BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025

CẢM TÁC ĐẦU NĂM 2025 – Thơ Đặng Xuân Xuyến


   

 
Xuất hành đón Xuân
 
Giáp Dần chính Bắc tiến Đông Nam
Dạo gót cùng Xuân dụ gió lành
Chợt nghe nhoi nhói nơi vạn dặm
Nhớ Tết, nghẹn lòng, bái anh linh!
 
Hà Nội, 3:35 Mồng Một Tết Ất Tỵ
(Tức 29 tháng 01 năm 2025)
 
 
Chờ em đón Xuân
 
Kìa em, Xuân sắp qua đầu ngõ
Đã rộn tiếng cười tươi nắng non
Nhà bên tíu tít khoe màu áo
Líu quíu anh chờ em đón Xuân!

Hà Nội, 7:45 Mồng Một Tết Ất Tỵ
(Tức 29 tháng 01 năm 2025)
 
 
Nghe nhạc nhớ quê
 
Con đi chúc Tết, bố ở nhà
Nằm nghe Tuấn Vũ (1) nhớ Xuân qua
Ơ hay, sao bỗng thành kẻ lạ
Không dưng lại khóc nhớ quê nhà!

-----
(1) ca sĩ Tuấn Vũ
 
Hà Nội, 13:37 Mồng Một Tết Ất Tỵ
(Tức 29 tháng 01 năm 2025)
 
 
Tết nằm nhà
 
Năm nay đón Tết chằng pháo hoa
Táo quân hề nhảm đã nhạt nhòa
Mấy trò diễn cũ, nhàm, chả ngó
Cũng ngại ra đường lại co ro!
 
Hà Nội, 18:17 Mồng Một Tết Ất Tỵ
(Tức 29 tháng 01 năm 2025)
                      Đặng Xuân Xuyến

XUÂN MƠ – Thơ Lê Văn Trung


   


XUÂN MƠ
 
Hẹn với mùa thu rồi sang đông
Chờ nhau trải lụa nắng đầu Xuân
Người về theo áo vàng hoa cúc
Hoa nở mà lòng tôi tỏa hương
 
Câu thơ người viết mùa thu trước
Đợi gió Xuân về theo én bay
Lòng tôi từ đó như men rượu
Có ai cùng tôi say đêm nay!
 
Cánh cổng vườn Xuân còn để mở
Tôi bước ra từ những giấc mơ
Tôi thấy mây trời xanh quá đỗi
Và tiếng cười tôi như trẻ thơ
 
Lê Văn Trung
Đầu năm Ất Tỵ 2025

NGUỒN GỐC TÊN GỌI TRỨNG BẮC THẢO - Phương Nam Book



Ăn trứng bắc thảo nhiều nhưng chưa hiểu "bắc thảo" nghĩa là gì
Trong sách "Có Một Thời Ở Chợ Lớn", tác giả Phạm Công Luận viết: “Ở mấy tiệm bán chạp phô, món gì tốt các chủ tiệm người Hoa cũng đều khen là đồ ‘bắc thảo’ ”. Giấy tốt thì gọi là giấy bắc thảo, lụa tốt là lụa bắc thảo. Bắc thảo biến thành một tính từ chỉ món đồ có chất lượng cao, bền và đẹp.
 
Vậy thì bắc thảo rốt cục là gì? Tôi đọc được một tài liệu, trong đó giải thích rằng hồi xưa có một giống ngựa gọi là ngựa Bắc Thảo, tức là loại ngựa Mông Cổ, sống ở phía Bắc nước Trung Hoa. Nơi đó, đất đai khô cằn, không cây, không núi, không nhà ở, chỉ có cỏ (thảo). Ngựa ở đây là loài ngựa nhỏ bé và không đẹp đẽ oai phong nhưng là giống ngựa hay, chúng đã giúp đoàn kỵ binh Mông Cổ đi chinh phạt khắp thế giới.
 
Lụa bắc thảo được hiểu là hàng lụa tốt, dệt từ sợi tơ tằm, do Trung Hoa đem qua miền Nam trước đây. Cải bắc thảo (tang xại, dịch ra Hán Việt là đông thái) là cải thảo muối mặn, một loại “gia vị” độc đáo trong các món hủ tíu của người Hoa. Còn có món giò heo hầm bắc thảo là giò heo hầm với các loại thảo dược.
 
