BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI GIÁP THÌN 2024 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2020

VỊ TƯỚNG KHIẾN GIẶC KHIẾP SỢ NGAY TẠI SÀO HUYỆT CỦA CHÚNG: HIỂN HÁCH MUÔN ĐỜI PHÁ “TỐNG BÌNH CHIÊM” - Trần Đình Ba

Nước Việt có người họ Lý, đã cầm quân là tất thắng lợi, đã trị nước thì dân được yên, danh lẫy lừng thiên hạ, tiếng vang khắp xa gần.


DÒNG DÕI KIỆT HIỆT

Điểm trong sử nước Nam, có hai người làm tướng mà danh thơm nức tiếng ở triều đại họ sống, dẫu đều là những người tịnh thân. Đó là trường hợp của Thái úy Lý Thường Kiệt thời Lý và Tả quân Lê Văn Duyệt thời Nguyễn.

Ở đây, chúng ta nói về trường hợp của Lý Thường Kiệt (1019-1105), người làm quan trải ba đời vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông với những công nghiệp hiển hách, nhân vừa qua ngày giỗ của ông (2 tháng 6 âm lịch).

Viết về thân thế Lý Thường Kiệt, Nam quốc vĩ nhân truyện để lại vài dòng. Theo đó Lý Thường Kiệt là người ở phường Thái Hòa thuộc kinh đô Thăng Long. Riêng về dung mạo, vẫn sách này cho hay "có phong tư dung mạo", đồng thời tư chất cũng hơn người khi "nhiều mưu lược, có tài làm tướng".

Theo Việt điện u linh, ông tên thật là Ngô Tuấn, là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, Thường Kiệt chỉ là tên tự. Vẫn sách này cho hay, khi còn ít tuổi, vì vẻ mặt tươi đẹp, Ngô Tuấn được sung làm Hoàng môn chi hậu, làm hoạn quan theo hầu Lý Thái Tông. Xem Thoát Hiên vịnh sử thi tập, có miêu tả dung mạo và việc vào cung của ông là "lúc còn trẻ, do có hình dung đẹp đẽ, cùng em là Thường Hiến được vào hầu trong cung".

Trải qua thời gian, Lý Thường Kiệt được thăng dần đến chức Nội thị sảnh đô tri rồi Thái úy, trải qua ba đời vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông. Là Thái giám nhưng Lý Thường Kiệt có tài "kinh bang tế thế hiếm ai bì kịp".

Sự nghiệp của ông, được Đặng Minh Khiêm tổng kết vài lời trong Thoát Hiên vịnh sử thi tập, xem ra gói gọn mà đầy đủ: "Thường Kiệt từng dẹp giặc Chiêm Thành ở phía Nam, đánh nhà Tống ở phương Bắc, vây hãm Khâm Châu, Liêm Châu. Làm quan đến chức Thái úy, tước Thượng quốc công".

VÀO ĐẤT GIẶC ĐƯỜNG HOÀNG KỂ TỘI GIẶC

Thời Hậu Lý, nơi cõi Bắc là vương triều Tống. Theo Việt Nam sử lược, nhà Tống để lấy lại tiềm lực của mình sau những cuộc chiến tranh liên miên với Liêu, Hạ, đồng thời phục hồi uy tín trong nhân dân, quan lại sau biến pháp Vương An Thạch không được lòng dân, lại nhân lúc nhà Lý chuyển giao vương quyền từ Lý Thánh Tông đã mất sang Lý Nhân Tông còn nhỏ tuổi đã quyết định xua quân đánh Đại Việt. Để chuẩn bị lực lượng, lương thảo cho cuộc xâm lược quy mô, nhà Tống lập ba căn cứ quân sự lớn ở châu Ung, châu Khâm và châu Liêm nằm ở Nam Trung Hoa.

Sớm nhận thấy dã tâm xâm lược của triều Tống, triều Lý chuẩn bị mọi mặt để ứng phó với cuộc xâm lăng không tránh khỏi của kẻ thù. Lúc này, Lý Nhân Tông còn nhỏ tuổi, Thái úy Lý Thường Kiệt trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến, ông ra sức củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Nhận thấy sức mạnh của giặc tập trung ở ba châu Ung, Khâm, Liêm, phải nhanh chóng triệt tiêu sự hậu thuẫn về lương thực, khí giới đó, biến sự chủ động của địch thành sự bị động trong chiến tranh xâm lược, Thái úy Lý Thường Kiệt làm một việc xưa nay hiếm bằng phương pháp "Tiên phát chế nhân" (phát binh trước chế ngự địch).

Việt Nam phong sử ghi: "Trong niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075) vua Lý Nhân Tông sai nhóm Lý Thường Kiệt và Tôn Đản lãnh quân chia đường tiến vào đánh phá nhà Tống".

Việt điện u linh trong bài "Thái úy trung phụ dũng Võ uy thắng công" cho biết chủ trương "tiên phát chế nhân" kế của Lý Thái úy: "ông có nghe người nhà Tống muốn đem binh mã qua nhòm biên cảnh nước ta rồi gây ra chiến tranh, ông lập tực tâu cùng vua rằng: Đợi cho giặc đến mà đánh, chi bằng mình đánh trước đi cho chúng nhụt mất nhuệ khí thì hay hơn".

