BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

SÔNG “THẠCH HÃN” CÓ NGUỒN GỐC TỪ TÊN LÀNG - La Thụy sưu tầm và biên tập

Tên sông Thạch Hãn được vua Minh Mạng cho khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu - Hoàng thành Huế) dưới dạng chữ Hán là Thạch Hãn giang 江捍石 (đọc ngược từ phải sang trái)
Các văn tự viết bằng chữ Hán có liên quan đến tên sông Thạch Hãn của các làng trong vùng đều viết chữ Hãn () theo nghĩa là ương bướng, cản trở chứ không viết chữ Hãn () theo nghĩa mồ hôi.
 
Sông Thạch Hãn khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu, Huế)

Sông Thạch Hãn có nguồn gốc địa danh từ tên làng Thạch Hãn. Tên Thạch Hãn xuất hiện từ thế kỷ XVI - XVII và được các nhà Nho diễn nghĩa Hán tự từ ghồ đá cản dòng trên sông, đoạn đi qua làng Thạch Hãn. Trước đó, khi làng Thạch Hãn còn mang tên là Thạch Hàn/Đá Hàn thì sông được gọi là sông Đá Hàn. Vì thế, dân gian gọi là Nguồn Hàn.
 
Sông Hãn cường ngạnh, kiên trinh, không chịu phục tùng tự nhiên hay chính nó cũng đã tạo nên tính cách của con người Quảng Trị !

Về tên gọi Thạch Hãn, nguyên tên trước là Thạch Hàn [石瀚]
Sách “Hoàng Việt Nhất thống dư địa chí” (1806) mô tả: “Từ bến trước công đường (tức Ái Tử), đi thuyền theo đường sông... theo hướng tây nam đi lên 2.200 tầm, phía bắc là đất phù sa và đất khô, phía nam là dân cư và chợ Thạch Hãn, chợ đông vào buổi sáng, quán xá thưa thớt, khách đi đường có thể nghỉ lại, đến kho cũ Thạch Hãn. Ở đây có dãy đá nằm ngang sông nổi lên mặt nước, chỉ chừa lại một lỗ hổng nhưng thuyền bè có thể qua lại được, bị dãy đá cản nên chỗ này nước chảy rất xiết, đến mùa thu đông mưa lụt, nước đầy lút mất đá, thuyền đi không biết đâm phải có khi không còn”.
 
Làng Thạch Hãn được hình thành từ nửa cuối thế kỷ XV với tên là làng Thạch Hàn (石韓). Chữ HÀN () của làng Thạch Hàn được chép trong “Ô châu cận lục” hàm nghĩa là tên nước, tên họ (như Hàn Quốc, Hàn Tín) chứ không phải chữ Hàn/Hãn () mang nghĩa mồ hôi.
 
Trong dân gian, 2 chữ Thạch Hàn được diễn Nôm là ĐÁ HÀN. Tên làng Thạch Hàn cũng được gọi là làng Đá Hàn. Ngày nay, địa danh này vẫn còn lưu ảnh ở thị xã Quảng Trị qua nhà thờ Thiên Chúa mang tên Đá Hàn. Vì thế, tên sông trong dân gian vẫn gọi là sông ĐÁ HÀN. Tên NGUỒN HÀN là theo chữ Hàn () này và từ đó mà ra. Nhưng tên sông Đá Hàn có khi được hiểu là do nước trong và lạnh, nhưng có khi lại được hiểu theo nghĩa “thành giếng bằng đá”. Cụm từ “thành giếng bằng đá” có lẽ là việc diễn Nôm từ nghĩa Hán tự vừa mang cả chữ Hàn (lạnh) lại vừa mang cả chữ (bảo vệ).
 
Các văn tự viết bằng chữ Hán có liên quan đến tên sông Thạch Hãn của các làng trong vùng đều viết chữ Hãn () theo nghĩa là ương bướng, cản trở chứ không viết chữ Hãn () theo nghĩa mồ hôi.
Năm 1836, sau khi ổn định đất nước, vua Minh Mạng đã chọn sông Thạch Hãn là một trong 9 thắng cảnh của đất nước để đúc vào Cửu Đinh bày ở sân rồng coi như quốc bảo.

Cửu Đỉnh (nhà Nguyễn)
 
Tên sông Thạch Hãn được vua Minh Mạng cho khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu - Hoàng thành Huế) dưới dạng chữ Hán là Thạch Hãn giang 江捍石 (đọc ngược từ phải sang trái)
 
Ở Quảng Trị xưa đã có câu ca dao:
 
“Chẳng thơm cũng thể hương dàn
Chẳng trong cũng nước nguồn Hàn chảy ra”
 
Nguồn Hàn là tên gọi dân gian chỉ sông Thạch Hãn. Về tên gọi Thạch Hãn, lâu nay không ít người tự hiểu theo nghĩa chủ quan là… “mồ hôi của đá”. Thực ra không phải như vậy, thạch thì đúng là đá rồi, còn hãn hay hàn có nghĩa là ngăn cản. Vì ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, tên sông đặt theo đặc điểm này, thành sông Thạch Hãn.
 
Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì sông Thạch Hãn chỉ dài khoảng 170 dặm bao gồm cả đầu nguồn, nghĩa là chỉ độ 100km. Với độ dài như vậy nên lượng phù sa do sông tải đến không nhiều, trừ những ngày lũ lụt, nước thường trong xanh nhìn thấy đáy. Điều đó được nói đến trong 2 câu thơ của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến:
 
“Tây phong Hà xứ xuy trần khởi
Bất tụ niên tiền triệt thể thanh”
 
Lương An dịch:
 
“Gió tây cuốn bụi dồn
Nước trong thấy đáy nay còn nữa đâu”
 
Sông Thạch Hãn là con sông dài và đẹp nhất tỉnh Quảng Trị. Sông bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn ở phía Tây Nam của tỉnh. Dòng sông uốn lượn từ hướng Đông và Đông Bắc, gặp sông Rào Quán lại chảy về hướng Đông rồi ngược lên phía Bắc, nhập với sông Cam Lộ (tức sông Hiếu, chảy qua thị xã Đông Hà) tại ngã ba Dã Độ (sau này quen gọi thành Gia Độ) rồi lại quay về hướng Đông, đỗ ra cửa Việt Yên, gọi tắt là Cửa Việt.

Sông Thạch Hãn trên bản đồ

Không chỉ từ xưa mà cho đến cả bây giờ, sông Thạch Hãn vẫn là mạch máu giao thông đường thủy rất quan trọng của tỉnh Quảng Trị.
Với hình thể uốn lượn uyển chuyển như thế lại có thêm nhiều phụ lưu thuốc các huyện Triệu Phong - Hải lăng là hai vựa lúa của tỉnh Quảng Trị như Vĩnh Định, Vĩnh Phước, Điếu Ngao nên mật độ giao thông trên sông ngày càng lớn. Đặc biệt, là con hào thiên tạo phía Bắc thành cổ Quảng Trị (nay là thị xã Quảng Trị) con sông Thạch Hãn lại có vị trí chiến lược về quân sự.
Đoạn trên trích từ bài viết của Lưu Thị Thu Anh

https://thuanhdhqb.violet.vn/entry/song-thach-han-1516508.html
 
Tóm lại:
 
Sông Thạch Hãn có nguồn gốc địa danh từ tên làng Thạch Hãn. Về tên gọi Thạch Hãn, không có nghĩa là “mồ hôi của đá” như nhiều người lầm tưởng.
 
Thạch Hãn (石韓) là ghồ đá cản dòng trên sông. Người Quảng Trị gọi loại đá cản dòng trên sông này là “đá giăng cừ”
Đoạn sông đi qua làng Thạch Hãn, ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, tên sông đặt theo đặc điểm này, thành sông Thạch Hãn.

Các văn tự viết bằng chữ Hán có liên quan đến tên sông Thạch Hãn của các làng trong vùng đều viết chữ Hãn là theo nghĩa là ương bướng, cản trở chứ không viết chữ Hãn () theo nghĩa mồ hôi.
Thạch Hãn giang viết theo chữ Hán là 江捍石 (đọc ngược từ phải sang trái) theo như hình khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu - Hoàng thành Huế)
 
                                                          La Thụy sưu tầm và biên tập

Không có nhận xét nào: