BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

LUẬN VỀ... TIỀN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến


  

 
LUẬN TIỀN
 
Tiền trao tráo nửa nụ cười
Là bao ân nghĩa cả đời đi tong
Lòng người cuộn nước đục trong
Chữ tâm phó mặc tiền đong phận người.
 
Hà Nội, sáng 21 tháng 04/2026
 
 
LUẬT TIỀN
 
Vì tiền mà đến với nhau
Rồi sau cũng lại hại nhau vì tiền
Thế thời đã sẵn đảo điên
Lụy tiền tiền ắt sẽ nghiền kẻ chơi.
 
Hà Nội, 19 tháng 04/2026
 
 
LỤY TIỀN
 
Kẻ tham danh, đứa hám tiền
Dụ nhau vào cuộc đảo điên chợ đời
Tình thân đã bán rẻ rồi
Đức tài chỉ lớp vỏ bồi giả trang.
 
Hà Nội, chiều 22 tháng 04/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

ĐOÀN THƯỢNG, MỘT TƯỚNG LÃNH CÓ KHÍ PHÁCH CUỐI TRIỀU LÝ – Bài viết của Cảnh



Giữa lúc nhà Lý đã nghiêng ngả, có một người vẫn giữ đất, giữ quân và giữ lòng trung với triều cũ đến tận phút cuối. Người đó là Đoàn Thượng.
 
Trong giai đoạn cuối triều Lý, khi triều đình trung ương gần như mất khả năng kiểm soát, các thế lực địa phương nổi lên khắp nơi, lịch sử Đại Việt bước vào một thời đoạn vô cùng rối ren. Giữa bối cảnh ấy, Đoàn Thượng là một nhân vật rất đặc biệt. Trong chính sử, ông có thể bị nhìn như một hào trưởng cát cứ, một sứ quân làm đất nước thêm chia cắt. Nhưng trong ký ức dân gian, nhất là ở vùng Hồng Châu xưa, ông lại được nhớ đến như một con người có khí phách, có thực lực và có lòng trung nghĩa rất rõ rệt.
 

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

TỪ "GIO" KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG CÁC TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM, CHỮ HÁN, TỰ ĐIỂN CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN! VẬY, "GIO" TỪ ĐÂU? - Nguyễn Chương Mt



* "Gio" (chẳng hạn, trong "Gio Linh") là một hiện tượng ngôn ngữ quái lạ lắm đa!

/1/ Những chữ như "gió", "giỏ", "giò" thuộc về quốc âm tiếng Việt, được ghi trong CHỮ NÔM. Nhưng, "gio" thì không thấy.
Kể cả biến âm từ ngôn ngữ khác thì chữ Nôm cũng ghi lại. Như "Mỹ Tho", "Cần Thơ", "Sóc Trăng" (biến âm từ tiếng Khmer), "Phan Rang", "Nha Trang" (biến âm từ tiếng Chàm) đều được ghi lại bằng chữ Nôm. Muốn hiểu nghĩa thì tra cứu nguyên ngữ tiếng Khmer, tiếng Chàm thì biết.
(mấy chữ trên đây, sách vở đều đã giải thích nghĩa gốc rồi)
Tỉ như "gio" thuộc về biến âm đi nữa, nhưng cũng không thấy ghi lại trong chữ Nôm!

/2/ Chữ Hán thì hoàn toàn KHÔNG có âm HV nào đọc là "Gio", mà chỉ có âm HV đọc "Do". Như trong Đại Nam nhất thống chí, viết bằng chữ Hán, ghi tên địa danh 由靈, âm HV là "Do Linh" - "Do", không "Gio"!

/3/ Còn tự điển chữ Quốc ngữ ĐẦU TIÊN là Tự điển Việt - Bồ - La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của giáo sĩ Đắc Lộ (Alenxander Rhodius, tiếng Pháp là Alexandre de Rhodes), xuất bản giữa thế kỷ 17 (năm 1651): hoàn toàn không có mục từ nào ghi “GIO” hết!

/4/ Hiện nay chúng ta viết bằng chữ Quốc ngữ abc, quí bạn gõ "g-i-o" thành "gio" dễ ợt; nhưng "gio" nghĩa gì thì không biết.
Hoặc "gio", rồi "Gio Linh"... có thể là biến âm từ ngôn ngữ khác, vậy từ ngôn ngữ nào để tìm hiểu nghĩa gốc (cũng "quái", cho dù biến âm thì chữ Nôm thông thường vẫn ghi lại, lưu lại kia mà! - như dẫn chứng /1/).

/5/ Ít nhứt là từ giữa thế kỷ 17, ký ức về chữ "GIO" đã bay đâu mất tiêu rồi (thành thử cuốn tự điển Việt -Bồ - La, chữ Quốc ngữ bấy giờ không ghi "Gio")!
Chữ Hán thì chắc chắn không có âm HV "gio".
Còn chữ Nôm, từ thế kỷ 17 trở ngược TRƯỚC ĐÓ, có ký tự nào được dùng để ghi và đọc là "gio" không?
Quí bạn nào biết, XIN GIÚP CHO BIẾT ký tự Nôm đó viết ra sao (cho biết nguồn mà ký tự đó được lưu lại).

* Sẵn trớn, nói nhanh: có người cho rằng "tro" đọc thành "gio", ồ, đó là cách phát âm của một số nơi ngoài Bắc, trong khi ở đây "Gio" (Gio Linh) là phát âm của người Quảng Trị (không đọc "tro" thành "gio"); mặt khác, kể cả người ngoài bắc phát âm "tro" thành "gio", tự điển chỉ ghi "Tro", không có "gio".

TẠM THAY LỜI KẾT

Vì chưa dám, chưa thể kết luận, nên "tạm thay lời kết".
Sự "biến mất" rất có thể liên quan đến việc "trục xuất" ngôn ngữ cách nào đó - chỉ thấy xuất hiện "gio" trở lại trong CHỮ QUỐC NGỮ mãi về sau này, nhưng do bị "cắt đứt", "trục xuất" nên không còn hiểu cho tỏ tường "gio" từ đâu ra, và ý nghĩa (chẳng hạn nghĩa của "Gio Linh" từ nguyên ngữ gốc).
Không chỉ "Gio", mà còn một số từ ngữ khác nữa cũng bị "đứt mạch" nên hiện nay nói mà không còn rõ nghĩa.
Soi tỏ, "tìm về dấu xưa", cũng là TÌM VỀ những biến động ẨN KHUẤT trong LỊCH SỬ ...
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

CỨU CÁNH 究竟 - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮



“Cứu cánh”, theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, được giảng là: “mục đích cuối cùng.” Đây là cách hiểu quen thuộc trong tiếng Việt hiện đại, thường dùng để chỉ đích đến sau hết của một hành động hay một quá trình.
 
Cứu cánh, chữ Hán viết 究竟, vốn có nghĩa cơ bản là tận cùng, đến mức rốt ráo, từ đó phát triển thành các nghĩa như kết cục, chân tướng của sự việc hoặc dùng như phó từ với nghĩa rốt cục, xét cho cùng.
 
Trong đó:
Cứu nghĩa là đi đến tận nơi theo sách Thuyết Văn Giải Tự. Chữ này về sau còn được dùng với nghĩa truy cứu, khảo sát, tìm cho ra lẽ như trong các từ tra cứu, khảo cứu, nghiên cứu,... Cánh là kết thúc, chỗ dừng sau cùng.
 
Trong cổ văn, cứu cánh thường được dùng với nghĩa truy đến nơi đến chốn hoặc hiểu thấu tận cùng. Ví như trong Sử ký có câu: Phi bác văn cường ký quân tử giả sở bất năng cứu cánh kỳ ý 非博闻彊记君子者所不能究竟其意, tạm dịch là: Nếu không phải là bậc học rộng nhớ nhiều thì không thể hiểu thấu đến cùng ý ấy. Ngoài ra từ này cũng có nghĩa cảnh giới tối hậu, chí cực, cõi Phật như "cứu cánh Niết bàn" trong thuật ngữ Phật giáo.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, từ này được ghi nhận với nghĩa "mục đích cuối cùng". Nghĩa này thực chất là một cách hiểu triển khai từ nghĩa gốc “đi đến tận cùng”, thiên về điểm kết thúc hay đích đến sau cùng của một quá trình.
 
Tuy nhiên do hiện tượng đồng âm, chữ "cứu" trong cứu cánh lại thường bị nhầm với chữ "cứu" trong cứu giúp. Bởi lẽ đây là một từ xuất hiện với tần suất rất cao trong tiếng Việt như trong các từ cứu nạn, cứu trợ, cấp cứu, cứu hộ, cứu hỏa, cứu nguy,... nên không ít người vô thức gán nghĩa "cứu vớt" vào "cứu cánh".
 
三生倏忽真風燭,
九界循環是蟻磨。
或問如何為究竟,
摩訶般若薩婆訶。
 
Tam sinh thúc hốt chân phong chúc,
Cửu giới tuần hoàn thị nghĩ ma.
Hoặc vấn như hà vi cứu cánh,
Ma-ha bát nhã tát-bà-ha.
 
Ba sinh: gió thổi, đuốc loè tắt,
Chín cõi: cối vần, kiến nhẩn nha.
Muốn hỏi thế nào là cứu cánh,
Ma-ha bát nhã, tát-bà-ha!
(Tuệ Trung Thượng sĩ, bản dịch thơ Huệ Chi)
 
Xếp hàng ngang cùng lách
Hiện đại và thô sơ
Xếp hàng dọc mà len
Vượt lên là cứu cánh
Còi xe dồn lanh lảnh
Mồ hôi tháo đầm đìa
Có kế gì phù phép
Sang được đường bên kia!”
                       (Bằng Việt)
 
Xin em nỗi buồn, dừng lại
Anh đang cháy cạn đời mình
Van em, van em… cúi xuống
Nỗi buồn - cứu cánh - hồi sinh.”
               (Nguyễn Minh Dũng)
 
                                                                Bài viết của Khánh Ly
                                                         Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮

CẢNH KHÔI HÀI CỦA VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện, Lê Tiên Long



MŨ VUA... XOAY NGANG - Lê Tiên Long

Hôm qua, Ninh Bình tổ chức Lễ hội Hoa Lư 2026, truyền hình trực tiếp trên cả VTV1, trong đó có hoạt cảnh sân khấu hoá cảnh Đại Thắng vương (Đinh Bộ Lĩnh) lên ngôi, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt.
Nhưng nhiều người thắc mắc, sao nhà vua đội mũ miện mà mũ lại... xoay ngang. Vì cái mũ miện (còn gọi là mũ bình thiên, vì bên đỉnh mũ trên có cái tấm chữ nhật phẳng, để theo phương ngang nên gọi là "bình thiên", tức trên đầu bằng phẳng) của vua theo quy định sẽ có 12 dải tua kết bằng châu, ngọc ở trước mặt và sau gáy.
Cái dải châu ngọc này để làm gì? Nó như một thứ "rèm" để che mặt vua, khiến bề tôi không được trực tiếp nhìn thẳng "long nhan". Nó cũng khiến ánh mắt của bậc đế vương không nhìn mọi vật quá rõ, quá trực diện, nhằm nhắc nhở người đứng đầu thiên hạ phải giữ thái độ điềm tĩnh, không thiên lệch, không bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời.
Quy chế về mũ miện rất chặt chẽ. Thiên tử có 12 dải tua, vua chư hầu, tước vương có 9 dải, tước công, hầu có 7 dải, tước bá, tử, nam có 5 dải.
Trong ảnh đen trắng bên dưới, các quan nhà Nguyễn ở nước ta trong buổi lễ tế Nam giao đội mũ Miện với 5 dải tua.
Chả hiểu sao đạo diễn sân khấu Lễ hội Hoa Lư lại cho vua Đinh Tiên Hoàng đội mũ... xoay ngang. Tức là để dải tua hai bên... che tai nhà vua.
Quả là khó hiểu.
Cũng có người bảo chỉ là sân khấu hoá ấy mà, vua mặc gì chả được, như đáng lẽ vua đội mũ Miện thì phải mặc áo Cổn, chứ đâu có mặc... áo khoác như trong ảnh. Rồi hoàng hậu vấn khăn, mặc áo kiểu Nhật Bình thời nhà Nguyễn, minh hoạ ấy mà, có hề chi!
Nhưng thời nào thì cũng chả có vua đội mũ Miện với dải tua hai bên tai cả.
Cho nên muốn đầu tư mấy chục nghìn tỷ đồng để chấn hưng văn hoá, mà thiếu kiến thức, trong đó có kiến thức lịch sử, thì cũng khó lắm thay!
                                                                               Lê Tiên Long

*
CẢNH KHÔI HÀI CỦA HAI VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện
 
Nghe nói là hai vị vua nước ta đều được sân khấu hoá trên một sân khấu.


Vua trên thì mũ bình thiên phải quay ngang để nhìn cho rõ mặt. 


Vua dưới thì tự tay cầm tờ “Tế Thiên chiếu” - nhà vua xuống chiếu về việc tế trời, hay đây là bài chiếu tế trời. 

Văn tế là Văn tế, Chiếu là tờ chiếu lệnh vua phát ra. Sao lại vừa tế vừa chiếu vậy?
Vua là thiên tử tức là con trời. Sao lại có ông vua ra bài chiếu tế trời để đọc giữa trời vậy?
                                                                          Nguyễn Xuân Diện

CHUYỆN CỦA THUẬN - Truyện ngắn Đặng Xuân Xuyến



Thuận bằng tuổi tôi, học cùng tới cấp 3 nhưng chỉ chơi thân với nhau mấy năm cấp I. Về vai vế họ hàng thì tôi gọi Thuận là cậu xưng cháu, họ cũng xa xa rồi, cỡ nếu Thuận là con gái có yêu đương với tôi thì trong họ cũng không ai phản đối. Nhà tôi ở xóm Chùa, đầu làng, còn nhà Thuận ở giữa làng, đi bộ đến nhà nhau chắc chỉ hết mươi, mười lăm phút. Ngày học cấp I, Thuận hay rủ tôi vào nhà chơi, cứ gọi tôi là anh xưng em, tình cảm lắm, mà Thuận toàn khen tôi đẹp trai học giỏi rồi đợi lúc tôi phổng mũi vì được khen là Thuận nhẹ nhàng dúi vào tay tôi con dao để băm bèo, cái chổi để quét nhà, quét bếp... Thuận khôn lắm, chả ngây ngô như tôi, như thằng Chủ, thằng Oanh,... Rõ ràng Thuận cao hơn tôi, trắng hơn tôi, đẹp trai hơn tôi, nếu chấm điểm, Thuận xứng đáng điểm 10, còn tôi chiếu cố thì may ra được 5 điểm, vậy mà Thuận luôn nắm tay tôi, chớp chớp mắt nhìn tôi rồi thủ thỉ: - Xuân ơi, ước gì em đẹp trai như anh, sau này em sẽ làm cho khối đứa con gái phải có con với em...

NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ VINH, “CON SỐ MỘT SÂU NẶNG” ĐỐI VỚI NHÀ VĂN NHẤT LINH – Trịnh Anh Khôi

Trong bài này, tôi chỉ xin đề cập đến người phụ nữ đã nhắc, là nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Bà là một người giỏi, đúng; bà có văn tài, đúng nốt, nhưng mối quan hệ và sự góp mặt của bà trong Tự Lực Văn Đoàn đã dấy lên theo năm tháng một câu hỏi: Có phải trong bà là mang tới “ba trong một bóng dáng”, vừa là bạn văn, vừa là người tình, mà cũng là đồng chí của vị chủ soái văn đoàn ấy, là nhà văn Nhất Linh?
 
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh ngồi giữa nhà văn Nhật Tiến (Bên tay phải bà) và nhà văn Sơn Nam. Người ngồi phía xa là nhà báo Phạm Việt Tuyền, chủ nhiệm báo Tự Do. Tất cả đang là giám khảo cho một cuộc thi Văn chương của Hội Văn bút Việt Nam trước 1975.

Lúc đó gia đình tôi (TAK) còn ở ngôi nhà số 287/8 Phan Đình Phùng, Sài Gòn. Một buổi chiều 1968, một đôi vợ chồng chở nhau trên chiếc Lambretta đến gặp bố tôi. Người phụ nữ ấy tóc ngắn, đã hơn 40 nhưng vẫn rất đẹp mà lần đầu tôi nhìn thấy, còn chồng bà là họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật; nếu làm thơ, thì là thi sĩ Động Đình Hồ.
... Tôi thấy ông Nhật đến nhà đã mấy lần, và biết ông chơi với bố tôi đủ thân thiết để khi bố tôi in quyển sách thứ ba, là truyện dài Ngục Tối Của Lòng Mình, thì ông đã vẽ bìa cho nó.
 

TẠI SAO HUNGGARY VÀ BA LAN ĐƯỢC CHỌN LÀM THÀNH VIÊN ỦY BAN KIỂM SOÁT QUỐC TẾ HIỆP ĐỊNH PARIS ICCS ? – Tho Nguyen

Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonexia. Sau này Iran thay Canada

Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba-Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba-Lan là thành viêc Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2] . Từ tháng Ba 1973 bên cạnh Ba-Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS {3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.

NHỮNG CÂY BÚT BỊ BẺ NGÒI…- Dynh Anh

Hôm qua, tôi viết bài “Văn chương miền Nam trong mắt một đứa trẻ”, thì có người hỏi tôi: “Anh có biết số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30/4/1975 như thế nào không?
 
Sau 75, hầu hết những cây bút gạo cội của nền văn chương miền Nam đều trải qua những tháng ngày trong lao tù của trại cải tạo. Bởi chính quyền mới cho rằng: cây bút của họ còn gây "tội ác" nặng nề hơn cả cây súng và chế độ mới gọi họ với cái tên: “Biệt kích văn hoá".
Ta thử tìm lại một giai đoạn lịch sử, một đoạn đường đời đau thương của một vài người trong số họ:
 
Doãn quốc Sỹ:


Sau 30/4/75, Thầy - tôi gọi là Thầy vì những cuốn Việt văn tôi học ở Chủng viện đều do Thầy biên soạn - ở lại Sài gòn và tiếp tục giảng dạy một thời gian ngắn trước khi bị bắt.Thầy bị bắt ngày 3/4/1976 trong chiến dịch nhắm vào "biệt kích văn hoá" của chính quyền mới. Thầy bị giam từ 1976  tại trại giam Gia Trung - Tây Nguyên và được thả vào năm 1980 nhờ sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Trong khi chờ bảo lãnh sang Úc, thầy viết tác phẩm "Đi" dưới bút hiệu Hồ Khanh và gửi ra nước ngoài xuất bản. Vì lý do này, thầy bị bắt lại vào tháng 5/1984 và bị thêm nhiều năm tù đày. Dù trải qua hơn 14 năm tù, thầy luôn giữ phong thái ung dung tự tại, dùng nhân cách kẻ sĩ để đối đầu với bão táp, nên bạn bè văn hữu gọi là người “Thung Dung Trượng Nghĩa".
 

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ Ở TẦM MỨC NÀO? – Vũ Bình Lục


Chân dung Thái Sư Trần Thủ Độ (mượn)
1.
NGƯ PHỦ VÀ VỊ CỨU TINH CỦA DÂN TỘC ĐẠI VIỆT

Người mà chúng tôi muốn nói đây, không ai khác, chính là Thống Quốc Thái Sư, Trung Vũ Đại Vương Trần Thủ Độ (1194-1264).
Một nhân vật lịch sử kiệt xuất. Một nhà chính trị, quân sự thiên tài. Một nhân cách lớn. Người đã kỳ công sáng lập triều đại nhà Trần, cải cách và củng cố, đồng thời, xây dựng nó không ngừng lớn mạnh, để không lâu sau đó, Đại Việt có thể đương đầu với tên đế quốc Mông Cổ khổng lồ, hùng mạnh nhất thế giới lúc đương thời.
Công lao như núi Thái Sơn của người cầm lái vĩ đại Trần Thủ Độ đối với nhà Trần, với nước Đại Việt ta, muôn đời bất hủ!
Uy tín chính trị của Trần Thủ Độ, bao trùm cả từ đời Lý sang đời Trần. Ở địa vị và công lao rất lớn như vậy, ông muốn đặc ân gì mà chả được?

HOÀNG HẬU PARAMECVARI (Huyền Trân Công Chúa) CỦA CHAMPA – Theo Góc nhìn An Nam



Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước từ hơn cả ngàn năm trước cho đến những thế kỷ gần đây 15, 16; qua những sự kiện lịch sử ở Trung Hoa và Việt Nam đã có những bậc quân sư đầy mưu lược, trí dũng song toàn trong vấn đề điều binh khiển tướng ; với biết bao quân hùng tướng mạnh hàng hàng lớp lớp. Với gươm đao sắt thép, với hàng vạn mũi tên vô tình thâm độc, với hàng vạn chiến mã, vó ngựa mịt mù cát bụi phủ đầu quân giặc, với những đoàn chiến tựợng hung hãn vượt núi băng sông điên cuồng dẫm nát thây giặc, phá tan thành quách, nhưng không dễ dàng khuất phục được các bậc quân vương Vua chúa trên ngôi cao trị vì bá tánh thiên hạ. Cũng không khống chế được những anh hùng nắm trong tay hàng vạn binh mã, trấn thủ tung hoành một góc trời ngang dọc như anh hùng Từ Hải vai năm tấc rộng thân mười thước cao đã làm cho triều đình Hồ Tôn Hiến bó tay điên đầu:

Anh hùng riêng một góc trời
Gồm hai văn võ xé đôi sơn hà.

Duy chỉ có loại vũ khí bằng xương bằng thịt, dịu dàng mảnh mai, đài trang khuê các đầy sức quyến rũ đó là loài hoa biết nói, những bông hoa đã làm nghiêng thành đổ nước, sụp đổ cả một triều đại huy hoàng, hay đã chế ngự được những anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất, dọc ngang vẫy vùng như anh hùng Từ Hải đã chết đứng giữa trời cũng vì hương sắc khuynh thành của bông hoa biết nói Thúy Kiều.
Đó là trong thi ca, còn trong thực tế qua sự kiện lịch sử, những Vua chúa nhà Hậu Lý đã từng sử dụng “Mỹ nhân kế” lôi kéo những viên Châu Mục tại các vùng Cao Bắc Lạng phía bắc Việt Nam, những lực lượng quân binh thiểu số này sẵn sàng theo Tàu để làm những ngọn lửa có thể bộc phát đốt cháy thiêu rụi cả khu núi rừng Việt Bắc lúc nào không hay: như Vua Lý Thái Tông gả Công Chúa Kim Thành cho đầu mục Châu Phong là Lê Tông Thuận, Vua Lý Thánh Tông gả Công Chúa Khâm Thánh cho Hà Di Khách – châu mục Tuyên Quang và Tuyên Hóa v.v. Đối với Trung Hoa: Chiêu Quân đã cầm chân được giặc Hung Nô. Công Chúa Lý Văn Thành con của Vua Lý Thế Dân đã làm cho Can Bố, một thủ lãnh mà dân Tây Tạng cho là “Thiên Thần xuất thế” trở nên ngoan ngoãn khi kết hôn với nàng Công Chúa họ Lý này ..v.v

ĐỒNG ÂM “BÍCH” TRONG TỪ HÁN VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮

Tiếng Việt có Bích, một âm đọc quen thuộc, đặc biệt phổ biến trong tên người và văn chương dân tộc, thường gợi vẻ đẹp trong trẻo, thanh cao và có phần quý giá. Thế nhưng trong hệ thống chữ Hán, đây là tập hợp của nhiều tự dạng khác nhau, với mỗi chữ đều có nguồn gốc và trường nghĩa bất đồng, góp phần tạo nên những sắc thái phong phú cho âm đọc này khi đi vào tiếng Việt.
 
Chúng là những chữ Bích nào?

Bích nghĩa gốc là một loại ngọc quý hình tròn, ở giữa có lỗ, thường dùng làm lễ khí trong thời cổ. Chữ này thuộc kiểu hình thanh, gồm bộ Ngọc () chỉ ý và chữ Bách làm thanh phù. Theo quan niệm xưa, ngọc bích tượng trưng cho trời, sự viên mãn và hài hòa với hình dạng “ngoài tròn, trong rỗng”. Vì lẽ đó, Bích dần được dùng để chỉ ngọc nói chung, đặc biệt là loại ngọc quý, sau mở rộng sang nghĩa vẻ đẹp trọn vẹn, không tì vết, tốt đẹp, tròn đầy,...
 
                 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Khi đi vào tiếng Việt, chữ Bích này trỏ cho vẻ đẹp tinh khiết và quý giá, cho nên những từ mà ta thường gặp trong tiếng Việt như toàn bích, hoàn bích, ngọc bích, bích nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Bích này. Trong tên người, đây cũng là một chữ được ưa chuộng, hàm ý vẻ đẹp thanh cao, hoàn hảo và không chút khuyết điểm.
 
一朝大運有時至,
六印纏腰鳴得意。
黄金百鎰璧百雙,
從車千乘來鄉里。
 
Nhất triêu đại vận hữu thì chí,
Lục ấn triền yêu minh đắc ý.
Hoàng kim bách dật bích bách song,
Tòng xa thiên thặng lai hương lý.
Một mai vận đến công thành,
Tướng công sáu nước ấn vàng ý khoe.
Về làng nghìn chiếc cỗ xe
Trăm đôi ngọc bích trăm bè vàng y.
(Nguyễn Du, bản dịch thơ Lương Trọng Nhàn)
 
璧月高,宵煙裊裊,
銀河轉,漏鼓沈沈。
 
Bích nguyệt cao, tiêu yên niểu niểu,
Ngân hà chuyển, lậu cổ trầm trầm.
Nguyệt biếc cao, mây đêm lãng đãng
Ngân hà chuyển, trống điểm trầm trầm
(Tùng Thiện Vương, bản dịch thơ Phan Văn Các)
 
“Ngựa tuấn nọ còn để xương thiên lý, ngàn vàng chưa dễ mấy ai mua!
Ngọc bích kia chưa tỏ giá liên thành, giọt luỵ chớ hoài riêng kẻ khóc!”
                (Tản Đà)
 
Bích có nghĩa là tường vách.

Đây là loại chữ hình thanh, gồm bộ Thổ biểu ý và chữ Bách biểu âm. Về sau chữ Bích này dần mở rộng ra nhiều tầng nghĩa khác liên quan, ví như chỉ các lớp bao bọc của sự vật như thành lũy trong quân sự, hay các cấu trúc bảo vệ của cơ thể,... Đồng thời chữ này cũng được dùng để chỉ vách núi dựng đứng, gợi cảm giác hiểm trở và hùng vĩ.
 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt, nghĩa này xuất hiện khá rõ qua một số từ quen thuộc ví như tường bích, thạch bích, bích họa, bích báo, xích bích,... Ngoài ra, Bích còn là tên của một vì sao trong hệ Nhị thập bát tú.
 
動如雲鶴,
靜如牆壁。
其輕如毛,
其重如石。
 
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
(Trần Thánh Tông, bản dịch thơ Phạm Tú Châu)
 
Sông Xích Bích luống thương người khốn quẫn,
Bến Tầm Dương còn nhớ khúc Ly tao,
Ngại ngùng thay trong lúc ba đào,
Ai đứng mũi chịu sào cho đáng mặt?”
                             (Trần Tuấn Khải)
 
Nghìn lẻ một đêm mộng thắp đèn
Hồn đi vào giấc ngủ hoa sen
Nền mây bích họa sương vờn bóng
Điên đảo trời sao mắt lượn thuyền.”
                                  (Đinh Hùng)
 
Bích có nghĩa là xanh biếc.

                  
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Phàm những gì mang sắc xanh trong trẻo đều có thể gọi là Bích. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng rằng Bích là loại đá có màu xanh đẹp, gần giống với ngọc. Trong cách nhìn của người xưa, chữ Bích này chính là sắc xanh tinh khiết và sáng trong, thường gắn với những vật quý hoặc cảnh sắc thanh sạch, không nhiễm bụi trần.
Từ đó, chữ Bích xuất hiện nhiều trong tiếng Việt như ngọc bích, bích câu, Bích Câu kỳ ngộ,... thường được dùng rộng để chỉ màu xanh, đặc biệt là trong những hình ảnh trời xanh nước biếc. Đồng thời trong văn chương, Bích còn mang sắc thái thẩm mỹ rõ rệt, được dùng để khắc họa những không gian cao rộng, trong lành và có phần thoát tục.
 
庭舞胎禽雲掩關,
露華嚥罷覺清寬。
碧桃華下渾無事,
時倩東風掃石壇。
 
Đình vũ thai cầm vân yểm quan,
Lộ hoa yến bãi giác thanh khoan.
Bích đào hoa hạ hồn vô sự,
Thời thiến đông phong tảo thạch đàn.
Lân múa thai cầm mây đóng quan
Yên tan hoa lộ tiếng chuông khoan
Dưới hoa đào biếc rành vô sự
Sẽ mượn gió đông quét thạch đàn.
(Chu Văn An, bản dịch thơ Nguyễn Bích Ngô)
 
“Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay.”
                (Hồ Xuân Hương)
 
“Thành tây có cảnh Bích Câu
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.”
                                  (Bích Câu kỳ ngộ)
 
                                                                      Bài viết của Khánh Ly
                                                                       Trích từ Tri thư đạt lễ

UYÊN ÁO 淵奧 - Ung Chu, HánViệt Thông Dụng



- uyên : vực sâu, chỗ nước sâu; sâu, như trong "uyên bác", "uyên thâm", chữ này mang bộ "thuỷ" (nước)
- áo : chỗ sâu kín trong nhà; sâu xa, sâu kín.
"Uyên áo" 淵奧 dùng để tả thâm sâu, sâu xa, sâu kín: tính uyên áo của giáo lí, kiến thức uyên áo, ý nghĩa uyên áo...
 
                                                                               Ung Chu 
                                                                     Hán Việt Thông Dụng

ĐÁNH GIÁ LẠI HOÀNG CAO KHẢI – Pgs.Ts Chương Thâu



Trong giới nghiên cứu sử học, nhà sử học - PGS.TS Chương Thâu nổi tiếng là người chuyên ... lật xới những gì mà lịch sử hoặc chính ông còn nghi vấn. Kết quả gần đây nhất là tác phẩm Việt Sử Yếu của Hoàng Cao Khải - nhân vật vốn bị liệt vào hàng phản diện bởi những tội trạng khá nặng nề. Nhân Việt Sử Yếu của Hoàng Cao Khải được in và phát hành (NXB Nghệ An, 2007, Chương Thâu giới thiệu ), Thanh Niên có cuộc trao đổi thú vị với nhà sử học Chương Thâu.

CHÙM THƠ TỊNH BÌNH


    

 
 CAM LỒ TINH KHÔI
 
Về đâu trăm vạn nẻo đường
Trong veo giọt nước hay sương đầu cành
Vô phiền vô nhiễm vô tranh
Trời cao biển rộng loanh quanh sơn hà
 
Về đâu cát bụi đời ta
Phận sâu cái kiến cỏ hoa thương cùng
Mây trời nhật nguyệt riêng chung
Trăng in đáy giếng đóng khung gương hồ
 
Mịt mờ muôn lối hư vô
Giọt sương bé nhỏ dại khờ đơn côi
Từng hồi chuông vọng xa xôi
Là mưa hay giọt tinh khôi cam lồ
 
Hải triều từng lượn sóng xô
Dấu chân ngày cũ mơ hồ kiếp sương
Hơi tàn giũ sạch ghét thương
Là sông hay biển còn vương vấn gì...
 
 
NIỀM VUI BÉ MỌN
 
Khi mùa xuân đã ngoài tầm với
Đong đưa trên tầng cao sắc lá xanh
Dây thường xuân gọi tôi ngoài cửa sổ...
 
Dẫn tôi vào tinh khôi
Xòe nở tiếng chim buổi sớm
Vạt gió ủ hương bông hoa nào giấu mặt
Có chút bình yên trong tia nắng mai đầu ngày
Mỉm cười gọi tôi đi...
 
Những bước chân xuân xa dần
Lũ bướm ong thôi mê mệt với muôn hồng nghìn tía
Con đường tôi qua
Một chút bụi cát và gai góc
Chẳng nỡ hái bông hoa dại bên đường
Bởi nâng niu niềm vui bé mọn
Dành cho ai đó vô tình ngang qua...