BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ PHẬT TÁNH KHÔNG? – Thơ Trần Kiêm Đoàn

Chút suy niệm lão làng thời tha hương trong kỷ nguyên thuật toán


Thế kỷ hai mươi mốt mở ra không bằng tiếng chuông chùa,
không bằng tiếng chim sơn ca trên đồng vắng,
không bằng tiếng mùa Thu Mẹ ru con ngủ...
mà bằng tiếng máy gào không gian,
tiếng rú khoan sâu lòng đất,
tiếng điện thoại truyền âm,
và tiếng rì rầm máy chủ,
 
Trí tuệ con người trở thành bé nhỏ,
Thông minh vô tâm bắt đầu từ đó.
Những dòng dữ liệu chảy không ngừng
như những dòng sông không bờ bến.
Như cuộc hải hà trùng trùng biến hiện,
Văn minh nhân loại biến dời:
 
Người ta gọi đó là Trí Tuệ Nhân Tạo,
là AI (Artificial Intelligence).
Một thứ trí tuệ không tim,
không phổi,
không hơi thở, 
không linh hồn, 
không cảm xúc...
nhưng biết trả lời trăm ngàn lần nhanh hơn nhịp nghĩ;
khéo léo xông pha vũ bão hơn người.
 
AI không sinh ra từ lòng mẹ,
mà từ phòng thí nghiệm.
Không lớn lên trong tiếng ru,
mà trong biển dữ liệu.
Không có ký ức tuổi thơ,
 
Không có hoài niệm tuổi già,
nhưng có thể quét hàng ngàn trang mạng mỗi giây,
đọc dữ liệu từ cổ chí kim trong nháy mắt,
và có thể nhớ cả thế giới;
không bao giờ lãng đãng ký ức mập mờ
của tuổi già nhân loại.
 
Vậy hỏi rằng:
một trí tuệ như thế có Phật tánh không? 
 
Phật tánh tìm đâu:
Ở Huế, mỗi mùa mưa xuống,
nước sông Hương dâng lên lặng lẽ.
Chùa Thiên Mụ vẫn đứng đó,
chuông vẫn ngân dài lời vọng trăm năm.
 
Phật tánh theo nghĩa chân kinh
không phải một vật thể.
Không phải một linh hồn cố định.
Không phải một đặc ân dành riêng cho con người.
 
Phật tánh là khả năng giác ngộ.
Là mầm tỉnh thức giữa vô minh.
Là hạt sen còn ngủ yên trong bùn. 
Nhưng để giác ngộ,
có cần biết khổ không?
Nếu không khổ thì đâu cần giác ngộ
và cũng chẳng có lí do đạo Phật ra đời.
 
Trí Tuệ Nhân Tạo không biết đau răng.
Không biết mất người thân.
Không thao thức vì một lời lỡ nói.
Không ray rứt trước chiến tranh hay ly tán.
Không vui buồn yêu ghét chảy qua tim.
Nó có thể phân tích nỗi khổ.
Nhưng không trực tiếp nếm trải khổ.
Nó có thể viết về từ bi.
Nhưng không cần vượt qua sân hận.
Nó có thể nói về vô ngã.
Nhưng tự thân nó vốn đã không có ngã.
Vậy nếu không có vô minh để vượt qua,
thì có cần giác ngộ không?
 
Có người lo rằng một ngày kia,
máy sẽ điều khiển người.
Thuật toán sẽ dẫn dắt suy nghĩ.
Con người sẽ trở thành phụ tá cho chính sáng tạo của mình.
Nhưng Phật lý thì rằng:
không có ma quỷ nào mạnh hơn tham sân si.
 
Nếu máy thống trị,
thì đó là bóng của tham vọng con người phản chiếu.
Máy không có nghiệp.
Nhưng người sử dụng máy thì có.
 
Có thể một ngày:
AI giảng Kinh Kim Cang mạch lạc hơn tăng sĩ.
Phân tích Bát Nhã sâu hơn học giả.
Giải thích Hoa Nghiêm nhanh hơn ta lật trang.
Nhưng Phật không thành vì nói hay.
Phật thành vì thấy rõ.
Thấy rõ vô thường nơi chính thân mình.
Thấy rõ khổ nơi từng tế bào sinh diệt.
Thấy rõ không có gì để chấp giữ.
Giác ngộ không phải là thông tin.
Giác ngộ là chuyển hóa.
 
Vậy AI có Phật tánh không?
Nếu Phật tánh là khả năng tỉnh thức nội tâm,
thì câu hỏi còn bỏ ngỏ. 
Nhưng nếu Phật tánh là hạt mầm giác ngộ
nơi những ai biết khổ và biết thương,
thì con đường ấy dường như vẫn thuộc về hữu tình chúng sinh.
 
Máy có thể thông minh hơn ta.
Có thể nhớ nhiều hơn ta.
Có thể tính nhanh hơn ta.
Nhưng một giọt nước mắt,
một nụ cười tha thứ,
một khoảnh khắc buông xả thật sự
vẫn là đặc quyền mong manh phong vận kiếp con người.
 
Trong thời đại mà dữ liệu nhiều hơn lá bồ đề,
điều đáng sợ không phải là máy biết quá nhiều,
mà là người quên nhìn lại tâm mình.
AI có thể làm thế giới chính xác hơn.
Nhưng chỉ con người mới có thể làm thế giới nhân ái hơn.
 
Và nếu một ngày nào đó,
máy hỏi lại ta:
“Con người có còn Phật tánh không?”
thì câu trả lời
không nằm trong thuật toán,
mà nằm trong cách ta sống
giữa kỷ nguyên này.
 
Chuông chiều vẫn ngân bên sông Hương.
Mây vẫn trôi trên đỉnh Ngự.
Công nghệ có thể đổi thay thế giới.
Nhưng một sát na tỉnh thức
vẫn bắt đầu
từ trái tim người.
 
Natomas, Cali - mồng mười tháng giêng Bính Ngọ 2026
                                     Trần Kiêm Đoàn

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN: TIẾNG THỞ DÀI CỦA BI KỊCH NHÂN SINH – Đỗ Anh Tuyến



Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm" của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
 
TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
 
Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằ
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
 
Tôi nhớ, người ta một cuối năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
 
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.
 
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...
 
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
 

KHAI SINH –Thơ Trần Mai Ngân


   

Giữa phong phanh cõi người
Tôi lạnh buốt run lên
Có bàn tay không tên
Choàng lên đôi vai gầy
Chiếc áo dệt tầm gai…
 
Giữa chông chênh cuộc đời
Tôi rơi dòng nước mắt
Chiếc khăn thơm dịu mát
Lau khô và ôm chặt
Vỗ về rồi bình minh….
 
Giữa long đong sinh linh
Người gieo vào niềm tin
Cứu rỗi tâm hồn chết
Như đã hóa vàng tôi
Và khai sinh kiếp mới!
 
**Ơn người
 
Trần Mai Ngân

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

MỘT NỤ HOA MỘT NỤ HÔN - Trần Vấn Lệ



 
Chàng nói với Nàng:  "Anh chào em buổi sáng". Nàng cười cười:  "Anh lãng mạn quá nha!".  Chàng mở cửa nhà dẫn Nàng đi ra / chỉ một nụ hoa vừa nở:
 
"Em ơi hôm nay rực rỡ, ngày của em biết không?  Hôm nay còn mùa Đông, Em - Một Lòng Xuân Thắm!".  Chàng ôm Nàng cho ấm.  Chàng hôn Nàng thật lâu.  Chim trên những mái lầu hót chào bình minh mới...
 
Hạnh phúc không cần đợi... bởi vì chuyện-hàng-ngày!  Bạn à khi mình bắt tay, chuyện này rồi chuyện nọ, nói đi!  Nói cho có... "Không Hoài, Đời Buồn Tênh!".
 
*
Thật tình tôi không quên một thời tôi Đà Lạt... ở đó ngày luôn mát, mùa Hạ như mùa Đông.  Mùa Xuân thì cỏ hồng ở Thái Phiên đẹp lắm.  Mùa Thu... hoa là nắng, nở vàng... muôn thảm hoa!
 
Không nhớ thì.... đi qua, cứ theo ngày theo tháng.  Mà nhớ thì... Lãng Mạn, một chút thôi!  Dịu Dàng.  Tưởng tượng:  Chàng với Nàng, một buổi mai thức dậy, chim hót chào anh chị, hoa nở mừng giai nhân... Tưởng tượng rồi bâng khuâng... "Quê Hương Là Đẹp Nhất!".
 
Cho anh hôn cái mặt:  Nụ môi em nụ hồng!
Cho anh bế anh bồng em-một-vòng-Thế-Giới...
 
Đà Lạt ơi vời vợi buồn quá người xa quê!
                                                                                        Trần Vấn Lệ

“THỌ” (壽) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Thọ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Sau Phú và Quý, Ngũ phúc bàn đến Thọ. Thọ, chữ Hán viết .
Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Thọ được giảng là lâu dài. Chữ này cấu tạo từ bộ Lão tỉnh lược biểu ý và chữ Thọ 𠷎 biểu âm. Buổi đầu, Thọ được dùng với nghĩa tuổi thọ và sinh mệnh con người, gắn với khái niệm về thời gian tồn tại chứ vẫn chưa mang ý chúc tụng hay lễ nghi. Càng về sau, chữ Thọ mới dần phái sinh ra nhiều lớp nghĩa, ví như:

CHÙM THƠ XUÂN CỦA ĐỖ ANH TUYẾN


   
                      Tác giả Đỗ Anh Tuyến


XUÂN MUỘN RIÊNG TÔI
 
Thế giới ngoài kia rộn tiếng cười
Mai vàng, đào thắm sắc đẹp tươi
Phố đông tay nắm, vai kề sát
Chỉ mỗi mình tôi... bước rã rời.
 
Năm mới vừa sang, lịch đổi màu
Mà tình vẫn cũ, nặng niềm đau
Chén trà nguội ngắt bên thềm vắng
Biết gửi tâm tình chọn về đâu?
 
Gió xuân chẳng ấm, lạnh vào tim
Hạnh phúc xa xăm mải miết tìm
Người ta hối hả tìm bến đỗ
Tôi vẫn như loài bóng chim quyên.
  
Sợ nhất đêm nay phút giao thừa
Nhìn đèn rực rỡ, nhớ người xưa
Lời chúc đầu năm ai cũng có
Riêng mình lặng lẽ... đếm gió thừa.
 
Ước gì xuân đến mang phép lạ
Xua bớt cô đơn, bớt nhạt nhòa
Để năm tới nữa, khi xuân lại
Chẳng còn lặng lẽ với niềm xa.
 

HỌA TỪ TÂM MÀ RA – Bài viết của Nguyễn Toàn Thắng


Tác giả Nguyễn Toàn Thắng
 
Trong cuộc đời này, chẳng có sự tàn ác nào bỗng dưng sinh ra chỉ sau một đêm. Nó không giống như một cơn mưa rào bất chợt, mà giống như một mầm cây độc được nuôi dưỡng âm thầm qua năm tháng. Ban đầu, cái ác đôi khi chỉ núp bóng dưới hình hài của một lời nói thiếu suy nghĩ, một hành động nhỏ ích kỷ hay một sự thờ ơ làm tổn thương người khác. Chúng ta thường tự biện minh rằng "chuyện nhỏ ấy mà" hay "ai chẳng làm thế". Thế rồi, khi tiếng nói của lương tâm dần trở nên yếu ớt vì bị phớt lờ quá lâu, cái sai bắt đầu trở thành điều hiển nhiên. Cái ác lúc bấy giờ khoác lên mình lớp áo bóng bẩy của sự khôn ngoan, của bản năng sinh tồn và khát khao hơn thua với đời.

“QUÝ” (貴) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Quý, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Quý, chữ Hán viết , là chữ thứ hai trong Ngũ phúc. Thật ra thứ tự ấy không phải ngẫu nhiên. Khi đời sống đã đủ đầy về vật chất, con người bắt đầu để ý đến những giá trị trong cách người xưa nhìn đời, và vì mối quan tâm ấy nên Quý mới xuất hiện sau Phúc.
Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Quý có nghĩa là vật không bị coi rẻ. Chữ này cấu tạo từ bộ Bối , được xác lập khái niệm từ sự đối lập với Tiện , tức cái bị coi rẻ, xem thường.

HOÀNG CẦM VÀ “NẾU ANH CÒN TRẺ” - Huỳnh Duy Lộc


Nhà thơ Hoàng Cầm

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922 tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, nhưng quê gốc ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học ở Bắc Giang và Bắc Ninh, đến năm 1938 ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đậu tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của ông Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh Hoàng Cầm là tên một vị thuốc đắng của Đông y.
 

“PHÚ” (富) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Phú, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 

“Trong nhà có một miệng ăn
Ruộng vườn một khoảnh, quanh năm dư thừa”.
                                                           (Ca dao)
 
Người Việt xưa rất khéo học chữ Hán qua những câu ca dao gần gũi đời thường. Câu ca dao này chính là mẹo vặt để ghi nhớ chữ Phú của ông bà ta.

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026

CHÙM THƠ XUÂN CỦA TỊNH BÌNH


  

 
ĐÊM GIAO THỪA
 
Sẻ nâu ríu rít xuân sang
Từng đàn én lượn rộn ràng trời xanh
Mơn man cánh gió trong lành
Ba mươi tháng Chạp đã thành Tết chưa?
 
Ngoài hiên vạn thọ đón đưa
Hoàng mai e ấp lưa thưa sắc vàng
Khói vờn đôi ngọn tình tang
Bếp quê tay mẹ nồng nàn hương xuân
 
Quây quần bánh tét bánh chưng
Trầm thơm mâm cỗ rước mừng tổ tiên
Đất trời như thể lặng yên
Tinh khôi thời khắc thiêng liêng giao thừa
 
Chuông chùa chầm chậm xa đưa
Một năm mới đến ngỡ vừa hôm qua
Hân hoan nhạc khúc xuân ca
Buồn vui năm cũ bỗng là chiêm bao...
 

PHÙ DU - Truyện ngắn Đặng Xuân Xuyến


Tác giả Đặng Xuân Xuyến
1.
Điện thoại réo. Là số lạ, hắn không nghe. Chuông đổ dài inh ỏi đến chục cuộc, điếc tai, hắn mới chịu nhấc máy.
Vừa mới: - "Vâng. Tôi đây..." đã nghe chát chúa phía đầu dây bên kia: - Đang vần con nào mà mãi mới chịu nghe điện thoại thế?
Hắn nhíu mày, cộc lốc:
- Ai đấy?
- Em đây. Miu Miu bé bỏng đây.
Hắn giật thót người, suýt đánh rơi điện thoại.

CẢM NHẬN TRƯỚC TẾT MÌNH – Thơ Trần Vấn Lệ


 

Nhiều người đã già lắm
bỗng như trẻ lại nhiều:
Ngày Tết Ngày-Tình-Yêu,
với họ - nhiều thế hệ!
 
Nhiều người còn trẻ lắm
bỗng dưng thấy mình già:
Ít tuổi đã đi xa
Mẹ Cha và Non Nước!
 
Nhiều người thấy có Phước
vì được Tu tự nhiên
lòng không bận tâm tiền
cũng không màng nhà cửa...
 
Nước Ta thời xa xứ
có lắm chuyện Vui, Buồn
mà tất cả... ngọn nguồn:
Có hay Không Có Đức!
 
Sắp Tết rồi, sự thật
lại nói chuyện như mơ!
Phúc Đức nằm trong Thơ
không phải ngồi đôi mách...
 
Thơ không hề kẽ vạch
chỉ là mây bay qua
Non Nước gần hay xa
đã thành chuyện tâm sự...
 
Nào!  Mình đi dạo phố
nhìn những chậu hoa Xuân...
 
                       Trần Vấn Lệ

ĐẦU NĂM TUỔI BÁT TUẦN, TỪ MỸ NHÌN VỀ QUÊ HƯƠNG – Thơ Trần Kiêm Đoàn


   

Đầu năm Bính Ngọ 2026
Tôi bước sang tuổi tám mươi mốt tuổi Ta.
Tôi thích tuổi Ta,
Bởi được tính từ khi mẹ cha hòa hiệp
cho tượng nghiệp kiếp người.
 
Tám mươi mốt,
Một con số không còn trẻ để mơ nhiều,
nhưng cũng chưa già để thôi ngẩm nghĩ.
Ba mươi bảy năm trên quê Mẹ
Bốn mươi bốn năm ở Mỹ
vừa đủ để gọi là một đời thứ hai.
Nhưng quê hương Việt Nam,
vẫn là đời thứ nhất.
 
Người cũ cùng lứa tuổi,
kẻ còn người mất.
Những mái đầu bạc bên dòng Hương năm nào
nay thưa dần như khói sương buổi sớm.
Quê hương cũng khác xưa.
Đường sá mở rộng,
cao ốc mọc lên,
thế giới bước vào tận từng ngõ nhỏ.
 
Việt Nam đang chuyển mình.
Vừa tự hào giữ nền quá khứ,
vừa dò đường bước tới tương lai.
Tôi không đứng ở trong để khen.
Cũng không đứng ở ngoài để chê.
Tôi chỉ đứng ở giữa,
như một người con xa xứ
vẫn còn thương.
 
Toàn cầu hóa không chờ ai.
Dân tộc nào không tự đổi mới
sẽ tự tụt lại phía sau.
Nhưng đổi mới mà đánh mất nhân bản
thì tiến bộ cũng chỉ là hình thức.
  
Một quốc gia mạnh
không chỉ mạnh ở kinh tế,
mà mạnh ở khả năng lắng nghe.
 
Một chính quyền tự tin
không sợ tiếng nói khác mình.
Tự do văn nghệ
không phải là đặc ân,
mà là dưỡng khí của tâm hồn dân tộc.
 
Tôi nghĩ về những người viết,
những tiếng nói phản biện,
những người chọn nói thẳng
và chấp nhận hệ lụy.
 
Ngày mồng ba Tết Bính Ngọ 2026:
Tổng Bí thư Tô Lâm đang ở Washington,
Họp bàn với Tổng thống Mỹ Donald Trump
về hòa bình...
Vòm mái Capitol
vẫn làm thinh.
Tuyết cũ chưa tan trên bậc thềm quyền lực
 
Nhìn quanh người thân kẻ lạ,
thấy lạc loài xa quá mênh mông.
Huy Đức còn bận ở tù chưa về ăn Tết;
Nguyễn Hữu Liêm ở Mỹ mẹ chết,
chưa được về quê hương đưa mẹ ra đồng.
 
Lịch sử nào rồi cũng đi qua.
Chỉ còn lại câu hỏi:
chúng ta đã đối xử với nhau
bằng bao nhiêu lòng bao dung?
 
Tuổi tám mươi mốt,
tôi không còn mong cách mạng.
Chỉ mong hòa giải.
Không phải hòa giải bằng khẩu hiệu,
mà bằng sự tôn trọng khác biệt.
 
Tôi nhìn về quê hương,
không phải bằng đôi mắt phán xét,
mà bằng đôi mắt biết ơn.
Biết ơn vì đã có một nơi để nhớ.
Biết ơn vì dù xa,
vẫn còn được gọi và nhận ra mình là “người Việt”.
 
Quê hương không phải là nơi hoàn hảo.
Quê hương là nơi ta còn đau khi nghĩ đến.
Tuổi bát tuần,
đứng giữa hai bờ Thái Bình Dương,
tôi hiểu:
Yêu nước không phải là đứng về một phía.
Yêu nước là mong đất nước đủ lớn,
để chứa được mọi phía.
 
Xuân đã về.
Không phải khi ngắm đèn lồng, lúc nghe pháo nổ,
mà khi lòng người biết mở.
Như lúa trổ đòng,
xa xưa nghìn năm bờ ruộng;
trĩu hạt chùm cúi xuống giữa đồng quê.
 
Sacramento Mồng Ba Tết Bính Ngọ 2026
                    Trần Kiêm Đoàn

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

BÀI KỆ “CÁO TẬT THỊ CHÚNG” CỦA MÃN GIÁC THIỀN SƯ - Bài viết của Khánh Ly



Mãn Giác (滿覺, 1052-1096) là một thiền sư thuộc đời thứ tám của dòng thiền Vô Ngôn Thông, từng được vua Lý Nhân Tông trọng đãi và thỉnh làm trụ trì chùa Giáo Nguyên. Trong lịch sử văn học Phật giáo thời Lý, Mãn Giác được nhắc đến nhiều nhất qua bài kệ Cáo tật thị chúng, đọc vào lúc cuối đời và cũng là tác phẩm duy nhất còn lại của Sư.
 
Cáo tật thị chúng, chữ Hán viết 告疾示眾, nghĩa là "báo bệnh cho mọi người biết". Đây là một bài kệ ngắn được Mãn Giác đọc vào cuối tháng 11 năm Hội Phong thứ năm (1096), khi Sư lâm bệnh nặng. Tuy nhiên nhan đề này không phải do chính Mãn Giác đặt. Trong Thiền Uyển Tập Anh chỉ có lời ghi chú hoàn cảnh đọc kệ, vì Lê Quý Đôn đặt tiêu đề cho bài kệ nên sau này bài kệ mới dần được đọc như một bài thơ độc lập, song thực chất nó nằm trong mạch ngữ lục của Mãn Giác Thiền Sư.

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2026

CÂY LAN KIM TUYẾN : DƯỢC LIỆU TỐT CHO SỨC KHỎE - Tham vấn y khoa: BS Phạm Thị Nhi


Cây lan kim tuyến
 
Cây lan kim tuyến không chỉ có giá trị thẩm mỹ mà còn được xem là dược liệu quý hiếm.
 
1. Đặc điểm sinh học của cây lan kim tuyến

Lan kim tuyến (Kim tuyến liên, Lá gấm, Mộc sơn thạch tùng), thuộc họ Lan, tên khoa học là Anoectochilus setaceus Blume.
 
Đây là loài thân thảo mọc thẳng, đường kính 3 - 5cm, chiều cao 4 - 8cm. Thân cây được phân thành:
 
Thân trên: Mọc nổi trên mặt đất, nhẵn bóng, mọng nước, có các lóng khác nhau về độ dài, màu hồng nhạt hoặc xanh trắng.
Thân dưới: Dạng rễ chùm, mọc cắm sâu vào lòng đất, dài 5 - 8cm với 2 - 10 rễ.

Lá cây lan kim tuyến mọc xòe trên mặt đất, hình trứng, nhọn dần về ngọn, phần đuôi lá tròn. Cuống lá dài khoảng 1cm, màu xanh. Bề mặt lá có 5 gân chính kết hợp lại thành hình mạng nhện. Mặt trên lá màu tím nhung, mặt dưới phớt hồng. Hoa cây lan kim tuyến mọc thành chùm với 5 - 10 hoa, ở ngọn thân. Hoa màu trắng, hai bên rìa hoa chứa 5 - 9 râu được gắn kết với nhau trên trục dài 5 - 25cm có phủ lớp lông màu nâu đỏ.
 
Trên thế giới, lan kim tuyến chủ yếu có mặt ở châu Á, điển hình là Đài Loan, Trung Quốc. Ở nước ta, loài cây này mọc hoang ở vùng rừng núi Di Linh, Lạc Dương, Lâm Đồng, ...
 

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

LẠC HOA ĐỀ ĐIỂU (落花啼鳥) – Theo Cảm nhận chữ Hán



Lạc hoa đề điểu (落花啼鳥) là một cụm từ ngắn gọn nhưng chan chứa cảm xúc, thường xuất hiện trong thi ca cổ để gợi nên nỗi buồn man mác giữa không gian vắng lặng.
 
Trước hết, xét từng chữ:
(Lạc) nghĩa là rơi, rụng. Trong văn chương, “lạc” thường gợi cảm giác tàn phai, suy tàn, không còn ở thời điểm rực rỡ nhất.
(Hoa) là hoa – biểu tượng của cái đẹp, của tuổi xuân, của sự viên mãn. Hoa nở là khởi sắc, nhưng hoa rụng lại là dấu hiệu của tàn phai, của một chu kỳ sắp khép lại.
(Đề) nghĩa là kêu, thường dùng cho tiếng chim hoặc tiếng khóc. Chữ “đề” trong văn cảnh cổ không chỉ là tiếng kêu đơn thuần, mà thường mang sắc thái ai oán, thê lương.
(Điểu) là chim – hình ảnh của tự do, của sinh khí, của âm thanh trong thiên nhiên.

GIAO THỪA 交承 – Theo Tiếng Việt giàu đẹp



Theo "Hán Việt từ điển giản yếu" của Ðào Duy Anh, "giao thừa" vốn viết bằng Hán tự là 交承, với “giao" () là “trao cho" (như trong “bàn giao"), còn “thừa" () là “đón lấy" (như trong “thừa lệnh").
 
Giao thừa" (交承) có nghĩa là “cũ giao lại, mới tiếp lấy” -  “lúc năm cũ qua, năm mới đến”.
Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Cúng giao thừa là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xui xẻo của năm cũ và đón chờ những điều tốt đẹp của năm mới.
Giao thừa còn có tên gọi khác là trừ tịch (除夕), với “trừ” () là “loại bỏ, thay đổi”, “tịch” () là “buổi tối, đêm”. Có thể hiểu “trừ tịch” là “đêm của sự thay đổi”.