Tựu trung, "bắc thảo" được dùng để chỉ một thứ gì đó thuộc loại ngon, loại tốt. Bắc thảo, cùng với rất nhiều các từ mượn khác đã sớm trở nên quen thuộc trong đời sống người dân.
 
Bạn còn biết những từ ngữ phổ biến nào bắt nguồn từ tiếng Hoa không, nhớ cho Phương Nam Book biết dưới comment nha!

                                                                             Phương Nam Book
*
THÁI
Rau, cải, rau cải
白菜 Bạch thái: Rau cải trắng, cải thìa.
種菜 Chủng thái: Trồng rau.
Đông thái: Rau mùa đông, cải bắc thảo

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

CÂU ĐỐI TẾT XƯA VÀ NAY - La Thụy sưu tầm và biên tập


              
                                     La Thụy


           CÂU ĐỐI TẾT XƯA VÀ NAY
                        La Thụy sưu tầm và biên tập

    Tiêu đề của bài viết là CÂU ĐỐI TẾT nhưng hình minh họa đầu tiên không phải là câu đối và cũng không đề cập gì đến Tết. Hơn nữa, hình thức trình bày lại bất cân phương như dạng thơ lục bát. Vâng, đó chính là hai câu: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” trích trong bài thi kệ “Cáo Tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền sư. Tuy không phải là câu đối nhưng chữ thư pháp quá đẹp. Hơn nữa ý thiền tràn ngập, hương xuân thơm ngát nên tôi đưa lên trên các câu đối khác.

           
             Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
             Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
                          (Mãn Giác thiền sư)


                       

                     Nguyễn Tôn Nhan 
                       (1948 - 2011)

      

   

  

  

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                            Lộc tiến vinh hoa gia đường thịnh
                            Phúc sinh phú quý tử tôn vinh

Ở câu đối này, chữ PHÚ () trong vế đối thứ hai (phía trái), người viết thư pháp viết nhầm thành chữ PHÚC ()
Không những chỉ riêng câu đối này, một số câu đối khác cũng không được chuẩn lắm.
Ví dụ câu đối: “Xuân tha hương sầu thương về QUÊ mẹ / Tết xa nhà buồn bã nhớ QUÊ cha”, bị lặp từ QUÊ và cùng thanh bằng trong mỗi vế. Nếu chỉnh lại ĐẤT MẸ thì đối chuẩn hơn.
Hoặc câu: “Niên hữu tứ thời xuân VI thủ / Nhân sinh bách hạnh hiếu VI tiên”. Câu đối gốc vốn là "xuân TẠI thủ"
Nhìn chung, ngoài những câu đối của các nhà nho, nhà thơ nổi tiếng, vẫn còn một số câu đối còn chưa chỉnh về từ loại, về ý, về thanh, … tôi sưu tầm và tải lên để thư giản trong những ngày cuối năm. Chúc quý bạn có nhiều niềm vui nhé!

                                                           La Thụy sưu tầm và biên tập

BÂY GIỜ ĐÃ HẾT TẾT - Trần Vấn Lệ



Bây giờ... đã hết Tết!  Lịch in Mồng Bảy rồi.  Lạnh vẫn còn nguyên thôi nhưng trời thì ảm đạm...
 
Yêu hay không màu xám vẫn chấp nhận thời gian... Bóng ngày tháng đang sang, mai... mùa Xuân sẽ thấy!
 
Vài cánh lá động đậy.  Vài giọt sương đang rơi.  Nắng chắc còn xa xôi.  Tôi tin:  Ngày sẽ mới...
 
*
Nói thế, tôi không đợi:  Tôi có việc trong ngày!  Người cũng như cỏ cây, Phật nói:  Chúng Sinh hết!
 
Biết là đã hết tuyết.  Biết là Đông rồi Xuân... Có thể bão nửa chừng từ đại dương, có thể!
 
Bài thơ tôi, như thế, mỗi ngày một ngày qua...
 
*
Ngoài đường, vài người qua.  Vài người đi ngược lại.  Hello, trai hay gái, thấy nhau Good Morning!
 
Nước Mỹ thật thân tình... Tôi nghĩ đến bè bạn.  Năm mươi năm phân tán... dễ gì được thấy nhau?
 
Tôi nhớ... nhớ ca dao, vài câu sao thắm thiết!  "Nụ Tầm Xuân Còn Ra Cánh Biếc Em Có chồng Rồi Anh Tiếc Lắm Thay...".
 
Năm mươi năm... năm nay, đuôi đâu Hai Thế Kỷ.  Hai trăm năm lệ thủy... mút mùa áo cà sa...
 
Đời là chốn ta bà!  Chúng sinh đều cát bụi!  Đời của tôi xám, tối... ảo huyền một bình minh!
 
                                                                                       Trần Vấn Lệ

KHỐI TÌNH LẬN ĐẬN CỦA CHÀNG TRAI TRONG THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN – Dương Ninh Ninh



1.    
Tôi không quen Đặng Xuân Xuyến và cũng chưa một lần được tiếp xúc với anh mà chỉ gần đây mới biết tên anh khi tôi đọc trên mạng bài thơ “Quê Nghèo” cùng hai bài bình của nhà thơ Chử Văn Long ở Hà Nội và bác Nguyễn Bàng, nhà giáo nghỉ hưu ở Sài Gòn. Bài thơ Quê Nghèo của Đặng Xuân Xuyến đã hay lại thêm hai bài bình của hai vị cao niên rất có tâm và xứng tầm bút lực thâm sâu khiến tôi tìm đến Trang Đặng Xuân Xuyến để đọc thêm thơ anh. Và tôi thật bất ngờ, chủ nhân trang nhà là một người đa tài: một doanh nhân, một bàn phím thơ văn sung sức và một tinh thông tử vi lý số cùng văn hóa tín ngưỡng và tôn giáo. Nhưng chỉ là một người thích đọc thơ, không đủ kiến văn về các lĩnh vực khác nên tôi chỉ dừng chân bên vườn thơ của Đặng Xuân Xuyến và tôi lại nhận ra, vườn thơ ấy không nhiều những cây lá như “Quê Nghèo” mà lại có vẻ xum xuê đài nụ thơ tình.  
 

MẸ LÀ XUÂN, HƯƠNG TẾT, HOA CỎ TÌNH XUÂN – Thơ Tịnh Bình


   


MẸ LÀ XUÂN...
 
Từ trong cổ tích bước ra
Vẫn là cô Tấm hiền hòa đấy thôi
Từ trong giấc ngủ đầu nôi
Giấc mơ thơ bé mẹ tôi dịu dàng
 
Ca dao ngày cũ vương mang
Cái cò cõng bóng xuân sang ngậm ngùi
Tảo tần héo hắt xuân tươi
Mẹ ngồi mặc cả nụ cười gió đông
 
Quanh năm buôn bán long đong
Đàn con thơ dại gánh gồng nặng vai
Nghe như tiếng gió thở dài
Mùa xuân của mẹ lạc ngoài xa xăm
 
Rẽ trời mùa én về thăm
Vui con chim hót một năm mới về
Bao la đất mẹ tình quê
Buộc vào nỗi nhớ triền đê cánh diều
 
Tháng Ba hoa gạo thắp chiều
Dáng quen bậu cửa đăm chiêu mẹ ngồi
Mẹ là xuân của riêng tôi
Bà tiên ông Bụt tinh khôi khoảng trời...
 

QUAN TÁI 關塞 – Theo Chiết tự chữ Hán



Truyện Kiều có câu:
 
Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
Một màu quan tái mấy mùa gió trăng.

QUAN TÁI là gì?
QUAN : Tức nơi cửa ải.
TÁI : Vùng đất xa xôi, ngoài biên giới.
QUAN TÁI là cửa ải đóng ở vùng biên giới xa xôi.
Nghĩa bóng: Chỉ sự xa xôi cách trở.
 
                                                                    Theo Chiết tự chữ Hán

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2025

NHẠC SĨ LÊ UYÊN PHƯƠNG: VẪN CÒN TÌNH KHÚC CHO EM – Đàng Sa Long

 

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương vĩnh biệt dương gian ở tuổi 58, vào ngày 29/6/1999. Một phần tư thế kỷ vắng bóng nhạc sĩ Lê Uyên Phương trên cõi đời, nhưng những sáng tác của ông như "Dạ khúc cho tình nhân", "Lời gọi chân mây", "Hãy ngồi xuống đây", "Vũng lầy của chúng ta", "Tình khúc cho em"... tiếp tục chinh phục giới mộ điệu. Đặc biệt, gắn liền với những tác phẩm Lê Uyên Phương chính là mối tình của ông với ca sĩ Lê Uyên.
 

TA VỚI NGƯỜI, MẦN THƠ, QUẢ (NHÂN), QUAY LƯNG, QUÊN VỀ, NỢ ÁO NỢ CƠM, SỐ CON RỆP, TƠ TẰM NHỆN - Thơ Chu Vương Miện


   


TA VỚI NGƯỜI
 
người thỉnh cho ta bông hồng nhỏ
chưa tiện quăng đi cầm nơi tay ?
độ rầy tháng 6 con nước cạn
thuyền bơi lam lũ bãi kinh lầy
nửa đuờng đành đoạn ôi quá dị
hoa hoét buổi giờ chỉ lấm tay
quăng đi bất tiện cầm quá ngặt
sáo trâu sáo sậu trộn loạn bầy ?
ta đang hấp hối nhưng chưa thoát
vô tình nhìn mãi gió đùa mây
lá vàng lẫn đỏ bay như sếu
mà ta xỉn mãi chặn cơn say
ta chả trách gì ? người không lỗi
đò bao nhiêu bến cặp tự do
ta đây cũng chỉ qua một bận
quá giang gặp lỡ một chuyến đò
đến đó ngừng chân rồi đi tiếp
theo giòng sông cạn đá lô nhô
mơi sau có ghé qua cửa tả
nhìn hoa tím ngắt rặng sầu đâu
 

BUỒN THAY NĂM NÀO CŨNG TẾT - Trần Vấn Lệ



Hôm nay không còn Ngày Tết, mứt, trà, kẹo, bánh... đều Sale!
Cô bé bán hàng cười tươi:  Mời anh, mời chị...ăn Tết!
 
Có người dừng chân... ngó miết - ngó cô con gái Bắc Kỳ!
Có người ngún nguẩy bỏ đi:  chỗ nào cũng Quân Giải Phóng!
 
Siêu Thị ở Mỹ thật rộng, nhiều người rộng lượng còn hơn!
"Ít gì cô ấy Việt Nam...Cái Tình Đồng Bào Trên Hết".
 
Hỏi thăm:  "Em qua Du Lịch, kết hợp bán Tết một tuần, ba tuần làm khách tha hương, ngắm nghía vui buồn Đất Khách!".
 
Nghe cô bé đáp thật thích -  Tết mà... không giận hờn đâu!
... nên có người dừng khá lâu, nên có người mua vài thứ...
 
Tôi mua chút Tình Lịch Sử.  Cô cầm lên trao và hôn.
Tôi cảm ơn cô. Quê Hương!  Tôi cảm ơn buồn bay mất...
 
*
Lịch Sử buồn tay ngồi lật... thấy vài giọt nước mắt khô!
Thôi mà... Chuyện gì cũng mơ!  Mơ hoài biết bao giờ tỉnh?
 
Tôi còn treo kia... áo Lính... bạc màu năm mươi năm chăng?
Tôi hỏi, không còn cố nhân... buồn thay Năm-Nào-Cũng-Tết!
 
                                                                                  Trần Vấn Lệ

NGẪU HỨNG ĐẦU XUÂN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến


   


Gió Ngây Ngô
 
Nửa đêm em rủ đi dạo phố
Nại gió cạn Đông quẩn đến rồ
Mỉm cười, khẽ nhủ: sao mà ngộ
Nửa đêm gió lại quẩn ngây ngô...
 
Hà Nội, 04:23 Mồng 2 Tết Ất Tỵ
(Tức 30 tháng 01 năm 2025)
 
 
Em Đến Chơi Nhà
 
Em đến chơi nhà, mắt như hoa
Mang theo câu ví gửi làm quà
Miệng cười chúm chím, duyên duyên lạ
Em dán mùa Xuân thắm cả nhà!
 
Hà Nội, 12:28 Mồng 2 Tết Ất Tỵ
(Tức 30 tháng 01 năm 2025)
 
 
Ngẩn Ngơ Hội Làng
 
Gặp em giữa hội thành làng
Yếm đào dải thắm mơ màng nắng Xuân
Ờ kìa...
Gió cứ tần ngần
Dập dềnh để nắng quện chân
níu người
Em cười
 
bẽn lẽn mà tươi
Nắng xuân thèn thẹn
cho người ngẩn ngơ...
 
Hà Nội, 18:30 Mồng 2 Tết Ất Tỵ
(Tức 30 tháng 01 năm 2025)
 
                     Đặng Xuân Xuyến

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

NỮ HOÀNG CLEOPATRA THÍCH ĂN DƯA KIỆU? – Trần Công Khanh


Kiệu nhà làm. Ảnh: OISHI NIPPON

"Tung tích" của món dưa kiệu trên thế giới nghi ngờ có từ thời nữ hoàng Cleopatra, ở Việt Nam có từ thời Hùng Vương.

Cleopatra, vị nữ hoàng xinh đẹp của xứ Ai Cập, người tình của J. Cesar, danh tướng La Mã, nổi tiếng thích ăn dưa muối. Nhưng lịch sử không nói dưa gì. Tôi ngờ rằng là dưa kiệu…
 
Những cây họ hành - những thứ thực vật ăn được - được phát hiện lâu đời nhất ở những vùng núi non Trung Á, trong đó dĩ nhiên có củ kiệu. Từ đó chúng lan truyền đi khắp thế giới. Hai nước có củ kiệu từ rất xửa xưa được sử sách nhắc tới là Ai Cập và Trung Quốc.
 
Dưa kiệu có từ bao giờ
 
Loài người biết làm dưa muối từ thời thượng cổ. Cách đây lối 9.000 năm, trước khi có sử chép bằng văn tự. Theo Jan Davison (tác giả sách Pickles, a Global History), Trung Hoa có quyền tuyên bố chính đáng là nơi khai sinh ra dưa muối, dựa trên các ký tự của họ. Những tác giả khác cho rằng nơi dưa muối "tu oa" chào đời là từ Lưỡng Hà giang. Luồng ý kiến này thật đáng ngờ, vì sau đó chúng có xu hướng "dĩ Âu vi trung".
 
Riêng BS Lê Văn Lân (nhà nghiên cứu phong tục Việt Nam) lại đặt vấn đề cần nêu ra để rộng đường tham khảo: "Tại sao gọi là dưa? Dưa không phải chỉ trái dưa mà chỉ phương pháp 'muối dưa'. Phải chăng từ 'dưa' của tiếng Việt đã sinh ra chữ 'Trư' của chữ Nho . Viết với bộ 'thảo' là rau cỏ , ở bên dưới có hình cái vại chứa nước (thủy) , tức là bỏ rau vào cái vại đựng nước".
 

CON DÂU CỦA VUA GỌI LÀ GÌ ? Theo KiếnThứcThúVị



Xưa nay đa phần chúng ta đều biết vợ của vua gọi là hoàng hậu, con trai vua gọi là hoàng tử, con gái của vua gọi là công chúa, con rể của vua gọi là phò mã nhưng con dâu của vua thì có lẽ ít người biết được gọi là gì.
 
Đây cũng là việc khá dễ hiểu. Trước đây các triều đại quân chủ phong kiến của ta cũng như Trung Hoa đều có quan niệm trọng nam khinh nữ. Phụ nữ thường sinh hoạt trong nhà, lo công việc nội trợ, sinh nuôi con cái, không được đi học,… hầu như họ không đóng một vai trò xã hội gì khiến họ ít được đề cập đến trong sinh hoạt xã hội. Vậy nên ngay cả khi họ là dâu của nhà vua, gọi họ là gì cũng ít được sách vở đề cập.

Con dâu của vua gọi là hoàng tức (皇媳).
Hoàng là một thành tố chỉ những gì thuộc về nhà vua, liên quan đến vua.
Tức là dạng tắt của tức phụ đã trở nên thông dụng, có nghĩa là con dâu.

Con rể của vua vốn được gọi là hoàng tế (皇婿, tế là rể). Từ đời Nguỵ, đời Tấn, chàng rể được phong làm làm phụ mã đô uý, gọi tắt là phụ mã, âm xưa là phò mã. Đây là một chức quan chuyên trách chuyện ngựa xe cho nhà vua, anh chàng hoàng tế được cái tên phò mã là nhờ ở chức này

Hoàng tức là tên gọi chung của dâu nhà vua. Chúng ta còn gặp từ ‘tức’ này trong thuật tử vi với cung ‘tử tức’ nói về con và dâu.
 
                                                                                          Sưu tầm
Theo KiếnThứcThúVị

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

VŨ ĐINH (武丁), THIÊN ẤT (天乙) – Tranh dân gian Đông Hồ, Ung Chu

Chuyên mục nhằm thuyết minh các kí tự Hán và Nôm trên các tác phẩm tranh dân gian Việt Nam, giúp người Việt Nam hiện đại cảm thụ rõ hơn nội dung các bức tranh này. Tranh dân gian là các di sản Hán - Nôm có giá trị, có sức sống bền bỉ và độ tiếp cận rộng rãi trong dân chúng.


"Vũ Đinh" và "Thiên Ất" là cặp tranh Đông Hồ vẽ môn thần (thần giữ cửa), dùng để trấn giữ trừ tà.

VŨ ĐINH (tranh bên trái)
THIÊN ẤT (tranh bên phải)

Thiên Ất 天乙 tức là Thành Thang 成湯 - người sáng lập nhà Thương  trong lịch sử Trung Hoa, nên còn gọi là Thương Thang 商湯.

Vũ Đinh 武丁 là vị vua hơn 20 đời sau của nhà Thương  (có tài liệu ghi thứ 21, 22 hoặc 23), tương truyền là con trai của vị vua 1 đời trước đó là Tiểu Ất 小乙

Tiểu Ất nối ngôi người anh của mình là Tiểu Tân 小辛, Tiểu Tân nối ngôi người anh của mình là Bàn Canh 盘庚, Bàn Canh nối ngôi người anh của mình là Dương Giáp 陽甲...

Có thể thấy, các thuỵ hiệu của vua nhà Thương (và vợ của họ) trong sử sách Trung Hoa có chứa tên các can ("giáp - ất - bính - đinh - mậu - kỉ - canh - tân - nhâm - quý" 甲乙丙丁戊己庚辛壬癸), gắn với 10 ngày trong tuần ("tuần"  xưa 10 ngày, về sau do ảnh hưởng của Ki-tô giáo đi lễ vào các ngày Chúa nhật [Chủ nhật] nên đổi sang "tuần lễ" 7 ngày). Nghi thức cúng tế các vị vua này diễn ra vào ngày ứng với tên can trong thuỵ hiệu.

Vị vua cuối cùng của nhà Thương là Đế Tân 帝辛 con của vua Đế Ất 帝乙. Tương truyền, Chu Vũ Vương 周武王 (người sáng lập nhà Chu ) đã gọi Đế Tân là Trụ Vương 紂王 nghĩa là vị vua tàn ác bạo ngược. Theo truyền thuyết, vợ của Đế Tân là Đát Kỉ 妲己 (họ tính Kỉ  và họ thị Hữu Tô 有蘇) vốn là hồ li tinh hoá thành.
 
                                                                                              Ung Chu

NGÀY XUÂN LAN MAN CHUYỆN MAI: NHẤT CHI MAI (NGỰ SỬ MAI) – Nguyễn Xuân Diện


🌿 Ảnh Nhất Chi Mai ở phòng khách, 8h sáng Mùng 3 Tết Ất Tỵ (31.1.2025).
                      Bức thư pháp treo bên cạnh là hai câu thơ của Lưu Hành Giản: 
                      Ngã thường phẩm Giang mai - Chân chính hoa quân tử 
                      (Ta thường bình phẩm hoa mai ở Giang Nam - Thật đúng là quan Ngự sử các loài hoa). 
                      Nét bút tài hoa của Ân Xuyên Nguyễn Quang Thắng (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

*
Hỡi khéo thay Mai!
Danh xưng Ngự sử truyền thanh bạch
Thoả chí nam nhi chiếm bảng xuân.
 
Đó là 3 câu thơ trong bài NON MAI, lời bài hát cổ nhất của Ca trù, tương truyền do Đức Tổ Ca trù Mãn Đường Hoa Công Chúa làm để ca ngợi tưởng nhớ chồng. Năm 2001, tôi may mắn tìm được hai văn bản chép bài Non mai trong sách Ca trù thể cách (AB.564) và Ca trù tạp lục (VHv. 2940) tại kho sách cổ Viện Nghiên cứu Hán Nôm.