BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

ĐỒNG ÂM “BÍCH” TRONG TỪ HÁN VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮

Tiếng Việt có Bích, một âm đọc quen thuộc, đặc biệt phổ biến trong tên người và văn chương dân tộc, thường gợi vẻ đẹp trong trẻo, thanh cao và có phần quý giá. Thế nhưng trong hệ thống chữ Hán, đây là tập hợp của nhiều tự dạng khác nhau, với mỗi chữ đều có nguồn gốc và trường nghĩa bất đồng, góp phần tạo nên những sắc thái phong phú cho âm đọc này khi đi vào tiếng Việt.
 
Chúng là những chữ Bích nào?

Bích nghĩa gốc là một loại ngọc quý hình tròn, ở giữa có lỗ, thường dùng làm lễ khí trong thời cổ. Chữ này thuộc kiểu hình thanh, gồm bộ Ngọc () chỉ ý và chữ Bách làm thanh phù. Theo quan niệm xưa, ngọc bích tượng trưng cho trời, sự viên mãn và hài hòa với hình dạng “ngoài tròn, trong rỗng”. Vì lẽ đó, Bích dần được dùng để chỉ ngọc nói chung, đặc biệt là loại ngọc quý, sau mở rộng sang nghĩa vẻ đẹp trọn vẹn, không tì vết, tốt đẹp, tròn đầy,...
 
                 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Khi đi vào tiếng Việt, chữ Bích này trỏ cho vẻ đẹp tinh khiết và quý giá, cho nên những từ mà ta thường gặp trong tiếng Việt như toàn bích, hoàn bích, ngọc bích, bích nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Bích này. Trong tên người, đây cũng là một chữ được ưa chuộng, hàm ý vẻ đẹp thanh cao, hoàn hảo và không chút khuyết điểm.
 
一朝大運有時至,
六印纏腰鳴得意。
黄金百鎰璧百雙,
從車千乘來鄉里。
 
Nhất triêu đại vận hữu thì chí,
Lục ấn triền yêu minh đắc ý.
Hoàng kim bách dật bích bách song,
Tòng xa thiên thặng lai hương lý.
Một mai vận đến công thành,
Tướng công sáu nước ấn vàng ý khoe.
Về làng nghìn chiếc cỗ xe
Trăm đôi ngọc bích trăm bè vàng y.
(Nguyễn Du, bản dịch thơ Lương Trọng Nhàn)
 
璧月高,宵煙裊裊,
銀河轉,漏鼓沈沈。
 
Bích nguyệt cao, tiêu yên niểu niểu,
Ngân hà chuyển, lậu cổ trầm trầm.
Nguyệt biếc cao, mây đêm lãng đãng
Ngân hà chuyển, trống điểm trầm trầm
(Tùng Thiện Vương, bản dịch thơ Phan Văn Các)
 
“Ngựa tuấn nọ còn để xương thiên lý, ngàn vàng chưa dễ mấy ai mua!
Ngọc bích kia chưa tỏ giá liên thành, giọt luỵ chớ hoài riêng kẻ khóc!”
                (Tản Đà)
 
Bích có nghĩa là tường vách.

Đây là loại chữ hình thanh, gồm bộ Thổ biểu ý và chữ Bách biểu âm. Về sau chữ Bích này dần mở rộng ra nhiều tầng nghĩa khác liên quan, ví như chỉ các lớp bao bọc của sự vật như thành lũy trong quân sự, hay các cấu trúc bảo vệ của cơ thể,... Đồng thời chữ này cũng được dùng để chỉ vách núi dựng đứng, gợi cảm giác hiểm trở và hùng vĩ.
 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt, nghĩa này xuất hiện khá rõ qua một số từ quen thuộc ví như tường bích, thạch bích, bích họa, bích báo, xích bích,... Ngoài ra, Bích còn là tên của một vì sao trong hệ Nhị thập bát tú.
 
動如雲鶴,
靜如牆壁。
其輕如毛,
其重如石。
 
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
(Trần Thánh Tông, bản dịch thơ Phạm Tú Châu)
 
Sông Xích Bích luống thương người khốn quẫn,
Bến Tầm Dương còn nhớ khúc Ly tao,
Ngại ngùng thay trong lúc ba đào,
Ai đứng mũi chịu sào cho đáng mặt?”
                             (Trần Tuấn Khải)
 
Nghìn lẻ một đêm mộng thắp đèn
Hồn đi vào giấc ngủ hoa sen
Nền mây bích họa sương vờn bóng
Điên đảo trời sao mắt lượn thuyền.”
                                  (Đinh Hùng)
 
Bích có nghĩa là xanh biếc.

                  
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Phàm những gì mang sắc xanh trong trẻo đều có thể gọi là Bích. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng rằng Bích là loại đá có màu xanh đẹp, gần giống với ngọc. Trong cách nhìn của người xưa, chữ Bích này chính là sắc xanh tinh khiết và sáng trong, thường gắn với những vật quý hoặc cảnh sắc thanh sạch, không nhiễm bụi trần.
Từ đó, chữ Bích xuất hiện nhiều trong tiếng Việt như ngọc bích, bích câu, Bích Câu kỳ ngộ,... thường được dùng rộng để chỉ màu xanh, đặc biệt là trong những hình ảnh trời xanh nước biếc. Đồng thời trong văn chương, Bích còn mang sắc thái thẩm mỹ rõ rệt, được dùng để khắc họa những không gian cao rộng, trong lành và có phần thoát tục.
 
庭舞胎禽雲掩關,
露華嚥罷覺清寬。
碧桃華下渾無事,
時倩東風掃石壇。
 
Đình vũ thai cầm vân yểm quan,
Lộ hoa yến bãi giác thanh khoan.
Bích đào hoa hạ hồn vô sự,
Thời thiến đông phong tảo thạch đàn.
Lân múa thai cầm mây đóng quan
Yên tan hoa lộ tiếng chuông khoan
Dưới hoa đào biếc rành vô sự
Sẽ mượn gió đông quét thạch đàn.
(Chu Văn An, bản dịch thơ Nguyễn Bích Ngô)
 
“Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay.”
                (Hồ Xuân Hương)
 
“Thành tây có cảnh Bích Câu
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.”
                                  (Bích Câu kỳ ngộ)
 
                                                                      Bài viết của Khánh Ly
                                                                       Trích từ Tri thư đạt lễ

Không có nhận xét nào: