BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

CHÙM THƠ TỊNH BÌNH


    

 
 CAM LỒ TINH KHÔI
 
Về đâu trăm vạn nẻo đường
Trong veo giọt nước hay sương đầu cành
Vô phiền vô nhiễm vô tranh
Trời cao biển rộng loanh quanh sơn hà
 
Về đâu cát bụi đời ta
Phận sâu cái kiến cỏ hoa thương cùng
Mây trời nhật nguyệt riêng chung
Trăng in đáy giếng đóng khung gương hồ
 
Mịt mờ muôn lối hư vô
Giọt sương bé nhỏ dại khờ đơn côi
Từng hồi chuông vọng xa xôi
Là mưa hay giọt tinh khôi cam lồ
 
Hải triều từng lượn sóng xô
Dấu chân ngày cũ mơ hồ kiếp sương
Hơi tàn giũ sạch ghét thương
Là sông hay biển còn vương vấn gì...
 
 
NIỀM VUI BÉ MỌN
 
Khi mùa xuân đã ngoài tầm với
Đong đưa trên tầng cao sắc lá xanh
Dây thường xuân gọi tôi ngoài cửa sổ...
 
Dẫn tôi vào tinh khôi
Xòe nở tiếng chim buổi sớm
Vạt gió ủ hương bông hoa nào giấu mặt
Có chút bình yên trong tia nắng mai đầu ngày
Mỉm cười gọi tôi đi...
 
Những bước chân xuân xa dần
Lũ bướm ong thôi mê mệt với muôn hồng nghìn tía
Con đường tôi qua
Một chút bụi cát và gai góc
Chẳng nỡ hái bông hoa dại bên đường
Bởi nâng niu niềm vui bé mọn
Dành cho ai đó vô tình ngang qua...
 

TÌNH QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng


  


Tình Quê
 
1.
Người về… một sớm bình minh
Vịn vào cơn nhớ… tìm hình tuổi thơ…
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh mơ cánh đồng
Màu trời xanh biếc, xanh trong
Chích chòe réo gọi hừng đông lên rồi
Một đàn chim sẻ rong chơi
Tiếng kêu ríu rít, tiếng rơi bồi hồi
Trời cao lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi bãi bờ
Cảnh quê như thực, như mơ
Bâng khuâng, xao xuyến bài thơ không lời
Chuồn chuồn đậu ngọn mồng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi đầy thềm
Nắng nghiêng xuống gót chân mềm
Áo nâu trong gió bóng em bồng bềnh…
 
2.
Rời xa quê cũ buồn tênh
Dòng sông chảy mãi, tuổi tên chất chồng
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều bay giữa mênh mông trời chiều
Lá dừa chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu đậm tình
Nắng rơi từng giọt lung linh
Rơi trên nón lá rung rinh bóng tròn
Chiều tà nắng xuống đầu non
Ai mang giấu ánh hoàng hôn cuối ngày
Buồn buồn ngọn gió Heo may
Tan vào nỗi nhớ tràn đầy xanh xao
Gió mơn man, rét hanh hao
Thấm vào áo mỏng ngọt ngào tái tê
Người bình dị… người chân quê
Tay nâng ly rượu hẹn thề tri âm…
 
Nha Trang, tháng 04. 2026
Lê Kim Thượng               

RÕ KHỈ - Thơ Lê Phước Sinh


  


RÕ KHỈ
 
Bị siết Vòng Kim Cô
Thiên Đình chơi xỏ lá phong làm Đại Thánh
Nhổ lông, gãi háng, nhăn nhó, trừng mắt...
dáo dác
ôm Thiết Bảng đằng vân tìm phương : - Bơ Cứu...
 
                                                     Lê Phước Sinh

CHÙM THƠ NGẮN CỦA TỊNH BÌNH




1. THÁNG TƯ
 
Hạ về thương quá lời ve
Chói chang cái nắng gọi hè ra chơi
Dỗi hờn mây thả mưa rơi
Đỏ hoe mắt phượng đầy trời tương tư...
 
 
2. SEN
 
Hiến dâng tất cả cho đời
Hoa thân rễ lá ngát lời sen hương
Giữa trời trơ mảnh đài gương
Im soi bóng nắng chân phương lối về...
 
 
3. QUÊ NHÀ
 
Gọi chi thao thiết tiếng gà
Vạch màn sương khói quê nhà ta đâu
Mịt mờ mấy nẻo bể dâu
Non xa biển biếc vọng sầu cố hương...
 
                                          Tịnh Bình

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

TỤC HUYỀN 續弦 - Bài viết: Khánh Ly, Tri thư đạt lễ - 知書達禮


 
“Dạy rằng hương lửa ba sinh,
 Dây loan xin nối cầm lành cho ai.”
                               (Truyện Kiều)

Loan huyền, chữ Hán viết 鸞弦, nghĩa là dây đàn đã đứt được nối lại bằng keo loan. Đây là một điển cố trong thần thoại Trung Hoa. Theo Hải nội thập châu ký - Phụng lân châu chép rằng ở châu Phụng Lân Tây Hải có nhiều tiên nhân. Tiên nhân dùng mỏ chim phụng và sừng kỳ lân nấu thành một loại keo thần, có thể nối dính dây cung hoặc dây đàn bị đứt, khiến dây liền lại như cũ. Loại keo ấy gọi là Tục huyền giao 續弦膠 hoặc Loan giao 鸞膠.

Từ điển cố này, hành động nối dây đàn trong văn chương cổ thường được dùng để chỉ việc tái kết duyên vợ chồng, nhất là trường hợp người đàn ông góa vợ lấy vợ kế. Các thành ngữ như Loan giao tái tục 鸞膠再續 hay Loan giao phụng ti 鸞膠鳳絲 cũng đều mang ý nghĩa nối lại mối duyên cầm sắt.

NHÂN LÀNH THÌ QUẢ NGỌT – Nguyễn Toàn Thắng



Trong dòng chảy hối hả của cuộc đời, đôi khi chúng ta dừng lại và tự hỏi: Tại sao có những người dường như luôn gặp may mắn, còn mình lại cứ mãi lận đận? Tại sao có những người sống giữa giông bão vẫn an nhiên, còn mình lại dễ dàng sụp đổ trước một biến cố nhỏ? Câu trả lời không nằm ở sự thiên vị của số phận, mà nằm ở quy luật thầm lặng nhưng bền bỉ nhất của vũ trụ: Nhân lành thì quả ngọt.
 

SỰ "THẬT THÀ" CỦA NHÀ VĂN ĐÔNG LA – Đặng Xuân Xuyến



Được bạn bè chuyển cho xem ảnh chụp những dòng chua chát của nhà văn Nguyễn Quang Lập về “thói đời tình người” rất thật trên facebook cá nhân ngày 14 tháng 6 năm 2025: "Bạn bốn phương toàn bạn nhậu, hơn nghìn lít rượu may lắm mới có một người son sắt thuỷ chung. Một người giúp chục kẻ phá, một người chân thành chục kẻ đểu giả. Ngó quanh khó thấy kẻ thật bụng thương mình, toàn đám giả cầy ngoài thơm trong thối, bán bạn 10 xu cũng bán. Thế mà vẫn cứ đánh đu với chúng nó. Là bốn cái ngu. Đại ngu. Tứ đại ngu hu hu hu..". Tôi khá đồng cảm với chia sẻ của ông vì tôi đã từng có đôi lần rơi vào tâm trạng như thế. Tôi lại nhớ tới lời "tâm sự thật”, thật đến phũ phàng của nhà văn Dương Thu Hương về "giới phê bình" qua lời kể của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh mà thấy thương, thấy tồi tội những người "đam mê con chữ": "Trừ anh Hoàng Ngọc Hiến là thầy tôi, anh Nguyễn Đăng Mạnh là người tôi kính trọng, còn tất cả bọn phê bình đều là dòi bọ. Riêng Phan Cự Đệ là con chó ngao”.
 

“HƯƠNG QUÊ” BÀI THƠ CỦA PHƯƠNG NGỮ BẮC BỘ… - Dương Diên Hồng



Tôi đọc “Hương Quê” của tác giả Đặng Xuân Xuyến cách đây khá lâu. Gần đây, đọc lại kỹ hơn. Không phải muốn đền ơn bạn Xuyến đã xem chỉ tay mà thật lòng là thích bình bài thơ này. Thi thoảng tôi vẫn có cảm hứng bình cho vui, thuận tiện nhất là khi rảnh. Đó là thú “thích thì nhích” đời thường của người dạy Văn, học Văn.
 
Bài thơ Hương Quê có nhiều từ mới, đối với tôi, cũng cần đi sâu để hiểu thêm về Văn chương của các nhà Văn Bắc bộ…
 
Hôm nay, thong thả đọc thơ và cảm nhận chút chút…
 
HƯƠNG QUÊ
 
Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm
Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm
Níu bờ sông
Ơi ời “ra ngõ mà trông”
Vi vút gió đồng...
 
Ngẩn ngơ
giấc mơ
Níu đôi bờ bằng dải yếm
Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm
Áo tứ thân trải lá lót nằm
Gom gió lại để chiều bớt rộng...
 
Thẩn thơ
Tiếng mơ thầm thĩ
“Người ơi...
Người ơi...”
Dan díu lời thề
Ngõ quê líu quíu.
 
Hà Nội, chiều 31.08.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TÊN SÔNG “THẠCH HÃN” CÓ NGUỒN GỐC TỪ TÊN LÀNG - La Thụy sưu tầm và biên tập

Tên sông Thạch Hãn được vua Minh Mạng cho khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu - Hoàng thành Huế) dưới dạng chữ Hán là Thạch Hãn giang 江捍石 (đọc ngược từ phải sang trái)
Các văn tự viết bằng chữ Hán có liên quan đến tên sông Thạch Hãn của các làng trong vùng đều viết chữ Hãn () theo nghĩa là ương bướng, cản trở chứ không viết chữ Hãn () theo nghĩa mồ hôi.
 
Sông Thạch Hãn khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu, Huế)

Sông Thạch Hãn có nguồn gốc địa danh từ tên làng Thạch Hãn. Tên Thạch Hãn xuất hiện từ thế kỷ XVI - XVII và được các nhà Nho diễn nghĩa Hán tự từ ghồ đá cản dòng trên sông, đoạn đi qua làng Thạch Hãn. Trước đó, khi làng Thạch Hãn còn mang tên là Thạch Hàn/Đá Hàn thì sông được gọi là sông Đá Hàn. Vì thế, dân gian gọi là Nguồn Hàn.
 
Sông Hãn cường ngạnh, kiên trinh, không chịu phục tùng tự nhiên hay chính nó cũng đã tạo nên tính cách của con người Quảng Trị !

LOẠN CÙNG PHÉP LẠ AI – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn


Hình minh họa của AI dành riêng cho bài viết này
 
 Hôm nay, ngày Rằm Tháng Giêng và đêm Nguyên Tiêu, nhận được email của chị Kim Oanh chuyển tiếp trang thơ của chị cho quý bằng hữu xem những trang thơ xướng họa của chị và thi hữu, tôi bỗng nảy ra ý vui vui đầu năm là nhờ AI làm thơ xướng họa nên đã viết cho CHAT GPT – AI – TRÍ TUỆ NHÂN TẠO như thế này:
 
Dear Chat GPT: Tôi cũng thường làm thơ các thể loại cổ điển, truyền thống cũng như "cách tân". Nhưng gần đây rừng thơ thế giới cũng như Việt Nam bị "LOẠN AI" - nên thơ đang có hiện tượng là "thơ máy" với người khen cũng lắm mà người chê cũng nhiều. Thơ AI thường bị nhận xét chung là nó "kỳ kỳ, hay hay nhưng sao sao ấy" – một cảm giác vừa thanh vừa thô khó diễn đạt trọn vẹn – Nay có chị bạn thơ Kim Oanh làm một bài thơ xướng, tôi muốn nhờ AI làm một bài họa rất "tâm đắc"; nghĩa là vừa chỉnh chu về niêm luật thơ Đường Thất Ngôn Bát Cú, vừa diễn đại về ý và lời rất nhẹ nhàng, giàu cảm xúc và đậm tính thi ca của người Việt Nam vốn yêu thơ. Tôi xin copy nguyên văn bài thơ của chị Kim Oanh như sau. Mong nhận được bài thi họa của AI:

TỪ ẤY – Thơ Lê Kim Thượng


   

Từ Ấy
 
1.
Em xa từ ấy đến giờ
Nhớ ai dáng nhỏ mịt mờ chân mây
Nhớ tà áo gió bay bay
Tôi về nhặt nhạnh tháng ngày trở trăn…
Bàn tay mười ngón búp măng
Vuốt ve mái tóc, tóc quăn mây trời
Tóc thề che nửa lưng người
Hoa đào thắm đỏ, môi cười nhẹ cong
Thơ ngây, mơ mộng, trắng trong
Đam mê tình tứ một lòng keo sơn…
Tôi – Em ai nhớ nhiều hơn
Nhớ em hờn dỗi tủi hờn thâu đêm
Ai làm nhung nhớ nhiều thêm
Ai làm ngây ngất con tim chung tình
Thương yêu cho hết lòng mình
Qua bao năm tháng chuyện tình không phai…
 

VÌ SAO TA DỄ KHÓC VÌ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG XỨNG ĐÁNG – Nguyễn Toàn Thắng



Trong hành trình đi qua những đổ vỡ, có lẽ câu hỏi khiến chúng ta ray rứt nhất chính là: Tại sao mình lại có thể yếu lòng đến thế vì một người vốn dĩ chẳng hề xứng đáng? Có những giọt nước mắt rơi xuống, nóng hổi và đắng ngắt, không phải vì đối phương quá quan trọng hay vĩ đại, mà bởi vì trái tim ta đã trót trao đi quá nhiều mà chẳng nhận lại được bao nhiêu. Ta đau không hẳn vì họ tốt đẹp, mà vì ta đã từng dốc lòng tin rằng họ sẽ tử tế. Ta khóc không hẳn vì họ đáng giá, mà vì ta đã đặt để vào họ quá nhiều kỳ vọng, để rồi khi thực tại phũ phàng ập đến, ta bàng hoàng nhận ra mình vừa đánh mất cả một bầu trời hy vọng.
 

VỀ LẠI MIỀN THƯƠNG – Thơ Đỗ Anh Tuyến


       

(Họa bài thơ 
CON MUỐN VỀ QUÊ NỘI, NỘI ƠI của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến)

 VỀ LẠI MIỀN THƯƠNG

Con về đây... giữa tuổi đã trung niên
Tìm lại dấu chân xưa vùng Gia Viễn
Dòng sông cũ, sóng tràn trên mặt nước
Đầm Vân Long... vương vấn một câu hò.
 
Ngược lối mòn con tìm đến Cầu Bo
Lời hứa cũ cứ nghẹn ngào nhắc nhở
Bà đi rồi... để lòng con vụn vỡ
Biết ai người dẫn bước lối xưa theo?
 
Tiếng chuông chùa vọng lại phía chùa Keo
Nghe huyền thoại về thiền sư Không Lộ
Nền gạch cũ in dấu hài thuở nọ
Dựng giang sơn... rạng rỡ những trang hùng.
 
Ước một lần mang sức vóc trẻ trung
Ngồi nghe Nội kể chuyện đời dâu bể
Để hiểu thấu chữ Nhân nồng hậu thế
Giữa cõi người... nhân nghĩa mãi lên hương.
 
Dẫu hôm nay ngăn cách những nẻo đường
Gia Viễn, Cầu Bo... mờ sương lối đợi
Nhưng trong dạ vẫn vẹn nguyên tiếng gọi:
Nội đi rồi... con vẫn hướng tâm theo!
 
                                    ĐỖ ANH TUYẾN
 
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

CHUYỆN VUI: VỀ PHAN THIẾT ĂN HẢI SẢN – Bài viết của Ngô Đình Miên


Tác giả Ngô Đình Miên


Hồi còn làm việc, có lần, đoàn công tác của một cơ quan đồng nghiệp ở một tỉnh phía Bắc đi "tham quan học tập" ghé ngang và ở lại Phan Thiết. Chiều hôm đó, tôi là người tiếp khách, cùng ăn cơm với đoàn khách tại một quán hải sản.

Trong khi vừa ăn vừa cụng ly, anh trưởng đoàn khách nói với tôi:
- Phan Thiết nổi tiếng về hải sản, nhờ anh giới thiệu một số món ngon cho anh em chúng tôi biết.
Nhìn trên bàn ăn, tôi thấy có các món do văn phòng cơ quan đặt trước (theo ý tôi), nên chỉ toàn là hải sản. Trong đó, có các món: dòm (vẹm xanh) hấp, cá chim nướng, cá bớp nấu canh chua, gỏi cá suốt, cá đuối sốt trứng, cá đục kho tộ.v.v...

CHỮ “MINH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Đồng âm Minh, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Tiếng Việt có Minh - một chữ xuất hiện nhiều trong tên người Việt mà ta thường nghĩ ngay tới nét nghĩa sáng sủa, rõ ràng như bình minh, thông minh, minh bạch, v.v..

Nhưng Minh là một chữ khá đặc biệt, bởi vì nó không chỉ mang nghĩa tỏ tường mà ngược lại, Minh còn có cả nét nghĩa tương phản.
Minh có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, trí tuệ. Trong Lục Thư, Minh thuộc loại chữ hội ý. Nó được kết hợp từ hai chữ tượng hình là nhật và nguyệt , mang ý nghĩa liên quan đến ánh sáng. Vì mặt trời và mặt trăng đều là những thiên thể phát sáng trong tự nhiên, sự tồn tại của chúng làm cho thế giới trở nên rực rỡ nên khi ghép hai chữ này lại với nhau, ta có Minh với ý nghĩa sáng sủa. Đây cũng chính là nét nghĩa thường gặp trong tiếng Việt.

TIẾNG CHAM CỦA BẠN: CHĂM HAY CHÀM, HAY...? – Bài viết của Inra Sara


Tác giả Inra Sara
 
Các bạn lưu ý: Đây là chủ đề nghiên cứu khoa học tôi đề cập từ lâu, chủ yếu cung cấp cho người đọc dữ liệu cần thiết để đối chiếu, hiểu biết. Rất mong không nên còm mang tính cực đoạn, phân biệt đối xử. Karun!

Từ "Chăm" chính thức được Nhà nước quy định gọi tên dân tộc Cham từ năm 1979. Từ quần chúng đến nhà nghiên cứu, từ nghệ sĩ cho đến giới khoa bảng đều sử dụng tên gọi này trong sinh hoạt, bài viết, thơ văn hay công trình khoa học của mình. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có người dùng từ “Chàm”. Bởi hiện tại từ “Chàm” vẫn còn hiện hữu ở rất nhiều địa danh, tên gọi, danh từ riêng. Vân vân… Không hiếm người dùng nó. Rồi cũng không ít người cho như thế là không phải phép, nặng hơn - miệt thị dân tộc này.

TÂY DU KÝ THÓA MẠ CHU NGUYÊN CHƯƠNG NHƯ THẾ NÀO? - Bài viết của Lại Nhật Quang



Độc giả khi tìm hiểu về đời sống cá nhân của Ngô Thừa Ân sẽ thấy không khó hiểu khi mà nhìn thấy trong Tây Du Ký đâu đâu cũng là những mật ngữ giễu nhại chế độ thống trị của nhà Minh đương thời, và đương nhiên không thể thiếu hoàng đế khai quốc nhà Minh - Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương
Hãy cùng xem những mật ngữ nào trong Tây Du Ký công khai thoá mạ vị hoàng đế này
 
1. Trấn Nguyên Đại Tiên
 
Là ông chủ sở hữu cây nhân sâm ở Ngũ Trang Quán - tác dụng của cây nhân sâm này thế nào thì anh em đọc truyện xem phim đều đã rõ, tôi không nhắc lại
Trấn Nguyên Đại Tiên còn tục gọi là Trấn Nguyên Tử - nghĩa là trấn áp giặc Nguyên, mà người đuổi cổ nhà Nguyên về thảo nguyên Mông Cổ là Chu Nguyên Chương
Trấn Nguyên Tử mang tiếng là ông tổ dòng Địa Tiên nhưng hành xử thì nhỏ mọn, tiểu nhân. Trọng nhau thì gọi là "cố nhân", khinh nhau thì thành tù nhân, bốn thầy trò Đường Tăng bị lão dùng đủ thứ cực hình như thả vạc dầu, lấy roi đồng quất toác da nát thịt, thế nhưng khi Ngộ Không ngỏ ý đi tìm thuốc chữa cây cho lão thì lão lại nói : Nếu ngươi cứu được cây nhân sâm của ta, ta bỏ qua mọi chuyện và kết nghĩa anh em. Ông vừa mới dùng hình với người ta xong phút sau đã muốn kết nghĩa anh em, con người gì lật mặt nhanh hơn bánh tráng
Đây là chi tiết ám chỉ thói bạc bẽo, vong ơn phụ nghĩa của Chu Nguyên Chương với các tướng lĩnh của mình, khi hoạn nạn thì trọng dụng, khi an hưởng thái bình thì đồ sát hết

THƠ THÁNG BA CỦA ÁI NHÂN


   

Nhà thơ ÁI NHÂN
Tên thật: Bùi Cao Thế
Hội viên Hội VHNT – Hưng yên
Hội viên Hội nhà văn Hà nội
Đã in riêng 12 tập thơ tình tại NXB Hội NV
ĐC: 139 Ngõ 399 đường Ngọc lâm – Long biên – HN
ĐT: 0984470914
TK: 10524096395016 Tecombank
 
 
Lời Tháng Ba
 
Đầu làng hoa gạo bung hoa
Đỏ nhòe nước mắt phôi pha nạ dòng
Bến sông hoa cải trổ ngồng
Cánh cò đói gió, quặn lòng nhớ mong
 
Chập chờn khúc khuỷu long đong
Mười hai bến nước đâu dòng em mơ
Ai người chuốt gió buộc thơ
Buông câu thương nhớ vu vơ mà cười
 
Hoa như đuốc thắp đỏ trời
Cháy lên khao khát những lời tháng ba
Lập lòe đom đóm bay ra
Tương tư vô định… kiêu sa mơ màng

 
Hồn Làng
 
Sù sì đội nắng cõng mưa
Rêu phong trầm mặc ngàn xưa hồn làng
Lúa thơm từ cánh đồng vàng
Hoa rưng rức gọi, mơ màng bóng quê
 
Người còn đợi bến sông mê
Người đi biền biệt sơn khê phương nào
Tháng ba nhớ đến cồn cào
Đầu làng sáo sậu chào mào vẫy hoa
 
Bao mùa người đã đi xa
Nhớ không hoa gạo làng ta vẫn chờ
Ngược hồn về giữa giấc mơ
Nhặt bông gạo đỏ ấu thơ… thắp lòng
 
 
Nhớ Tháng Ba
 
Nắng vàng lên lối tháng ba
Hoa xoan rắc tím la đà ngõ xuân
Thương thầm từ độ thanh tân
Lời không dám ngỏ phù vân mộng tình
 
Bão giông tận đáy tim mình
Đôi khi chợt thức bất bình gió mưa
Người giờ còn nhớ xuân xưa
Cái đêm tan hội ta đưa nhau về?
 
Bến mê mưa gió dầm dề
Chênh chao giấc điệp bộn bề nhớ thương
 
 
Hoài Niệm Hoa Ban
 
Con đường cũ có còn hoa ban nở?
Tháng ba ơi kỷ niệm mãi qua rồi
Thao thức nhớ thuở mong nhau diệu vợi
Chợt bồi hồi tim loạn nhịp rưng rưng
 
Như có tiếng “Vừng ơi ra mở cửa”
Lời yêu thương anh chân thật dịu dàng
Hoa ban trắng đem cài lên mái tóc
Lòng bâng khuâng em bật khóc thương mình
 
Anh khờ khạo để tình ta dang dở
Cửa tim em chưa mở lại lần nào
Đêm thảng thốt mèo hoang gào gọi bạn
Đau quặn lòng thương cánh nhạn cô đơn
 
Đêm trống vắng biết tìm ai hờn dỗi
Tháng năm trôi thấm thoắt quá nửa đời
Thương nhớ lắm, bên trời anh có biết
Tháng ba về da diết nhớ… hoa ban?
 
                                         ÁI NHÂN

XÓM LÀNG – Thơ Lê Kim Thượng


 
 

Xóm Làng
 
1.
Người về… đi giữa hàng cây
Dặm đường gió bụi nhuộm đầy cô liêu
Người về mái ấm nhà yêu
Đất nghèo xưa cũ cũng nhiều đợi mong…
Thẹn thùng cơn gió tàn Đông
Tiếng chim Chiền Chiện trên đồng hót vang
Mùa về êm ấm xóm làng
Đào hồng chúm chím, mai vàng chờ xuân
Rì rào sóng lúa vang ngân
Hẹn người mùa vụ đầy sân lúa vàng…
Sợi mây cõng vạt nắng tan
Gió qua vườn vắng muộn màng chơi vơi
Nắng vàng còn chút đem phơi
Giọt chuông lắng đọng rơi rơi lưng đèo
Mái hiên cong mảnh trăng treo
Đêm buông dìu dịu xóm nghèo xanh xao…
 

XUÂN CÒN LẠI, VŨ THỦY – Thơ Tịnh Bình


   

XUÂN CÒN LẠI...
 
Dạo chơi cùng mây trắng
Én lượn trời bao la
Cỏ xanh và nắng ấm
Gió xuân hát tình ca
 
Mùa reo chồi lộc nõn
Lung linh cánh bướm vờn
Thẹn thùng chi hoa thắm
Muôn tía với nghìn hồng
 
Đã qua rồi Tết ấm
Còn lại xuân nồng nàn
Giêng hai ngồi hong tóc
Mây trời xanh thênh thang
 
Đâu cần chi gương lược
Điểm trang ngày thanh tân
Ngọt giọng chim cành biếc
Thả tiếng xuân trong ngần...
 

TẦM XUÂN – Thơ Lê Phước Sinh


   

Rải hoa trên áo ngọt ngào
Giọt sương nở nụ tháng ngày dõi xa
tạo men chuốc mộng sơn hà
bình an ấm áp quyện vào hương xưa.
 
                                  Lê Phước Sinh