻ phá, một người chân thành chục kẻ đểu giả. Ngó quanh khó thấy kẻ thật bụng thương mình, toàn đám giả cầy ngoài thơm trong thối, bán bạn 10 xu cũng bán. Thế mà vẫn cứ đánh đu với chúng nó. Là bốn cái ngu. Đại ngu. Tứ đại ngu hu hu hu..". Tôi khá đồng cảm với chia sẻ của ông vì tôi đã từng có đôi lần rơi vào tâm trạng như thế. Tôi lại nhớ tới lời "tâm sự thật”, thật đến phũ phàng của nhà văn Dương Thu Hương về "giới phê bình" qua lời kể của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh mà thấy thương, thấy tồi tội những người "đam mê con chữ": "Trừ anh Hoàng Ngọc Hiến là thầy tôi, anh Nguyễn Đăng Mạnh là người tôi kính trọng, còn tất cả bọn phê bình đều là dòi bọ. Riêng Phan Cự Đệ là con chó ngao”.
 

“HƯƠNG QUÊ” BÀI THƠ CỦA PHƯƠNG NGỮ BẮC BỘ… - Dương Diên Hồng



Tôi đọc “Hương Quê” của tác giả Đặng Xuân Xuyến cách đây khá lâu. Gần đây, đọc lại kỹ hơn. Không phải muốn đền ơn bạn Xuyến đã xem chỉ tay mà thật lòng là thích bình bài thơ này. Thi thoảng tôi vẫn có cảm hứng bình cho vui, thuận tiện nhất là khi rảnh. Đó là thú “thích thì nhích” đời thường của người dạy Văn, học Văn.
 
Bài thơ Hương Quê có nhiều từ mới, đối với tôi, cũng cần đi sâu để hiểu thêm về Văn chương của các nhà Văn Bắc bộ…
 
Hôm nay, thong thả đọc thơ và cảm nhận chút chút…
 
HƯƠNG QUÊ
 
Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm
Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm
Níu bờ sông
Ơi ời “ra ngõ mà trông”
Vi vút gió đồng...
 
Ngẩn ngơ
giấc mơ
Níu đôi bờ bằng dải yếm
Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm
Áo tứ thân trải lá lót nằm
Gom gió lại để chiều bớt rộng...
 
Thẩn thơ
Tiếng mơ thầm thĩ
“Người ơi...
Người ơi...”
Dan díu lời thề
Ngõ quê líu quíu.
 
Hà Nội, chiều 31.08.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

SÔNG “THẠCH HÃN” CÓ NGUỒN GỐC TỪ TÊN LÀNG - La Thụy sưu tầm và biên tập

Tên sông Thạch Hãn được vua Minh Mạng cho khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu - Hoàng thành Huế) dưới dạng chữ Hán là Thạch Hãn giang 江捍石 (đọc ngược từ phải sang trái)
Các văn tự viết bằng chữ Hán có liên quan đến tên sông Thạch Hãn của các làng trong vùng đều viết chữ Hãn () theo nghĩa là ương bướng, cản trở chứ không viết chữ Hãn () theo nghĩa mồ hôi.
 
Sông Thạch Hãn khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu, Huế)

Sông Thạch Hãn có nguồn gốc địa danh từ tên làng Thạch Hãn. Tên Thạch Hãn xuất hiện từ thế kỷ XVI - XVII và được các nhà Nho diễn nghĩa Hán tự từ ghồ đá cản dòng trên sông, đoạn đi qua làng Thạch Hãn. Trước đó, khi làng Thạch Hãn còn mang tên là Thạch Hàn/Đá Hàn thì sông được gọi là sông Đá Hàn. Vì thế, dân gian gọi là Nguồn Hàn.
 
Sông Hãn cường ngạnh, kiên trinh, không chịu phục tùng tự nhiên hay chính nó cũng đã tạo nên tính cách của con người Quảng Trị !

LOẠN CÙNG PHÉP LẠ AI – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn


Hình minh họa của AI dành riêng cho bài viết này
 
 Hôm nay, ngày Rằm Tháng Giêng và đêm Nguyên Tiêu, nhận được email của chị Kim Oanh chuyển tiếp trang thơ của chị cho quý bằng hữu xem những trang thơ xướng họa của chị và thi hữu, tôi bỗng nảy ra ý vui vui đầu năm là nhờ AI làm thơ xướng họa nên đã viết cho CHAT GPT – AI – TRÍ TUỆ NHÂN TẠO như thế này:
 
Dear Chat GPT: Tôi cũng thường làm thơ các thể loại cổ điển, truyền thống cũng như "cách tân". Nhưng gần đây rừng thơ thế giới cũng như Việt Nam bị "LOẠN AI" - nên thơ đang có hiện tượng là "thơ máy" với người khen cũng lắm mà người chê cũng nhiều. Thơ AI thường bị nhận xét chung là nó "kỳ kỳ, hay hay nhưng sao sao ấy" – một cảm giác vừa thanh vừa thô khó diễn đạt trọn vẹn – Nay có chị bạn thơ Kim Oanh làm một bài thơ xướng, tôi muốn nhờ AI làm một bài họa rất "tâm đắc"; nghĩa là vừa chỉnh chu về niêm luật thơ Đường Thất Ngôn Bát Cú, vừa diễn đại về ý và lời rất nhẹ nhàng, giàu cảm xúc và đậm tính thi ca của người Việt Nam vốn yêu thơ. Tôi xin copy nguyên văn bài thơ của chị Kim Oanh như sau. Mong nhận được bài thi họa của AI:

TỪ ẤY – Thơ Lê Kim Thượng


   

Từ Ấy
 
1.
Em xa từ ấy đến giờ
Nhớ ai dáng nhỏ mịt mờ chân mây
Nhớ tà áo gió bay bay
Tôi về nhặt nhạnh tháng ngày trở trăn…
Bàn tay mười ngón búp măng
Vuốt ve mái tóc, tóc quăn mây trời
Tóc thề che nửa lưng người
Hoa đào thắm đỏ, môi cười nhẹ cong
Thơ ngây, mơ mộng, trắng trong
Đam mê tình tứ một lòng keo sơn…
Tôi – Em ai nhớ nhiều hơn
Nhớ em hờn dỗi tủi hờn thâu đêm
Ai làm nhung nhớ nhiều thêm
Ai làm ngây ngất con tim chung tình
Thương yêu cho hết lòng mình
Qua bao năm tháng chuyện tình không phai…
 

VÌ SAO TA DỄ KHÓC VÌ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG XỨNG ĐÁNG – Nguyễn Toàn Thắng



Trong hành trình đi qua những đổ vỡ, có lẽ câu hỏi khiến chúng ta ray rứt nhất chính là: Tại sao mình lại có thể yếu lòng đến thế vì một người vốn dĩ chẳng hề xứng đáng? Có những giọt nước mắt rơi xuống, nóng hổi và đắng ngắt, không phải vì đối phương quá quan trọng hay vĩ đại, mà bởi vì trái tim ta đã trót trao đi quá nhiều mà chẳng nhận lại được bao nhiêu. Ta đau không hẳn vì họ tốt đẹp, mà vì ta đã từng dốc lòng tin rằng họ sẽ tử tế. Ta khóc không hẳn vì họ đáng giá, mà vì ta đã đặt để vào họ quá nhiều kỳ vọng, để rồi khi thực tại phũ phàng ập đến, ta bàng hoàng nhận ra mình vừa đánh mất cả một bầu trời hy vọng.
 

VỀ LẠI MIỀN THƯƠNG – Thơ Đỗ Anh Tuyến


       

(Họa bài thơ 
CON MUỐN VỀ QUÊ NỘI, NỘI ƠI của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến)

 VỀ LẠI MIỀN THƯƠNG

Con về đây... giữa tuổi đã trung niên
Tìm lại dấu chân xưa vùng Gia Viễn
Dòng sông cũ, sóng tràn trên mặt nước
Đầm Vân Long... vương vấn một câu hò.
 
Ngược lối mòn con tìm đến Cầu Bo
Lời hứa cũ cứ nghẹn ngào nhắc nhở
Bà đi rồi... để lòng con vụn vỡ
Biết ai người dẫn bước lối xưa theo?
 
Tiếng chuông chùa vọng lại phía chùa Keo
Nghe huyền thoại về thiền sư Không Lộ
Nền gạch cũ in dấu hài thuở nọ
Dựng giang sơn... rạng rỡ những trang hùng.
 
Ước một lần mang sức vóc trẻ trung
Ngồi nghe Nội kể chuyện đời dâu bể
Để hiểu thấu chữ Nhân nồng hậu thế
Giữa cõi người... nhân nghĩa mãi lên hương.
 
Dẫu hôm nay ngăn cách những nẻo đường
Gia Viễn, Cầu Bo... mờ sương lối đợi
Nhưng trong dạ vẫn vẹn nguyên tiếng gọi:
Nội đi rồi... con vẫn hướng tâm theo!
 
                                    ĐỖ ANH TUYẾN
 
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

CHUYỆN VUI: VỀ PHAN THIẾT ĂN HẢI SẢN – Bài viết của Ngô Đình Miên


Tác giả Ngô Đình Miên


Hồi còn làm việc, có lần, đoàn công tác của một cơ quan đồng nghiệp ở một tỉnh phía Bắc đi "tham quan học tập" ghé ngang và ở lại Phan Thiết. Chiều hôm đó, tôi là người tiếp khách, cùng ăn cơm với đoàn khách tại một quán hải sản.

Trong khi vừa ăn vừa cụng ly, anh trưởng đoàn khách nói với tôi:
- Phan Thiết nổi tiếng về hải sản, nhờ anh giới thiệu một số món ngon cho anh em chúng tôi biết.
Nhìn trên bàn ăn, tôi thấy có các món do văn phòng cơ quan đặt trước (theo ý tôi), nên chỉ toàn là hải sản. Trong đó, có các món: dòm (vẹm xanh) hấp, cá chim nướng, cá bớp nấu canh chua, gỏi cá suốt, cá đuối sốt trứng, cá đục kho tộ.v.v...

CHỮ “MINH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Đồng âm Minh, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Tiếng Việt có Minh - một chữ xuất hiện nhiều trong tên người Việt mà ta thường nghĩ ngay tới nét nghĩa sáng sủa, rõ ràng như bình minh, thông minh, minh bạch, v.v..

Nhưng Minh là một chữ khá đặc biệt, bởi vì nó không chỉ mang nghĩa tỏ tường mà ngược lại, Minh còn có cả nét nghĩa tương phản.
Minh có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, trí tuệ. Trong Lục Thư, Minh thuộc loại chữ hội ý. Nó được kết hợp từ hai chữ tượng hình là nhật và nguyệt , mang ý nghĩa liên quan đến ánh sáng. Vì mặt trời và mặt trăng đều là những thiên thể phát sáng trong tự nhiên, sự tồn tại của chúng làm cho thế giới trở nên rực rỡ nên khi ghép hai chữ này lại với nhau, ta có Minh với ý nghĩa sáng sủa. Đây cũng chính là nét nghĩa thường gặp trong tiếng Việt.

TIẾNG CHAM CỦA BẠN: CHĂM HAY CHÀM, HAY...? – Bài viết của Inra Sara


Tác giả Inra Sara
 
Các bạn lưu ý: Đây là chủ đề nghiên cứu khoa học tôi đề cập từ lâu, chủ yếu cung cấp cho người đọc dữ liệu cần thiết để đối chiếu, hiểu biết. Rất mong không nên còm mang tính cực đoạn, phân biệt đối xử. Karun!

Từ "Chăm" chính thức được Nhà nước quy định gọi tên dân tộc Cham từ năm 1979. Từ quần chúng đến nhà nghiên cứu, từ nghệ sĩ cho đến giới khoa bảng đều sử dụng tên gọi này trong sinh hoạt, bài viết, thơ văn hay công trình khoa học của mình. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có người dùng từ “Chàm”. Bởi hiện tại từ “Chàm” vẫn còn hiện hữu ở rất nhiều địa danh, tên gọi, danh từ riêng. Vân vân… Không hiếm người dùng nó. Rồi cũng không ít người cho như thế là không phải phép, nặng hơn - miệt thị dân tộc này.

TÂY DU KÝ THÓA MẠ CHU NGUYÊN CHƯƠNG NHƯ THẾ NÀO? - Bài viết của Lại Nhật Quang



Độc giả khi tìm hiểu về đời sống cá nhân của Ngô Thừa Ân sẽ thấy không khó hiểu khi mà nhìn thấy trong Tây Du Ký đâu đâu cũng là những mật ngữ giễu nhại chế độ thống trị của nhà Minh đương thời, và đương nhiên không thể thiếu hoàng đế khai quốc nhà Minh - Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương
Hãy cùng xem những mật ngữ nào trong Tây Du Ký công khai thoá mạ vị hoàng đế này
 
1. Trấn Nguyên Đại Tiên
 
Là ông chủ sở hữu cây nhân sâm ở Ngũ Trang Quán - tác dụng của cây nhân sâm này thế nào thì anh em đọc truyện xem phim đều đã rõ, tôi không nhắc lại
Trấn Nguyên Đại Tiên còn tục gọi là Trấn Nguyên Tử - nghĩa là trấn áp giặc Nguyên, mà người đuổi cổ nhà Nguyên về thảo nguyên Mông Cổ là Chu Nguyên Chương
Trấn Nguyên Tử mang tiếng là ông tổ dòng Địa Tiên nhưng hành xử thì nhỏ mọn, tiểu nhân. Trọng nhau thì gọi là "cố nhân", khinh nhau thì thành tù nhân, bốn thầy trò Đường Tăng bị lão dùng đủ thứ cực hình như thả vạc dầu, lấy roi đồng quất toác da nát thịt, thế nhưng khi Ngộ Không ngỏ ý đi tìm thuốc chữa cây cho lão thì lão lại nói : Nếu ngươi cứu được cây nhân sâm của ta, ta bỏ qua mọi chuyện và kết nghĩa anh em. Ông vừa mới dùng hình với người ta xong phút sau đã muốn kết nghĩa anh em, con người gì lật mặt nhanh hơn bánh tráng
Đây là chi tiết ám chỉ thói bạc bẽo, vong ơn phụ nghĩa của Chu Nguyên Chương với các tướng lĩnh của mình, khi hoạn nạn thì trọng dụng, khi an hưởng thái bình thì đồ sát hết

THƠ THÁNG BA CỦA ÁI NHÂN


   

Nhà thơ ÁI NHÂN
Tên thật: Bùi Cao Thế
Hội viên Hội VHNT – Hưng yên
Hội viên Hội nhà văn Hà nội
Đã in riêng 12 tập thơ tình tại NXB Hội NV
ĐC: 139 Ngõ 399 đường Ngọc lâm – Long biên – HN
ĐT: 0984470914
TK: 10524096395016 Tecombank
 
 
Lời Tháng Ba
 
Đầu làng hoa gạo bung hoa
Đỏ nhòe nước mắt phôi pha nạ dòng
Bến sông hoa cải trổ ngồng
Cánh cò đói gió, quặn lòng nhớ mong
 
Chập chờn khúc khuỷu long đong
Mười hai bến nước đâu dòng em mơ
Ai người chuốt gió buộc thơ
Buông câu thương nhớ vu vơ mà cười
 
Hoa như đuốc thắp đỏ trời
Cháy lên khao khát những lời tháng ba
Lập lòe đom đóm bay ra
Tương tư vô định… kiêu sa mơ màng

 
Hồn Làng
 
Sù sì đội nắng cõng mưa
Rêu phong trầm mặc ngàn xưa hồn làng
Lúa thơm từ cánh đồng vàng
Hoa rưng rức gọi, mơ màng bóng quê
 
Người còn đợi bến sông mê
Người đi biền biệt sơn khê phương nào
Tháng ba nhớ đến cồn cào
Đầu làng sáo sậu chào mào vẫy hoa
 
Bao mùa người đã đi xa
Nhớ không hoa gạo làng ta vẫn chờ
Ngược hồn về giữa giấc mơ
Nhặt bông gạo đỏ ấu thơ… thắp lòng
 
 
Nhớ Tháng Ba
 
Nắng vàng lên lối tháng ba
Hoa xoan rắc tím la đà ngõ xuân
Thương thầm từ độ thanh tân
Lời không dám ngỏ phù vân mộng tình
 
Bão giông tận đáy tim mình
Đôi khi chợt thức bất bình gió mưa
Người giờ còn nhớ xuân xưa
Cái đêm tan hội ta đưa nhau về?
 
Bến mê mưa gió dầm dề
Chênh chao giấc điệp bộn bề nhớ thương
 
 
Hoài Niệm Hoa Ban
 
Con đường cũ có còn hoa ban nở?
Tháng ba ơi kỷ niệm mãi qua rồi
Thao thức nhớ thuở mong nhau diệu vợi
Chợt bồi hồi tim loạn nhịp rưng rưng
 
Như có tiếng “Vừng ơi ra mở cửa”
Lời yêu thương anh chân thật dịu dàng
Hoa ban trắng đem cài lên mái tóc
Lòng bâng khuâng em bật khóc thương mình
 
Anh khờ khạo để tình ta dang dở
Cửa tim em chưa mở lại lần nào
Đêm thảng thốt mèo hoang gào gọi bạn
Đau quặn lòng thương cánh nhạn cô đơn
 
Đêm trống vắng biết tìm ai hờn dỗi
Tháng năm trôi thấm thoắt quá nửa đời
Thương nhớ lắm, bên trời anh có biết
Tháng ba về da diết nhớ… hoa ban?
 
                                         ÁI NHÂN

XÓM LÀNG – Thơ Lê Kim Thượng


 
 

Xóm Làng
 
1.
Người về… đi giữa hàng cây
Dặm đường gió bụi nhuộm đầy cô liêu
Người về mái ấm nhà yêu
Đất nghèo xưa cũ cũng nhiều đợi mong…
Thẹn thùng cơn gió tàn Đông
Tiếng chim Chiền Chiện trên đồng hót vang
Mùa về êm ấm xóm làng
Đào hồng chúm chím, mai vàng chờ xuân
Rì rào sóng lúa vang ngân
Hẹn người mùa vụ đầy sân lúa vàng…
Sợi mây cõng vạt nắng tan
Gió qua vườn vắng muộn màng chơi vơi
Nắng vàng còn chút đem phơi
Giọt chuông lắng đọng rơi rơi lưng đèo
Mái hiên cong mảnh trăng treo
Đêm buông dìu dịu xóm nghèo xanh xao…
 

XUÂN CÒN LẠI, VŨ THỦY – Thơ Tịnh Bình


   

XUÂN CÒN LẠI...
 
Dạo chơi cùng mây trắng
Én lượn trời bao la
Cỏ xanh và nắng ấm
Gió xuân hát tình ca
 
Mùa reo chồi lộc nõn
Lung linh cánh bướm vờn
Thẹn thùng chi hoa thắm
Muôn tía với nghìn hồng
 
Đã qua rồi Tết ấm
Còn lại xuân nồng nàn
Giêng hai ngồi hong tóc
Mây trời xanh thênh thang
 
Đâu cần chi gương lược
Điểm trang ngày thanh tân
Ngọt giọng chim cành biếc
Thả tiếng xuân trong ngần...
 

TẦM XUÂN – Thơ Lê Phước Sinh


   

Rải hoa trên áo ngọt ngào
Giọt sương nở nụ tháng ngày dõi xa
tạo men chuốc mộng sơn hà
bình an ấm áp quyện vào hương xưa.
 
                                  Lê Phước Sinh

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ PHẬT TÁNH KHÔNG? – Thơ Trần Kiêm Đoàn

Chút suy niệm lão làng thời tha hương trong kỷ nguyên thuật toán


Thế kỷ hai mươi mốt mở ra không bằng tiếng chuông chùa,
không bằng tiếng chim sơn ca trên đồng vắng,
không bằng tiếng mùa Thu Mẹ ru con ngủ...
mà bằng tiếng máy gào không gian,
tiếng rú khoan sâu lòng đất,
tiếng điện thoại truyền âm,
và tiếng rì rầm máy chủ,
 
Trí tuệ con người trở thành bé nhỏ,
Thông minh vô tâm bắt đầu từ đó.
Những dòng dữ liệu chảy không ngừng
như những dòng sông không bờ bến.
Như cuộc hải hà trùng trùng biến hiện,
Văn minh nhân loại biến dời:
 
Người ta gọi đó là Trí Tuệ Nhân Tạo,
là AI (Artificial Intelligence).
Một thứ trí tuệ không tim,
không phổi,
không hơi thở, 
không linh hồn, 
không cảm xúc...
nhưng biết trả lời trăm ngàn lần nhanh hơn nhịp nghĩ;
khéo léo xông pha vũ bão hơn người.
 
AI không sinh ra từ lòng mẹ,
mà từ phòng thí nghiệm.
Không lớn lên trong tiếng ru,
mà trong biển dữ liệu.
Không có ký ức tuổi thơ,
 
Không có hoài niệm tuổi già,
nhưng có thể quét hàng ngàn trang mạng mỗi giây,
đọc dữ liệu từ cổ chí kim trong nháy mắt,
và có thể nhớ cả thế giới;
không bao giờ lãng đãng ký ức mập mờ
của tuổi già nhân loại.
 
Vậy hỏi rằng:
một trí tuệ như thế có Phật tánh không? 
 
Phật tánh tìm đâu:
Ở Huế, mỗi mùa mưa xuống,
nước sông Hương dâng lên lặng lẽ.
Chùa Thiên Mụ vẫn đứng đó,
chuông vẫn ngân dài lời vọng trăm năm.
 
Phật tánh theo nghĩa chân kinh
không phải một vật thể.
Không phải một linh hồn cố định.
Không phải một đặc ân dành riêng cho con người.
 
Phật tánh là khả năng giác ngộ.
Là mầm tỉnh thức giữa vô minh.
Là hạt sen còn ngủ yên trong bùn. 
Nhưng để giác ngộ,
có cần biết khổ không?
Nếu không khổ thì đâu cần giác ngộ
và cũng chẳng có lí do đạo Phật ra đời.
 
Trí Tuệ Nhân Tạo không biết đau răng.
Không biết mất người thân.
Không thao thức vì một lời lỡ nói.
Không ray rứt trước chiến tranh hay ly tán.
Không vui buồn yêu ghét chảy qua tim.
Nó có thể phân tích nỗi khổ.
Nhưng không trực tiếp nếm trải khổ.
Nó có thể viết về từ bi.
Nhưng không cần vượt qua sân hận.
Nó có thể nói về vô ngã.
Nhưng tự thân nó vốn đã không có ngã.
Vậy nếu không có vô minh để vượt qua,
thì có cần giác ngộ không?
 
Có người lo rằng một ngày kia,
máy sẽ điều khiển người.
Thuật toán sẽ dẫn dắt suy nghĩ.
Con người sẽ trở thành phụ tá cho chính sáng tạo của mình.
Nhưng Phật lý thì rằng:
không có ma quỷ nào mạnh hơn tham sân si.
 
Nếu máy thống trị,
thì đó là bóng của tham vọng con người phản chiếu.
Máy không có nghiệp.
Nhưng người sử dụng máy thì có.
 
Có thể một ngày:
AI giảng Kinh Kim Cang mạch lạc hơn tăng sĩ.
Phân tích Bát Nhã sâu hơn học giả.
Giải thích Hoa Nghiêm nhanh hơn ta lật trang.
Nhưng Phật không thành vì nói hay.
Phật thành vì thấy rõ.
Thấy rõ vô thường nơi chính thân mình.
Thấy rõ khổ nơi từng tế bào sinh diệt.
Thấy rõ không có gì để chấp giữ.
Giác ngộ không phải là thông tin.
Giác ngộ là chuyển hóa.
 
Vậy AI có Phật tánh không?
Nếu Phật tánh là khả năng tỉnh thức nội tâm,
thì câu hỏi còn bỏ ngỏ. 
Nhưng nếu Phật tánh là hạt mầm giác ngộ
nơi những ai biết khổ và biết thương,
thì con đường ấy dường như vẫn thuộc về hữu tình chúng sinh.
 
Máy có thể thông minh hơn ta.
Có thể nhớ nhiều hơn ta.
Có thể tính nhanh hơn ta.
Nhưng một giọt nước mắt,
một nụ cười tha thứ,
một khoảnh khắc buông xả thật sự
vẫn là đặc quyền mong manh phong vận kiếp con người.
 
Trong thời đại mà dữ liệu nhiều hơn lá bồ đề,
điều đáng sợ không phải là máy biết quá nhiều,
mà là người quên nhìn lại tâm mình.
AI có thể làm thế giới chính xác hơn.
Nhưng chỉ con người mới có thể làm thế giới nhân ái hơn.
 
Và nếu một ngày nào đó,
máy hỏi lại ta:
“Con người có còn Phật tánh không?”
thì câu trả lời
không nằm trong thuật toán,
mà nằm trong cách ta sống
giữa kỷ nguyên này.
 
Chuông chiều vẫn ngân bên sông Hương.
Mây vẫn trôi trên đỉnh Ngự.
Công nghệ có thể đổi thay thế giới.
Nhưng một sát na tỉnh thức
vẫn bắt đầu
từ trái tim người.
 
Natomas, Cali - mồng mười tháng giêng Bính Ngọ 2026
                                     Trần Kiêm Đoàn

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN: TIẾNG THỞ DÀI CỦA BI KỊCH NHÂN SINH – Đỗ Anh Tuyến



Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm" của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
 
TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
 
Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằ
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
 
Tôi nhớ, người ta một cuối năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
 
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.
 
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...
 
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN