BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ Ở TẦM MỨC NÀO? – Vũ Bình Lục


Chân dung Thái Sư Trần Thủ Độ (mượn)
1.
NGƯ PHỦ VÀ VỊ CỨU TINH CỦA DÂN TỘC ĐẠI VIỆT

Người mà chúng tôi muốn nói đây, không ai khác, chính là Thống Quốc Thái Sư, Trung Vũ Đại Vương Trần Thủ Độ (1194-1264).
Một nhân vật lịch sử kiệt xuất. Một nhà chính trị, quân sự thiên tài. Một nhân cách lớn. Người đã kỳ công sáng lập triều đại nhà Trần, cải cách và củng cố, đồng thời, xây dựng nó không ngừng lớn mạnh, để không lâu sau đó, Đại Việt có thể đương đầu với tên đế quốc Mông Cổ khổng lồ, hùng mạnh nhất thế giới lúc đương thời.
Công lao như núi Thái Sơn của người cầm lái vĩ đại Trần Thủ Độ đối với nhà Trần, với nước Đại Việt ta, muôn đời bất hủ!
Uy tín chính trị của Trần Thủ Độ, bao trùm cả từ đời Lý sang đời Trần. Ở địa vị và công lao rất lớn như vậy, ông muốn đặc ân gì mà chả được?

Tuy nhiên, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất (1258) thắng lợi vẻ vang, Thống quốc Thái Sư Trần Thủ Độ chỉ xin vua Trần cho ông vùng đất duyên hải tỉnh Thái Bình ngày nay, làm ấp thang mộc. Vùng đất ven biển sinh lầy hoang vu, ngập tràn cỏ cây lau sậy, sú vẹt, sông ngòi khe lạch chằng chịt, được gọi chung là vùng đất “uyên nguyên” …

Thế là sao? Vùng đất duyên hải sình lầy (uyên nguyên) ấy, mênh mông đầm nước hoang vu, nào có ai màng đến nó làm gì? Nhưng Thái Sư Trần Thủ Độ chẳng tham vọng chi nhiều về “đặc quyền, đặc lợi” của một vĩ nhân đã kỳ công dựng lên triều đại nhà Trần rực rỡ, làm sáng lên gương mặt nước Đại Việt đau thương mà anh hùng bất khuất. Chẳng qua là, từ đất quê cha, tiên tổ nhà Trần ở Phù Ngự, phủ Long Hưng tỉnh Thái Bình, xuôi về hướng Đông, hướng biển Đông mấy mươi dặm đường, người sáng lập triều Trần đã thể hiện tầm nhìn chiến lược tuyệt vời, mà cho đến nay, không mấy ai có thể hiểu thấu được những giá trị chiến lược về quân sự và kinh tế cực kỳ quan trọng của nó!
Thực tế như thế nào? Với tư duy mẫn tiệp và tầm nhìn rộng lớn ra biển Đông, vào chiều sâu của lịch sử, Trung Vũ Đại Vương Trần Thủ Độ đã tính toán lo lường cho một cuộc chiến, thậm chí hai, ba cuộc chiến nữa của Đại Việt với đế quốc Mông Cổ, tiếp đó là đế chế Mông Nguyên do Hoàng đế Hốt Tất Liệt kiến lập, theo ông là chắc chắn sẽ diễn ra…

2.
TRẦN THỦ ĐỘ ĐẾN TỪ ĐÂU?

Trần Thủ Độ được cha mẹ ông là Phò Mã Trần Thủ Huy (tức HOẰNG NGHỊ ĐẠI VƯƠNG) và công chúa Đoan Nghi sinh ra ở một bến đò trên đường đi sứ lên Mông Cổ. Vậy nên, cha mẹ ông mới đặt tên cho ông là Trần Thủ Độ (Độ-Bến đò). Công chúa Đoan Nghi chính là con gái vua Lý Anh Tông và bà Thần Phi Bùi Chiêu Dương. 
Trần Thủ Độ lớn lên ở Mông Cổ, chơi thân với Ngột Lương Hợp Thai. Ngột Lương Hợp Thai sau trở thành Thái Sư, đích thân đem 20 vạn quân Mông Cổ và Đại Lý bất ngờ tấn Công Đại Việt lần thứ nhất (1258).

Thái Sư Phụ Chính Trần Thủ Độ là chuyên gia hàng đầu và duy nhất về Mông Cổ học đương thời. Mông Cổ như thế nào, tham vọng của họ như thế nào, mạnh yếu ra sao, tất cả đều nằm trong tư duy chiến lược của Thủ Độ cả.

Chính ông đã từng nhắc nhở các vua Trần, các Vương, các Hầu, các tướng lĩnh con cháu ông, rằng Mông Cổ có truyền thống đặc biệt, nếu họ bị thua ở mặt trận nào đó, thì sau đó, họ sẽ đem hết sức mạnh tiềm tàng để báo thù, đến khi tiêu diệt hoàn toàn đối phương mới thôi.
Cũng chính ông và phu nhân sáng suốt của ông, Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Đung đã chỉ đạo, tổ chức cho nội cung nhà Trần an toàn, trật tự rút khỏi Thăng Long, về Long Hưng (Hưng Hà, Thái Bình). Tại đây, bà Trần Thị Dung đã chỉ đạo, chỉ huy hậu cung nhà Trần tích cực sản xuất, tích trữ vũ khí và lương thực gửi ra chiến trường phục vụ kháng chiến.

Quan bình nhà Trần rút khỏi Thăng Long, giấu quân vào các đầm bãi, làng mạc, chờ cơ hội phản công. Thấy tình thế quá bức bách, vua Trần Cảnh lo lắng chèo thuyền đến tham vấn ông chú Thái Uý Trần Nhật Hiệu (Hạo).
Ông Thái Uý đã từng chỉ huy 4 hiệu quân tinh nhuệ của Đại Việt, trước đó, đã bị kỵ binh Mông Cổ thiện chiến đánh bại tơi tả trên cánh đồng Văn (Vĩnh Phúc). Giờ đây, quan Thái Uý vẫn chưa kịp hoàn hồn, còn đang sợ hãi đến mức “vãi cả linh hồn”, không nói được thành lời. Ngài Thái Uý chỉ biết dùng ngón tay run rẩy chấm nước, viết vào mạn thuyền hai chữ “Nhập Tống” (chạy sang nhà Tống).

Thất vọng quá, vua Trần Cảnh lại tiếp tục chèo thuyền đến gặp một ông chú khác, Thống Quốc Thái Sư Trần Thủ Độ. Hỏi rằng nên hoà (hàng) hay nên đánh? Trần Thủ Độ mỉm cười điềm tĩnh trả lời: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”! Thống Soái tối cao còn nói thêm rằng, “chỉ trong khoảng 1 tháng, chúng ta sẽ đuổi hết giặc Mông Cổ ra khỏi bờ cõi nước ta”!

Chẳng phải Trần Thủ Độ là người đứng đầu cuộc kháng chiến chống đế quốc Mông Cổ hùng mạnh nhất nhất thế giới, đã nắm chắc phần thắng trong tay đó sao? Hoá ra là, “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”! Đó chẳng phải là điều cốt tử trong binh pháp hay sao?

Lại nói, nhà Lý sau đó nhận thấy cách hành xử với Phò Mã Trần Thủ Huy và công chúa Đoan Nghi như vậy là quá đáng, cho nên vua Lý mới sai sứ giả lên Mông Cổ mời vợ chồng Phò Mã Trần Thủ Huy về nước. Ông Trần Thủ Huy quá uất ức vì nhà Hậu Lý đối xử với ông quá bạc. Ông từ chối không về. Tất nhiên, ông biết mình còn có nhiệm vụ khác, quan trọng và cao cả hơn, giúp Đại Việt sau này.
Nhưng Trần Thủ Huy vẫn để vợ con ông về nước. Trên đường về, đường sá xa xôi hiểm trở, hành trình hồi hương vô cùng gian khổ, bà Đoan Nghi sinh trọng bệnh và mất dọc đường. Trần Thủ Độ gạt nước mắt đau buồn, lặng lẽ theo sứ giả nhà Lý về nước. Cha thì ở xa, mẹ thì mất, Trần Thủ Độ phải về ở với ông bác Trần Lý.

Sách sử các loại của ta chỉ biết đến Trần Thủ Độ ở đoạn đời từ khi ông về ở với ông bác Trần Lý (1151-1210), làm nghề đánh cá, chứ không hề biết gì về thời trẻ của Trần Thủ Độ.

Thế nên, Sách ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ do Ngô Sĩ Liên chủ biên ở thời Hồng Đức Lê Thánh Tông chép rằng “Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người. Ông làm quan triều Lý được mọi người suy tôn. Thái Tông lấy được thiên hạ, đều là mưu sức của Thủ Độ cả. Cho nên, nhà nước phải nhờ cậy vào ông. Quyền lực của ông cao hơn cả vua”. Chưa hết, ĐVSKTT còn viết: “Thủ Độ tuy làm Tể tướng, mà không việc gì không để ý đến. Vì thế mà giúp nên nghiệp Vương, giữ được tiếng tốt cho đến khi qua đời”.

 “Không có học vấn”, nghĩa là không biết chữ. Hoá ra, ông ta chỉ là dân chài lưới ở vùng sông nước Hải Ấp (Hưng Hà, Thái Bình) mà thôi! Các sách, các bài viết về Trần Thủ Độ cứ thế mà “ăn theo nói leo”, cứ thế mà nói hoài, như một căn bệnh truyền nhiễm tệ hại và hết sức nhàm chán.

Trở lại vấn đề tầm nhìn chiến lược của Thống Quốc Thái Sư Trần Thủ Độ. Quả nhiên, cứ địa phòng chiến lưu quân đồn trú (Lưu Đồn), hay là triều đình vua Trần dã ngoại, hay là Thủ đô kháng chiến của triều Trần, thuộc miền ven biển phía Đông, đã được Thái Sư Trần Thủ Độ chuẩn bị rất chu đáo, phòng khi Mông Cổ sẽ tấn công trả thù Đại Việt những lần tiếp theo.

3
DI SẢN CHIẾN LƯỢC VÔ GIÁ CHO ĐỜI SAU

Mông Cổ tất nhiên muốn tấn công mau lẹ, chiếm lấy kinh thành Thăng Long, biểu tượng chính trị thiêng liêng của Đại Việt, đồng thời quyết bắt sống cả vua quan và triều đình nhà Trần làm tôi tớ, quét sạch Nam bang cho hả giận.
Trước tình thế hết sức nguy cấp ấy, trong cuộc kháng chiến lần thứ 2 (1285), Trần triều buộc phải rút lui chiến thuật và chiến lược, bỏ lại Thăng Long để cho giặc tạm thời chiếm đóng, thực hiện kế sách “thanh dã” (vườn không nhà trống).
Nhưng rút lui về đâu? Lấy gì, và dựa vào chỗ nào để làm căn cứ kháng chiến mà chỉ đạo toàn quốc tiếp tục đánh giặc? Chẳng phải là Trung Vũ Đại Vương Trần Thủ Độ đã lo lường tất cả rồi đấy sao?

 Thái ấp của ông ở miền sình lầy (uyên nguyên) ven biển Thái Bình, chính là cứ địa kháng chiến bí mật mà Trần Thủ Độ đã chuẩn bị cho Đại Việt và triều Trần, chẳng phải là ngay từ sau cuộc chiến tranh chống Mông Cổ lần thứ nhất (1258) đó ư?
Người đời sau nhớ công ơn vĩ đại của Thái Sư Trần Thủ Độ, đã có những bài thơ, những câu đối thể hiện niềm ngưỡng mộ cao vời và chân thực về ông.

Bài thơ THƯỢNG PHỤ CỰU CƯ (Nơi ở cũ của Thượng Phụ) của thi nhân Nguyễn Sưởng tài hoa. Nguyễn Sưởng từng làm quan ở triều vua Trần Minh Tông. Nhưng sau đó, ông từ quan, tham gia THI XÃ BÍCH ĐỘNG của Văn Huệ Vương Trần Quang Triều (con Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, tức cháu nội Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn).

THƯỢNG PHỤ CỐ CƯ

Dịch nghĩa:

NGÔI NHÀ CŨ CỦA THƯỢNG PHỤ

Cây bách dưới sân dày dạn với tuyết sương, già đến đâm vẩy ra rồi,
Trong cuộc phế hưng, ngôi nhà (của ông) đã trải qua mấy đời người.
Nước trong ngòi cá chảy xiết, cỏ năn cỏ lác um tùm,
Con đê đua ngựa phẳng lỳ, cỏ cây xanh tốt.
Sự an nguy trong bốn bể do tay ông nắm giữ,
Việc hai triều (Lý-Trần) nhường ngôi cho nhau, nhờ tài kinh luân của ông.
Người anh hùng như vẫn còn đây, mà nếp cơ cầu đã dứt,
Nhưng nét vẽ trên gác Kỳ Lân, muôn đời vẫn mới.
Ở ngôi chùa cổ trên đồi Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh có ban thờ Thượng Phụ Thống Quốc Thái sư, Trung Vũ Đại Vương Trần Thủ Độ. Ngay từ rất lâu rồi, đã có đôi câu đối:

Công đáo vu kim, bất đãn Trần gia nhị bách tải
Luận định thiên cổ kỳ tại, Nam thiên đệ nhất lưu.

Nghĩa là:

Công đức (của ông) để lại đến nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm của triều đại nhà Trần
Sau ngàn đời công luận đã định, ông xứng đáng được liệt vào bậc nhất dưới trời Nam.

Đôi câu đối cổ, bao năm rồi người ta vẫn lầm tưởng nội dung của nó ca ngợi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Mãi sau, người ta mới hiểu, rằng đôi câu đối ở đây mang nội dung ca ngợi công đức của Thái Sư Tràn Thủ Độ.

Khi Thống Quốc Thái Sư Trần Thủ Độ qua đời, Triều Trần truy tặng ông tước TRUNG VŨ ĐẠI VƯƠNG. Trước đó, nhà Trần cũng đã truy tặng cha ông là Trần Thủ Huy, Phò Mã nhà Lý tước HOẰNG NGHỊ ĐẠI VƯƠNG.

Một số tài liệu cho rằng cha Trần Thủ Độ tên là Hoằng Nghị (Trần Hoằng Nghị), đương nhiên, đó là một sai lầm đáng tiếc!
Thêm nữa, người đương thời, không thấy có ai phê phán mạnh mẽ về nhân vật lịch sử đặc biệt Trần Thủ Độ. Xưa nay, thiên hạ cơ bản vẫn đánh giá ông là một kỳ nhân hiếm lạ. Sự nghiệp dựng nước, giữ nước của ông vô cùng kỳ vĩ trong lòng nhân dân.

Trần Thủ Độ là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thượng tôn pháp luật. Ông từ chối việc vua Thái Tông Trần Cảnh vì ưu ái nể trọng ông, muốn phong chức Tể tướng cho anh trai ông.
Ông khéo léo từ chối việc ban một chức quan rất nhỏ ở làng xã cho một tên người nhà, theo đề nghị của phu nhân Trần Thị Dung. Ông chỉ biết chăm lo sức dân về mọi mặt, củng cố vương triều và tăng cường sức mạnh Đại Việt, sẵn sàng đương đầu với Đế quốc Mông Cổ hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. “Công đức của ông, sau ngàn đời công luận đã định, ông hoàn toàn xứng đáng được liệt vào bậc nhất dưới trời Nam”!

Chỉ đáng thương, đáng giận cho một số vị ôm mãi cảm thức tiểu nhân đố kỵ, cùng một số vị hủ Nho thiển cận đời sau, không biết gì nhiều về Trần Thủ Độ, đã vô tình hay hữu ý buông ra những lời thoá mạ sặc mùi ám khí, cố ý hạ thấp nhân cách của người anh hùng dân tộc kiệt xuất như Trần Thủ Độ.

Chỉ nói riêng về việc ông tự lựa chọn nơi sình lầy ven biển làm ấp thang mộc, Trung Vũ Đại Vương Trần Thủ Độ đã là một vĩ nhân có bộ óc chiến lược thiên tài, thật đáng kinh ngạc biết bao!

                                                                                          Vũ Bình Lục
 
Tác giả bên tấm bia khắc câu nói "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ ha đừng lo" của Thái Sư Trần Thủ Độ ở Hưng Hà, Thái Bình, nay là tỉnh Hưng Yên mới.

Không có nhận xét nào: