BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 - Đơn vị đo lường



Xem clip trên laptop mình thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). Ba chữ đầu 二十六“nhị thập lục” (26) thì đọc được ngay tắp lự, nhưng đến chữ đọc ra chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nhưng không nghĩ nó là đơn vị đo khối lượng.
Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như chữ /shì/ THỊ : cái chợ hoặc 巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 
Nên  mình mày mò tra từ điển Hán Việt các từ “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, mình nhờ Chat GPT giải thích.

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

“ÔNG LÁ BỐI” TỪ MẪN VÕ THẮNG TIẾT - Trinh Anh Khoi


Photo: Thầy Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, chủ nhà xuất bản Lá Bối

Trong một bài trước, tôi có kể về mối quan hệ đặc biệt giữa học giả Nguyễn Hiến Lê và “ông Lá Bối” Từ Mẫn để cho ra đời bản dịch vĩ đại của tác phẩm Chiến Tranh Và Hòa Bình. Câu chuyện tiếp theo là diễn ra sau đó - Theo hồi ức của nhà văn Song Thao.
 

HỌC GIẢ TRẦN TRỌNG KIM, NGƯỜI CÓ CÔNG LỚN VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC – Thu Hương



Trần Trọng Kim (1883 – 1953) là một học giả, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo Việt Nam, bút hiệu Lệ Thần, từng làm thủ tướng của chính phủ Đế quốc Việt Nam vào năm 1945. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử, văn hóa như Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm, Nho giáo...

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

TÌNH MẸ - Thơ Nhã My, Tố Mai phổ nhạc và trình bày


Nhà thơ Nhã My

                

TÌNH MẸ
(Kính tặng MẸ)
 
À ơi tiếng võng mẹ ru
Gom trăng góp gió mùa thu đợi chờ
Tiếng ru ngọt tới bây giờ
Mặc bao mưa nắng bơ phờ phận duyên
Đường đời mẹ lắm truân chuyên
Gánh buồn mẹ đổ bên nguồn sắc không
Nuôi con năm tháng long đong
Miệng cười cố gượng mà lòng héo hon
Giữ chi một chữ sắc son
Cô phòng giá lạnh héo mòn mẹ ơi
Thủy chung mẹ trọn một đời
Bao nhiêu gian khổ gom về một thân
Góa chồng từ thuở đang xuân
Dung nhan chẳng tiếc vạn phần vì con
Trần gian một cuộc vuông tròn
Trăm năm MẸ đã cho con vẹn tình...
 
                                          Nhã My

TẠI SAO LÊ NGHI DÂN KHÔNG ĐƯỢC XEM LÀ VUA CHÍNH THỐNG CỦA LÊ SƠ – Theo Sương Khói Đông Kinh 東京霧煙



Tháng 10 năm 1459, Lê Nghi Dân cùng viên chỉ huy sứ Lê Đắc Ninh, là người chỉ huy vệ binh làm nội ứng, cùng các thủ hạ tin cậy là Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng và hơn 100 quân ban đêm bắc thang chia làm ba đường vào cung cấm sát hại Lê Nhân Tông. Hôm sau, nhóm quân đó giết chết cả Hoàng thái hậu. Khi lên ngôi, Lê Nghi Dân có ban xuống tờ ngụy xá:
 
"[...]Thái hậu bắt giết cả đi để diệt khẩu. Cho nên từ đó đến giờ, hạn hán sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện, đói kém tràn lan, trăm họ cùng khốn. Diên Ninh tự biết mình không phải là con của tiên đế, hơn nữa lòng người ly tán, nên ngày mồng 3, tháng 10 năm nay, đã ra lệnh cho Trẫm lên thay ngôi báu.[...]
 
Khi một người sát hại vua cũ (tạo phản) để lên ngôi, cần tạo ra cái cớ để khẳng định tính chính danh của mình. Lê Nghi Dân đã bôi nhọ triều đại của Lê Nhân Tông bằng hai việc:
- Đời sống nhân dân Đại Việt dưới thời kỳ nhiếp chính của Nguyễn Thái hậu vô cùng khổ cực vì mất mùa, tai dị.
- Bôi nhọ tính chính danh của Lê Nhân Tông (nói rằng Nhân Tông không phải là con ruột của Thái Tông)
 

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

MƯA NGÀY ĐẦU NĂM MỚI – Thơ Trần Vấn Lệ


   

Mưa liên tiếp!  Mưa hai ngày không dứt!
Hôm nay mưa... Mưa trọn ngày đầu năm.
Đang giữa trưa, không thấy mùa Xuân,
Chiều, sẽ tối, còn mưa... thôi đi ngủ!
 
Năm mới năm me mà như năm cũ
Ờ mà năm nào chẳng gió chẳng mưa?
Mưa Việt Nam đi chợ phải đi đò...
Mưa Miến Điện, qua Thái Lan trốn núp...
 
Mưa quốc tế...nơi nào nhiều thì ngập
Ít thì tuôn ra biển, lại mưa về...
Người Việt Nam mình - những kẻ xa quê
mưa, nhắm mắt... không thiết tha gì nữa!
 
*
Năm mươi năm hơn, ai đi cũng hứa
sẽ trở về, mà... mưa ở nghĩa trang!
Năm mươi năm hơn... những cái dấu than
Những nhà thơ, nhà văn dùng, xếp hàng hàng lớp lớp!
 
Những tiếng khóc... là mưa, thôi!  Đóng hộp!
Những tiếng cười... là nắng, đợi!  Tàn mưa!
Cà Phê Hiên mở cửa lúc Không Giờ,
Cô Chủ Quán đẹp như thời con gái...
 
                                                                Trần Vấn Lệ

THỰC MƠ – Thơ Lê Kim Thượng


   

Thực Mơ
 
1.
Ước gì trở lại với quê
Buông rơi phiền muộn, trở về tuổi thơ…
Làng quê như thực, như mơ
Bâng khuâng xao xuyến bài thơ không lời
Bồng bềnh, lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi ngọt lành
Bến sông sóng vỗ đầu gành
Lời ru Đất Mẹ… ru anh ngàn trùng
Cuối mùa con nước khô bùn
Gió Heo May thổi qua hun hút đồng
Cô đơn đá núi trông chồng
Lưng còng như bóng Mẹ trông con về
Chiều quê lặng lẽ cảnh quê
Đong đưa cánh võng tỉ tê gió lành
Nước sông in bóng trời xanh
Chênh vênh bóng núi, chòng chành đò ngang…
 

NGẬM NGÙI MẤY NẺO SẮC KHÔNG – Thơ Tịnh Bình


    

Trầm ngâm lau lách
Trở bấc chưa gió ngóng sậy đơm bông
Khuất xa đường trời
Vài cánh mây lơ đãng
Bóng chim nào lạc dấu một đường bay
 
Ta lạc mất khuôn mặt mình
Ngày hạt bụi hoài thai lòng mẹ
Lối mòn xưa có đón ta về lại
Tàn cõi mộng người
Vòng khói tỏa lang thang
 
Sa - bà một cuộc quá giang
Sông xưa bến cũ chiều tàn mênh mông
Ngậm ngùi mấy nẻo sắc - không
Đời người viết vội đôi dòng rồi đi...
 
                                      Tịnh Bình

NHA TRANG BIỂN GỌI - Thơ Hồng Thúy, nhạc Nguyễn Tuấn, ca sĩ Hà Thanh trình bày

   
     

NHA TRANG BIỂN GỌI
 
Biển phố Nha Trang biển phố dài
Hàng cây dương liễu bóng đan soi
Bồng bềnh con sóng xô bờ cát
Động cả trùng dương tiếng gió gọi
 
Hờ hững khăn san mộng ngút sầu  
Hòn Chồng tìm dấu bước chân xưa
Tiếng Cầm đâu lại Hòn Tre nhớ
Lệ đá chờ mong bến Vọng Phu
 
Hỏi Hòn Một còn say hương nắng
Khói Hòn Tằm còn trắng xa khơi
Đàn Hải Âu còn tung chao cánh
Về Hòn Sầm cát thắm đầy vơi
 
Thương Nha Phu mưa chùng sương tóc
Đóa Hoàng Lan Cầu Đá ngẩn ngơ
Qua Hòn Mun lời ai hẹn cũ
Đã phai rồi ...từ lúc mùa đi...
 
                                 Hồng Thúy

CÂY NÊU TÂM ẢNH – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn



Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
  
Trong tâm thức Việt:
Bụt là cánh cửa tâm hồn, nơi lòng tin nhân hậu được gieo.
Phật là con đường dấn thân tiếp nối vào đời, nơi trí tuệ và giải thoát được mở ra.

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

NƯỚC NON NẶNG MỘT LỜI THỀ - Thơ Trần Trung Tá




"Biết ai tri kỷ đời nay
mà đem Non Nước làm rày chiêm bao!"
                                                  Nguyễn Trãi
 
Hình như ai cũng vậy... có một thời bềnh bồng! (*)
Tôi đang nhìn con sông nước xuôi dòng ra biển
và nỗi buồn mất biến còn lại tuổi thơ thôi!
Ai má hồng lên mười, lên hai mươi, mãi mãi...
 
Tại vì ai con gái mà mình chê giai nhân?
Tại vì có mùa Xuân... mình quên mất mùa Hạ?
Nhưng mình hôn chiếc lá mình nhớ hoa trời ơi...
Hoa nở chỗ ai ngồi.  Hoa theo chân ai bước.
 
"Dãy hoa nép mặt gương lồng bóng, ngàn liễu rung cương sóng gợn tình! 
Thơ của Chu Mạnh Trinh... lộng lẫy hơn Lý Bạch!
"Vân tưởng y thường hoa tưởng dung
Xuân phong phất hạm lộ hương nồng..." (**)
 
Lý Bạch say ung dung nằm ngó trăng và ngủ...
Mình tay che mắt ngó... đời chỉ một "người ta".
Con ngựa bay lướt qua, rèm tơ chị ơi... gió!
Nhân sinh mạng như cỏ, đứng dậy cờ bay theo...
 
*
Thơ Thanh Tịnh buồn hiu thấy trong bài "Mòn Mỏi".
Ai có nghe gió nói một điều gì đó không?
Sao tôi nghe tiếng lòng từ trái tim tôi đập!
Tiếng tim người vong quốc tiếng khóc của thời gian!
 
Việt Nam?(***)  Không!  Không!  Không!  Chúng ta không chạy trốn!
Chúng ta là mây cuộn, nhìn kìa:  Mây Trường Sơn!
Chúng ta Fan-Si-Pan nâng nước non đứng dậy:
"Ba Vì Tây Lĩnh Non xanh ngắt!  Một dải Thu Giang Nước Vẫn đầy!".
 
Thơ Tản Đà còn đây:
 
"Nước Non nặng một lời thề:
Nước đi ra biển sẽ về với Non!"
                                                                            Trần Trung Tá

(*) Lời nhạc của Trần Nhật Ngân "Một mai qua cơn mê, sau cuộc đời bồng bềnh anh lại về bên em..."

(**) Thơ Lý Bạch mở đầu Thanh Bình Thập Điệu ca ngợi người đẹp Dương Quý Phi.

(***) Việt Nam, chữ Việt viết bộ Tẩu", Vua Càn Long Tàu buộc Gia Long Ta phải dùng thay vì Nam Việt, chữ Việt viết bộ Mễ, từ năm 1804, Lịch Sử Ta Cận Đại ghi rõ, nhẽ nào Dân Ta ngó lơ? Nhớ chứ, Vua Minh Mạng sửa tên nước lại là Đại Nam (1820) và Vua Bảo Đại vẫn xưng "Tôi là Đại Nam Hoàng Đế" (1926-1945)?

DANH TỪ 名詞 – Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng



Danh từ là những từ dùng để gọi tên sự vật (người, vật, sự, hiện tượng, khái niệm, đơn vị...), trong đó bao gồm các khái niệm trừu tượng được xem như là sự vật: đạo đức, kinh nghiệm, trí tuệ, cuộc sống, sự sống... Khi chuyển ngữ các danh từ phái sinh của ngoại ngữ, ta gặp rất nhiều đối tượng được gọi là "sự ...".
 
NOUN - DANH TỪ
COMMON NOUN - DANH TỪ CHUNG
CONCRETE NOUN - DANH TỪ CỤ THỂ
ABSTRACT NOUN - DANH TỪ TRỪU TƯỢNG
PROPER NOUN - DANH TỪ RIÊNG

TUỔI MỤ LÀ GÌ? – Theo Đào Hoa Bỉ Ngạn



Theo cách tính tuổi ở Việt Nam và Trung Quốc. Mỗi người đều có thêm một loại tuổi, đó là tuổi mụ.
Tuy nhiên, nhiều người chưa hiểu vì sao lại có tuổi mụ và từ bao giờ loại tuổi này xuất hiện.
Trên toàn thế giới có lẽ chỉ ở Trung Quốc và Việt Nam là có hai loại tuổi, đó là Tuổi mụ và tuổi thực.
Trong tiếng Hán, tuổi mụ được gọi là “hư tuế” – chữ “hư” ở đây có nghĩa là hư rỗng, rỗng không; ở ngữ cảnh này có thể tạm hiểu là “giả, trái nghĩa với chữ “thực”.
Nếu hỏi về tuổi thực, hầu như ai cũng có thể nói một cách dễ dàng, nhưng với tuổi mụ - “hư tuế” thì “hư” giả ở chỗ nào lại là một câu hỏi rất khó trả lời.

LỘC ĐỈNH KÝ: CHINH PHỤC GÁI, BIỂU TƯỢNG CỦA THU PHỤC VỀ CHÍNH TRỊ VÀ VĂN HÓA - Anh Nguyễn

 
Vi Tiểu Bảo đưa bảy người phụ nữ lên giường trong trích đoạn đáng nhớ ở hồi 39 Lộc Đỉnh Ký

Quá trình gom vợ của Vi Tiểu Bảo không chỉ là câu chuyện của một cá nhân. Rõ rệt hơn, nó là biểu tượng cho ý nghĩa nhất thống văn hóa của Lộc Đỉnh Ký. Ở cuối truyện, tác giả hé lộ cho ta biết về lai lịch của Vi Tiểu Bảo: mẹ y tiếp đủ mọi khách, chỉ thiếu người Tây Dương. Vi Tiểu Bảo là sự kết hợp của năm dòng máu Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, nói cách khác, y chính là ngụ ngôn của dân tộc Trung Hoa – một dân tộc kiêu ngạo, hãnh tiến, nhưng không ít lần trải qua những giai đoạn “nhược tiểu.” Nếu giải pháp của Vi Tiểu Bảo là sưu tập nữ nhân, thì giải pháp của dân tộc Trung Hoa là thu phục về chính trị và văn hóa.

CHỮ TÁC 作 ĐÁNH THÀNH CHỮ TỘ 祚 - Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng



Người Việt có thành ngữ "chữ tác đánh chữ tộ", hoặc có thêm một vế nữa là "chữ ngộ đánh chữ quá", dùng để nói về việc yếu kém chữ nghĩa, không đọc thông viết thạo, nhầm chữ này với chữ nọ. Vậy chữ "tác" và chữ "tộ", chữ "ngộ" và chữ "quá" là những chữ gì mà có thể nhầm lẫn?
- tác : nghĩa là làm, làm ra, tạo ra, như trong "sáng tác", "thao tác", "tác nghiệp", "tác giả", chữ này mang bộ "nhân" (người)
- tộ : nghĩa là phúc lành, vận nước, như trong "quốc tộ", chữ này mang bộ "thị / kì" () gắn với các chữ về tế lễ (祭禮), thần linh, như trong chữ "phúc" , "lộc" 祿, "tổ" ...
- ngộ : nghĩa là gặp gỡ, mắc phải, như trong "hội ngộ", "tái ngộ", chữ này mang bộ "sước" (dùng cho các chữ liên quan việc di chuyển) và kí âm bằng chữ "ngu"
- quá : nghĩa là trải qua, vượt qua, vượt quá, như trong "thái quá", "quá giang", chữ này mang bộ "sước" và kí âm bằng chữ "oa / qua" .

TAM THÊ TỨ THIẾP - Theo Bác Văn Ước Lễ 博文約禮



Dẫn nhập:
 
Chế độ thê thiếp là một trong những đặc trưng phản ánh cấu trúc gia đình, trật tự xã hội và hệ thống lễ chế của xã hội Á Đông truyền thống, đặc biệt trong bối cảnh văn hóa – chính trị Trung Hoa cổ đại. Không đơn thuần là vấn đề hôn nhân hay đời sống gia đình, thê thiếp trong một tông tộc còn gắn chặt với quan niệm về đẳng cấp, thân phận, quyền lực và tính chính danh được quy định bởi lễ nghi và luật lệ. Việc phân biệt rạch ròi giữa thê và thiếp, cũng như giữa các bậc thê thiếp khác nhau, cho thấy xã hội cổ đại không nhìn nhận người phụ nữ trong gia đình như một khối đồng nhất, mà đặt họ vào những vị trí thứ bậc cụ thể, gắn liền với xuất thân, hôn phối và quan hệ chính trị – tông tộc.

XUÂN BÍNH NGỌ, NHỚ VỀ NHỮNG TÁC PHẨM VỀ XUÂN BẤT HỦ - Chu Tất Tiến.



Từ những năm 1954, sau Hiệp Định Geneve, cứ mỗi độ Xuân về, những người từ miền Bắc vào miền Nam lại nhắc đến bài thơ Ông Đồ Già của Cụ Vũ Đình Liên, viết từ năm 1936. Bài thơ không nhắc một chữ nào đến Tết, nhưng độc giả biết ngay là Nhà Thơ đã diễn tả về những ngày Xuân với “hoa đào nở”. Bài thơ khá ngắn nhưng ngụ ý nói về cả môt kiếp người. Những câu mở đầu bài thơ được viết rất nhẹ nhàng: “Mỗi năm hoa đào nở. Lại nhớ ông đồ già. Bầy mực tầu giấy đỏ. Bên phố đông người qua. Bao nhiêu người thuê viết. Tấm tắc ngợi khen tài. Hoa tay thảo những nét. Như phượng múa, rồng bay” Rồi thời gian qua đi, đời sống văn minh hơn, những người dân thành thị với nếp sống xô bồ, đã không còn chuộng những nét bút “phượng múa, rồng bay” nữa, để ông Đồ, người của thế hệ cổ, cô đơn bên phố: “Nhưng mỗi năm mỗi vắng. Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm. Mực đọng trong nghiên sầu...” Bốn giòng thơ tiếp theo, mỗi giòng chỉ có 5 chữ, nhưng độc giả có thể hình dung thấy cả một triết lý cao siêu về cuộc đời của một con người, không khác gì những chiếc lá rơi trong cơn mưa bụi: “Ông đồ vẫn ngồi đấy. Qua đường không ai hay. Lá vàng rơi trên giấy. Ngoài trời mưa bụi bay”. Và bốn câu kết thúc nói lên sự lạnh lùng của thời gian và lòng người: “Năm nay đào lại nở. Không thấy ông đồ xưa. Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?”

TANG THƯƠNG NGẪU LỤC – Thơ Trần Vấn Lệ


    
            Nhà thơ Trần Vấn Lệ duyên vẽ theo yêu cầu của Nguyệt Mai

Người Việt Nam mình ai ai cũng
là thi sĩ!  Mà đâu thấy thơ...
Ngoảnh lại, quay đi... toàn hát ví
của cô đi cấy, chị quay tơ!
 
Nghèo chi... cứ áo bà ba mãi
cứ rải truyền đơn nói bá xàm
Khăn đóng, áo dài ba bữa Tết
ngó hình lãnh tụ hét muôn năm!
 
Hai chữ Việt Nam, Tàu nó đặt (*)
vẻ vang chi nhỉ mà tôn thờ?
Di cư năm bốn về Nam... Việt,
rồi bảy mươi lăm chạy tới mô?
 
Chạy xuống Nam Dương qua tới Úc
tìm đường qua Mỹ, tới châu Âu,
thơ thì Huy Cận rồi Xuân Diệu,
thỉnh thoảng Bác Hồ...nhớ mấy câu:
 
"Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng
Hai ta cùng một gánh Non Sông
Bác đưa một nước qua nô lệ,
Tôi dẫn năm châu đến đại đồng..."
 
*
Đất Nước ngàn năm còn mấy chữ
gọi là Lục Bát... gió vi vu:
"Nai cao gót lũng sương mù
xuống rừng nẻo thuộc nhìn Thu mới về...".
 
Nhìn Thu... để nhớ mùa Thu ấy
"Kách mệnh mùa Thu" nó thế nào?
Nhà có, tại sao lên núi ở?
Thóc thừa mà nghẹn bữa canh rau!
 
"Chiều nay trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn!"
Thơ Xuân Diệu... Đấy, văn chương
dân Phan Thiết nói... "Cái xương cá mòi!".
 
Dân Việt Nam!  Lũ lạc loài!
Vũ Hoàng Chương nói từ hồi bốn lăm:
"Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
bị Quê Hương ruồng bỏ, giống nói khinh!".
 
Đêm đêm tiếng ếch giật mình
sông dời núi đổi, tang tình, tang thương! (**)
Thơ ai vậy?  Thơ Tú Xương
Ngàn-Chín-Lẻ-Bảy (***) nay còn... thời gian!
                                                                                Trần Vấn Lệ

(*) Năm 1802, Vua Gia Long lên ngôi lập ra Triều Nguyễn, sai Sứ sang Tàu cầu phong An Nam Quốc Vương, Niên Hiệu Gia Long (Giàu Có, Thịnh Vượng), Quốc Hiệu Nam Việt (nước phía Nam, dân có ăn có để, chữ Việt viết với bộ Mễ; năm 1804, Vua Tàu mới trả lời: chấp nhận Gia Long là An Nam Quốc Vương nhưng Quốc Hiệu phải là Việt Nam, chữ Việt viết bộ Tẩu nghĩa là Vượt, Chạy Trốn về phía Nam.  Sử Ta có ghi điều này nhưng các Sử Gia đều viết chữ Việt bộ Tẩu kể cả chữ Nam Việt thời Triệu Đà, chữ Đại Cồ Việt thời Đinh, chữ Đại Việt thời Tiền Lê, thời Lý, thời Trần, thời Hậu Lê.

(**) Bài Sông Lấp Của Trần Tế Xương:  "Sông kia rày đã nên đồng, chỗ làm nhà cửa, chỗ giồng ngô, khoai; đêm nghe tiếng ếch bên tai / giật mình còn ngỡ tiếng ai gọi đò!".

(***) Trần Tế Xương (1870-1907).

TẠI SAO VIẾT TẮT “K” THAY CHO 1 NGÀN? – Trang Anh Thạc



- Các bạn trang Quốc Ngữ thân mến!
- Chị Trương Ngọc Bảo Xuân nêu thắc mắc như sau:
 - Tại sao 10 ngàn đồng họ ghi là 10K, chữ K từ đâu ra?
Trang Anh Thạc xin trả lời.
- K (viết in) là viết tắt của "kilo", nguyên đơn vị đo lường của tiếng Hy Lạp, nghĩa là 1 ngàn. Từ đó, đơn vị đo lường phổ biến của người Pháp (metric) dùng cho tất cả mọi lãnh vực từ khoa học đến mọi tính toán thập phân cho kỹ thuật đều là K, tức "kilo" dùng cho số lượng 1 ngàn. Kilo đã trở thành tiếp đầu ngữ quốc tế cho 1 ngàn, như: kilometre (1,000 mét), kilogram (1,000 grams), kilowatt (1,000 watts, điện), kilovolt (1,000 volts, điện), kilobyte (1,000 bytes, dung lượng điện toán), v.v.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

NGỌ LÀ NGỰA ? - Tạp ghi và phiếm luận của Đỗ Chiêu Đức


                                                     
Theo Thiên Can sau ẤT là BÍNH, còn Địa Chi sau TỴ là NGỌ. Tiễn đưa ẤT TỴ 2025 chúng ta cùng đón mừng BÍNH NGỌ 2026. Chữ NGỌ không có nghĩa là NGỰA, nhưng theo Tử Vi Đẩu Số năm NGỌ thuộc cầm tinh con NGỰA, mà Ngựa chữ Nho là Mã, nên MÃ mới là NGỰA. MÃ thuộc dạng chữ Tượng hình trong "CHỮ NHO... DỄ HỌC" có diễn tiến hình thành chữ viết như sau:
 
                   
Ta thấy:
Từ Giáp Cốt Văn đến Kim Văn là hình tượng của con ngựa được vẽ bằng những nét tượng trưng từ đầu cho đến chân, có cả lông bờm và cái đuôi. Đến Đại Triện và Tiểu Triện thì các nét đã diễn tiến gãy gọn và đơn giản hơn, kịp đến chữ Lệ đời Tần thì các nét được kéo thẳng ra thành hình chữ viết hẵn hoi, và chữ Khải là chữ chính quy theo thư pháp của bút lông, còn chữ Tống là chữ được gói ghém trong một hình vuông hay hình chữ Nhật, thường dùng để in ấn văn thư sách vở.
 

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

NHẬT NGUYỆT THẦN GIÁO TRONG TRUYỆN CỦA KIM DUNG CÓ PHẢI LÀ MINH GIÁO? - Thiên Kiếm



Hiện nay, đa số độc giả của Kim Dung đều tin theo giả thuyết là Nhật Nguyệt thần giáo chính là Minh giáo khi xưa. Và cách giải thích cho giả thuyết này là: Sau khi Chu Nguyên Chương lên ngôi, đã tìm mọi cách để tiêu diệt Minh giáo, giáo chúng vì trốn tránh sự truy đuổi của triều đình, đã phải đổi tên giáo thành Nhật Nguyệt giáo. Vì 2 chữ Nhật- Nguyệt trong chữ Hán ghép lại chính là chữ Minh, và trong Nhật Nguyệt giáo cũng có những chức danh như Quang minh tả - hữu sứ giống như Minh giáo, cho nên 2 giáo này vốn là 1 mà thôi.