                                                         Quân Lý hạ Ung Châu

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lý Thường Kiệt, Tôn Đản dẫn quân chia đường đánh ba châu. Lại để danh chính ngôn thuận vào đất giặc, ông cho soạn bản "Phạt Tống lộ bố văn" nói rõ lý do. Nghiên cứu Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý thể hiện bản lộ bố ấy được dân Tống ủng hộ vì giúp họ đánh Tống vì các phép thanh miêu, trợ dịch làm dân Tống khốn khổ; vì quân Tống muốn đánh Đại Việt...

Kết quả là ba châu của giặc đều bị quân ta phá tan. Nói về việc này, cứ phải xem phần "sử luận" của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu trong Quốc sử huấn mông để mà thấy được cái sự tự hào ngàn năm có một:

"Nước ta xưa đánh nhau với giặc phương Bắc, nhiều phen được to, như nhà Trần với người Nguyên, vua Lê với người Minh, Nguyễn Quang Trung với người Thanh, đều đủ làm cho chúng hết cậy mình là nhớn. Tóm sau trước mà nghĩ thời việc đánh Tống này có giá trị hơn nhất. Các việc kia, đều là giặc sang cõi ta, chiếm đất ta; quân ta vì chống chế, vì khôi phục mà đánh, đánh mà được. Một việc đánh Tống này thời quân ta tự tràn sang đất giặc, đường hoàng kể tội vua tướng giặc mà đánh, đánh mà được, cho nên gọi là có giá trị hơn".

Trong sử Nam ta, vua Quang Trung từng có ý tiến quân sang đất Thanh nhưng rồi mất sớm. Còn ở trường hợp quân Lý thì rõ như ban ngày. Hiếm khi nào thấy được, quân ta thực hiện thế thủ chủ động đến như vậy khi vào sâu nội địa của giặc mà diệt hết sự chuẩn bị quân sự, hậu cần, đưa giặc vào thế bị động như thế.

Bởi vậy thử hỏi rằng, nếu nhà Tống không bị ta đánh phủ đầu thì với quân đông tướng mạnh tràn sang, số phận Đại Việt sẽ như thế nào?

PHÁ TỐNG BÌNH CHIÊM

Với chiến thắng phủ đầu, ta đưa địch vào thế bất lợi, bị động trong cuộc xâm lược, để rồi sau này quân Tống sang đánh Đại Việt, quân dân ta đã có thời gian chuẩn bị đầy đủ kháng chiến chống kẻ thù, làm nên trận Như Nguyệt hiển hách đánh tan quân ngoại bang, buộc địch rút chạy về nước không dám ngoái đầu lại.

Năm Bính Thìn (1076), Quách Quỳ, Triệu Tiết dẫn quân đánh nước ta. Với lực lượng mạnh, quân Tống nhanh chóng tiến đến bờ Bắc sông Như Nguyệt (Theo Việt sử địa dư sông nằm "ở phía Đông Bắc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh"). Bị phòng tuyến Như Nguyệt chặn lại, quân Tống phải đóng trên trận tuyến dài 30km từ bến đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền (Việt Yên, Bắc Giang).

Lợi dụng quân đông với chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, Quách Quỳ tổ chức vượt sông đột phá phòng tuyến quân ta ở bến đò Như Nguyệt nhưng bị đánh bại. Đại Việt sử ký tiền biên viết:

"Vua sai Lý Thường Kiệt đón đánh quân Tống ở sông Như Nguyệt. Quách Quỳ lui quân về lấy châu Quảng Nguyên, Thường Kiệt đón đánh tan quân Tống ở sông Như Nguyệt, quân Tống chết đến hơn nghìn người, Quách Quỳ đem quân rút lui lại lấy các châu Quảng Nguyên của ta. Tục truyền rằng Thường Kiệt đắp lũy làm rào ở dọc sông để cố giữ, một đêm các quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch thơ:

Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời".

                               Tiếng ngâm "Nam quốc sơn hà" kích thích sĩ khí quân sĩ

Quân lính nghe đọc mấy câu thơ ấy, ai nấy đều nức lòng đáng giặc, quân nhà Tống không tiến lên được. Bị quân ta tiến công, tập kích, phục kích, cắt đường vận chuyển, lương thực thiếu thốn, bệnh dịch hoành hành, quân Tống ở vào tình thế bị động. Tháng 2 năm Đinh Tỵ (1077), Lý Thường Kiệt phản công đánh mạnh vào trận địa ở Nham Biền. Lại bất ngờ đánh vào cánh quân Triệu Tiết, tiêu diệt quá nửa số quân Tống. Thất bại, quân Tống phải giảng hòa để rút về nước. Kháng chiến chống Tống kết thúc thắng lợi. Từ đây nhà Tống không có bất cứ cuộc xâm lấn nào đối với nước ta nữa. Đúng là cái cảnh được Việt Nam phong sử ví von:

Nực cười châu chấu chống xe,
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng!

Chiến thắng chống xâm lược Tống mãi mãi đi vào sử xanh Đại Việt cùng công lớn của nhà quân sự tài ba: Thái úy Lý Thường Kiệt. Nhưng xem đời ông, không chỉ dừng ở chiến công phá Tống, mà sự nghiệp bình Chiêm, cũng cao cả lắm.

Xem Việt sử tân biên, ghi nhận sự kiện bình Chiêm trước khi đánh Tống, ấy là năm Kỷ Dậu (1069). Vì Chiêm Thành bỏ cống, lại lén lút thần phục nhà Tống, vua Lý chỉnh trang binh bị, thực hiện cuộc chinh phạt về nam. Lực lượng quân nhà Lý chừng 5 vạn, do Lý Thường Kiệt làm Đại tướng đi tiên phong.

                                         Quân tướng nhà Lý tiến đánh Chiêm Thành

Lần chinh phạt này, quân Lý đuổi vua tôi Chiêm Thành đến tận kinh đô Chiêm. Chế Củ cùng quân tướng bị cầm tù. Chiến công ấy Việt sử tân biên nhấn mạnh "Người có công trong cuộc đại thắng này là Lý Thường Kiệt". Để chuộc mạng, Toàn thư cho biết vua Chiêm Chế Củ đã dâng ba châu Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý cho Đại Việt, nhờ đó mà lãnh thổ nước ta kéo dài về Nam. Không chỉ đơn thuần là tướng xông pha trận mạc, mà riêng với vấn đề cương vực lãnh thổ quốc gia dân tộc, Lý Thái úy là người có tầm nhìn xa rộng, được đánh giá là "nói đến vấn đề mở mang bờ cõi ta nên để ý đến Lý Thường Kiệt là người rất ráo riết về ý chí này hơn hết".

Ghi nhận ở chiến công hiển hách này của nhà Lý trong cuộc chinh Nam, học giả Hoàng Xuân Hãn đã tổng kết trong Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, xét ra thật xác đáng: "trong cuộc nam phạt, Lý Thường Kiệt vừa làm tham mưu, vừa làm thống soái. Ông đã có công lấy thành, bắt chúa Chiêm, cho nên nước ta mới được nhường khoảnh đất ba châu phía nam dãy Hoành Sơn. Trong cuộc nam tiến của dân tộc Việt Nam, Lý Thường Kiệt có công đệ nhất, vì đã mở đường cho các đời Trần, Hồ, Lê, Nguyễn sau".

Ngoài sự nghiệp phá Tống, bình Chiêm ở trên, đời cầm quân xông pha sa trường của Lý Thái úy còn ghi nhận việc dẹp loạn Lý Giác ở Nghệ An khi ông đã tuổi 85, rồi đuổi Chiêm Thành năm Giáp Thân (1084) đều một tay ông cả.

DANH THƠM ĐỂ LẠI CHO ĐỜI

Con người Lý Thái úy, thật xứng với lời ngợi khen của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, rằng: "Ông là người giàu mưu lược, có biệt tài làm tướng suý, làm quan trải thờ ba đời vua, phá Tống, bình Chiêm, công lao đức vọng ngày một lớn, được vua sủng ái, là người đứng đầu các bậc công hầu vậy". Há đâu phải thái giám là không làm nên nghiệp lớn phò vua giúp nước như bậc quan văn, tướng võ thôi đâu. Bởi thế, ngay trong thời Lý, nhân gian đã rất trân trọng ông, như bài thơ của nhà sư Thích Pháp Bảo khi soạn bài "Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh" (bài minh, khắc trên bia, đặt ở chùa Linh Xứng, núi Ngưỡng Sơn) năm Bính Ngọ (1126) thời vua Lý Nhân Tông, trong đó có đoạn:

Việt hữu Lý công
Cổ nhân chuẩn thức
Mục quận ký minh
Chưởng sự tất khắc

Danh dương hàm hạ
Thanh chấn hà vực.

(nghĩa là: Nước Việt có người họ Lý, Theo đúng phép của người xưa. Đã cầm quân là tất thắng lợi. Đã trị nước thì dân được yên. Danh lẫy lừng thiên hạ. Tiếng vang khắp xa gần).

Ban thờ Thái úy Lý Thường Kiệt tại chùa Sùng Nghiêm, xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Trần Đình Ba

Kết bài, xin ghi lại bài thơ trong Thoát Hiên vịnh sử thi tập ghi lại công nghiệp của vị Thái úy nhà Lý như sau:

Anh em kề cận giúp quân vương,
Tài lược hơn người tướng mạo tươi.
Đánh Bắc dẹp Nam huân nghiệp rạng,
Phải đâu hoạn thị bọn tầm thường.

                                                                                  Trần Đình Ba

Nguồn:
https://soha.vn/vi-dai-tuong-duy-nhat-khien-giac-khiep-so-ngay-noi-sao-huyet-hien-hach-muon-doi-pha-tong-binh-chiem-20200727122627549.htm

Không có nhận xét nào: