Hình ảnh: Đồng âm Minh, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
Tiếng Việt có Minh - một chữ xuất hiện nhiều trong tên
người Việt mà ta thường nghĩ ngay tới nét nghĩa sáng sủa, rõ ràng như bình
minh, thông minh, minh bạch, v.v..
Nhưng Minh là một chữ khá đặc biệt, bởi vì nó không chỉ
mang nghĩa tỏ tường mà ngược lại, Minh còn có cả nét nghĩa tương phản.
Minh 明
có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, trí tuệ. Trong Lục Thư, Minh 明 thuộc loại chữ hội ý. Nó được kết hợp từ hai chữ tượng
hình là nhật 日 và nguyệt 月, mang ý nghĩa liên quan đến ánh sáng. Vì mặt trời và
mặt trăng đều là những thiên thể phát sáng trong tự nhiên, sự tồn tại của chúng
làm cho thế giới trở nên rực rỡ nên khi ghép hai chữ này lại với nhau, ta có
Minh 明 với ý nghĩa sáng sủa.
Đây cũng chính là nét nghĩa thường gặp trong tiếng Việt.
Trong “Kinh Thi - Quốc Phong - Kê Minh” có câu “Đông
phương minh hĩ”, tạm dịch là: Đằng Đông hửng sáng rồi. Hay trong bài thơ “Tĩnh
Dạ Tứ” của Lý Bạch có câu: “Sàng tiền minh nguyệt quang”, dịch thơ là: Đầu giường
chợt thấy bóng trăng,
Mập mờ trên đất ngỡ rằng sương sa (bản dịch thơ Trần
Trọng Kim).
Minh 冥
có nghĩa là tối tăm, u ám hoặc thăm thẳm, thâm sâu tùy ngữ cảnh. Nó có bộ mịch 冖 cho nghĩa che phủ, bao trùm, đồng thời cũng cho âm đọc.
Khi một thứ gì đó bị che phủ từ trên xuống, đương nhiên sẽ tối tăm. Minh 冥 ám chỉ đến ngày 16 âm lịch, trăng tròn bắt đầu khuyết,
dẫn đến ánh sáng giảm dần nên không gian tối lại.
Minh 溟
có nghĩa là mưa phùn, bể, biển. Bộ thủy 水
thể hiện nghĩa liên quan đến nước, minh 冥
cho âm đọc. Khi kết hợp chúng lại, Minh 溟
cũng cho được nghĩa mưa phùn giăng mù mịt. Cao Bá Quát dùng chữ Minh này trong
“Tây minh”, nghĩa là biển Tây. Nguyễn Khuyến cũng dùng chữ Minh này trong “Đông
minh”, nghĩa là biển Đông.
Minh 茗
có nghĩa là mầm trà, nõn trà. Ví như hương minh (trà thơm), minh diệp (lá trà)
hay vị minh (nếm trà).
Minh 盟
có nghĩa là giao ước, lời thề, ta thường gặp trong từ minh thệ, minh sơn,...
Lũng Nhai minh hội 隴崖盟會
hay còn gọi hội thề Lũng Nhai cũng là chữ Minh này. Từ nghĩa đó, Minh 盟 còn chỉ cho quan hệ tín ước như trong các từ đồng
minh, liên minh,...
Minh 銘
là tên của một thể văn được khắc trên chuông, bia đá,... để răn dạy hậu thế hoặc
ghi công đức tiền nhân, ta thường gọi là bài minh. Trong kho tàng văn bia nước
ta, văn bia công đức chiếm số lượng lớn và có giá trị cao về mặt sử liệu lẫn
văn học. Thời Lý có các bài bi minh công đức nổi tiếng như Bảo Ninh Sùng Phúc tự
bi của Lý Thừa Ân, Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh và Sùng Nghiêm Diên Thánh tự
bi minh của Thiền sư Pháp Bảo, Đại Việt Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên linh
tháp bi của Nguyễn Công Bật, vv..
Bài viết của Khánh Ly
Trích từ Tri thư đạt lễ - 知書達禮
*
Vài lời lạm bàn của La Thụy:
Bài
viết còn bỏ sót một chữ Minh khá phổ biến.
Đó là MINH 鳴:
hót, gáy, phát ra tiếng, như trong "cô chưởng nan minh" 孤掌難鳴 (một bàn tay không vỗ thành tiếng), đây
là chữ hội ý ghép chữ "khẩu" 口
nghĩa là miệng với chữ "điểu" 鳥
để chỉ chim phát ra tiếng (hót, gáy).
鳥鳴 ĐIỂU MINH: Chim
kêu
猨叫 VIÊN KHIẾU: Vượn
hót (hú)
“Chim
kêu vượn hót” là thành ngữ tiếng Việt dùng để chỉ một
nơi thiên nhiên còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, nơi mà các loài động vật sinh sống
và phát triển một cách tự nhiên, không chịu ảnh hưởng hay tác động của con người.
Ngoài ra, ta còn thấy một số thành ngữ như:
“Loan
phụng hòa minh” 鸞鳳和鳴 Chim
loan, chim phượng cùng hót. (Nghĩa bóng) Nói vợ chồng đoàn kết, thương yêu
nhau. Hồi xưa thường dùng câu này để chúc vợ chồng mới cưới.
Tương tự, Hán ngữ có thành ngữ “cầm sắt hoà minh” 琴瑟和鳴.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét