BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

CHỮ “MINH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Đồng âm Minh, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Tiếng Việt có Minh - một chữ xuất hiện nhiều trong tên người Việt mà ta thường nghĩ ngay tới nét nghĩa sáng sủa, rõ ràng như bình minh, thông minh, minh bạch, v.v..

Nhưng Minh là một chữ khá đặc biệt, bởi vì nó không chỉ mang nghĩa tỏ tường mà ngược lại, Minh còn có cả nét nghĩa tương phản.
Minh có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, trí tuệ. Trong Lục Thư, Minh thuộc loại chữ hội ý. Nó được kết hợp từ hai chữ tượng hình là nhật và nguyệt , mang ý nghĩa liên quan đến ánh sáng. Vì mặt trời và mặt trăng đều là những thiên thể phát sáng trong tự nhiên, sự tồn tại của chúng làm cho thế giới trở nên rực rỡ nên khi ghép hai chữ này lại với nhau, ta có Minh với ý nghĩa sáng sủa. Đây cũng chính là nét nghĩa thường gặp trong tiếng Việt.

Trong “Kinh Thi - Quốc Phong - Kê Minh” có câu “Đông phương minh hĩ”, tạm dịch là: Đằng Đông hửng sáng rồi. Hay trong bài thơ “Tĩnh Dạ Tứ” của Lý Bạch có câu: “Sàng tiền minh nguyệt quang”, dịch thơ là: Đầu giường chợt thấy bóng trăng,
Mập mờ trên đất ngỡ rằng sương sa (bản dịch thơ Trần Trọng Kim).

Minh có nghĩa là tối tăm, u ám hoặc thăm thẳm, thâm sâu tùy ngữ cảnh. Nó có bộ mịch cho nghĩa che phủ, bao trùm, đồng thời cũng cho âm đọc. Khi một thứ gì đó bị che phủ từ trên xuống, đương nhiên sẽ tối tăm. Minh ám chỉ đến ngày 16 âm lịch, trăng tròn bắt đầu khuyết, dẫn đến ánh sáng giảm dần nên không gian tối lại.

Minh có nghĩa là mưa phùn, bể, biển. Bộ thủy thể hiện nghĩa liên quan đến nước, minh cho âm đọc. Khi kết hợp chúng lại, Minh cũng cho được nghĩa mưa phùn giăng mù mịt. Cao Bá Quát dùng chữ Minh này trong “Tây minh”, nghĩa là biển Tây. Nguyễn Khuyến cũng dùng chữ Minh này trong “Đông minh”, nghĩa là biển Đông.

Minh có nghĩa là mầm trà, nõn trà. Ví như hương minh (trà thơm), minh diệp (lá trà) hay vị minh (nếm trà).

Minh có nghĩa là giao ước, lời thề, ta thường gặp trong từ minh thệ, minh sơn,... Lũng Nhai minh hội 隴崖盟會 hay còn gọi hội thề Lũng Nhai cũng là chữ Minh này. Từ nghĩa đó, Minh còn chỉ cho quan hệ tín ước như trong các từ đồng minh, liên minh,...

Minh là tên của một thể văn được khắc trên chuông, bia đá,... để răn dạy hậu thế hoặc ghi công đức tiền nhân, ta thường gọi là bài minh. Trong kho tàng văn bia nước ta, văn bia công đức chiếm số lượng lớn và có giá trị cao về mặt sử liệu lẫn văn học. Thời Lý có các bài bi minh công đức nổi tiếng như Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi của Lý Thừa Ân, Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh và Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh của Thiền sư Pháp Bảo, Đại Việt Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên linh tháp bi của Nguyễn Công Bật, vv..
 
                                                                Bài viết của Khánh Ly
                                                        Trích từ Tri thư đạt lễ - 知書達禮

Vài lời lạm bàn của La Thụy:
 
Bài viết còn bỏ sót một chữ Minh khá phổ biến.
 
Đó là MINH : hót, gáy, phát ra tiếng, như trong "cô chưởng nan minh" 孤掌難鳴 (một bàn tay không vỗ thành tiếng), đây là chữ hội ý ghép chữ "khẩu" nghĩa là miệng với chữ "điểu" để chỉ chim phát ra tiếng (hót, gáy).
鳥鳴 ĐIỂU MINH: Chim kêu
猨叫 VIÊN KHIẾU: Vượn hót (hú)
“Chim kêu vượn hót” là thành ngữ tiếng Việt dùng để chỉ một nơi thiên nhiên còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, nơi mà các loài động vật sinh sống và phát triển một cách tự nhiên, không chịu ảnh hưởng hay tác động của con người.
 
Ngoài ra, ta còn thấy một số thành ngữ như:
“Loan phụng hòa minh” 鸞鳳和鳴 Chim loan, chim phượng cùng hót. (Nghĩa bóng) Nói vợ chồng đoàn kết, thương yêu nhau. Hồi xưa thường dùng câu này để chúc vợ chồng mới cưới.
Tương tự, Hán ngữ có thành ngữ “cầm sắt hoà minh” 琴瑟和鳴.

Không có nhận xét nào: