BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI GIÁP THÌN 2024 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC BÀI BÌNH THƠ "THUYỀN THEO BẾN LẠ" - Nguyên Lạc


         
                         Nhà bình thơ Nguyên Lạc


VÀI SUY NGHĨ
KHI ĐỌC BÀI BÌNH THƠ "THUYỀN THEO BẾN LẠ"

Lời nói đầu:
Bài viết nầy viết ra với tấm lòng yêu thương thơ văn cùng với niềm trân trọng sự chính xác và trong sáng của tiếng Việt thân yêu. Chủ ý của tác giả chỉ góp ý, đưa ra vài suy nghĩ hoàn toàn chủ quan về tính đẹp, tính chính xác của thơ văn chứ không có ý gợi ra sự tranh luận, sự đúng sai. Mong các bạn hiểu cho - Nguyên Lạc

*
TRÍCH ĐOẠN BÀI THƠ VÀ LỜI BÌNH THƠ

Bài bình thơ "Thuyền Neo Bến Lạ" của nhà thơ kiêm nhà bình luận Đặng Xuân Xuyến được đăng trên trang nhà anh và rất nhiều trang Web trong cũng như ngoài nước. Nó là Top Hít và được các fans anh "hít hà" khen thưởng. Thấy vậy tôi tò mò tìm đọc và xin ghi ra đây vài suy nghĩ chủ quan của riêng tôi.

Trích đoạn thơ:

Xin trích ra đây khổ thơ thứ hai của bài thơ được nhà bình luận Đặng Xuân Xuyến bình [1]

Thật rồi... vẫn ngỡ là mơ
Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng...
Gừng cay, muối mặn xát lòng
Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng...
                                    (Phúc Toản)

Lời bình thơ:

Đây là lời bình của nhà binh luận Đặng Xuân Xuyến:

[... Tôi thích khổ thơ thứ hai, khổ thơ gây nhiều ấn tượng với tôi.
Cách chuyển nhịp từ 2/4 (tiết tấu chậm) ở câu lục: "Thật rồi... vẫn ngỡ là mơ", sang nhịp 2/3/1/2 (tiết tấu nhanh) ở câu bát: "Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng...", đã khéo léo đặt tâm trạng của nhân vật "tôi" cùng (lúc) rơi vào nhiều cung bậc tình cảm. Với cách ngắt nhịp đặc biệt ở câu bát như thế, nhà thơ Phúc Toản đã thành công trong việc miêu tả nội tâm của chàng trai khi được tin người yêu lấy chồng chỉ trong một câu thơ. Từ tâm trạng còn nhiều ngờ vực, bán tín bán nghi: "Lấy chồng", chuyển sang tâm trạng sững sờ, buộc phải chua chát mà tin: "Em lấy chồng", và đẩy nỗi niềm đắng cay dâng tiếp lên cao bằng câu thảng thốt: "Ơ", biểu hiện của tâm trạng bất lực, rồi buông thõng bằng câu xác tín: "Lấy chồng..." của tâm trạng thất vọng, chán chường.

Tôi nghĩ, đấy là câu thơ độc đáo, đã giúp bài thơ sáng lên.
Không than vãn, kế nể, không nặng lời trách móc khi người yêu theo "thuyền neo bến lạ", nhà thơ Phúc Toản đã gói ghém tất cả sự trách giận, nỗi xót xa của chàng trai vào 2 câu thơ:

"Gừng cay, muối mặn xát lòng
Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng ..."

Chính sự kiệm lời ấy càng làm nỗi đau nhân đôi.
Tôi nghĩ, ở câu thơ: "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng...", dù nhà thơ Phúc Toản chỉ nói về nỗi đau đang cứa vào trái tim của riêng "anh" thì người đọc vẫn cứ liên tưởng, vẫn cứ hình dung đấy là nỗi đau đã lan tỏa, đã xâm chiếm cả không gian ngày "em" làm lễ Vu Quy. Nỗi đau ấy không chỉ bào xót trái tim chàng trai mà còn làm rức buốt trái tim cô gái - người đang cử hành hôn lễ với một người đàn ông xa lạ.
Vâng. Câu thơ: "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..." đã đích thực chỉ ra là vậy....][1]

VÀI QUAN NIỆM CẦN CHO NGƯỜI BÌNH LUẬN

Trưỡc khi vào phần góp ý về lời bình, tôi xin được ghi ra đây vài ý kiến chủ quan riêng về bình luận (phê bình). Vì là chủ quan nên chắc không hoàn toàn chính xác, xin các bạn góp ý. (Những ý này cũng đã ghi ra trong các bài trước, các bạn nào đã đọc có thể bỏ qua):

-- Người bình thơ nên học hỏi biết thêm căn bản về "Văn học sử", vài thủ pháp về thơ, biết sơ lược về cách "phân tích ngôn ngữ" cần thiết cho sự bình thơ... Nếu chỉ bình theo cảm tính thì bài phê bình không chính xác, đầy tính chủ quan và có nhiều khi vô tình gây ảnh hưởng tiêu cực đến bài /sách thơ được bình.

– Người bình thơ không nên đóng “hòm” trước rồi chặt chân xác chết cho vừa cái “hòm”. Có nghĩa là đừng đưa ra tiêu chí chủ quan riêng mình rồi ép bài thơ, bài văn được bình phải hợp theo.

-- Hãy thật lòng mình, đừng bẻ cong ngòi bút vì tư dục̣ (tư dục̣ này bao gồm tình tiền danh nể vì, sợ .v.v…)

-- Bình luận tự nghĩa nó là nêu ra ưu điểm và khuyết điểm. Ở đời đâu có gì tuyệt đối 100% ưu, là hay chỉ trừ các bậc thánh nhân. Phải thẩm định kỹ, đừng vội vàng "hít hà" khen thưởng. Nên nhớ, khen “quá lố” có khi làm hại người được khen.

-- Đừng "hòa quá nhiều nước lã vào mực.” (Modern poets mix too much water with their ink – Goethe) Nghĩa là phải chân thật, phải lương thiện.

Người bình luận nên nhớ lại “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán:

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu…

-- Theo chủ quan, tôi nghĩ câu chuyện này cần cho nhà bình luận:

"Nhà thơ Jacque Prévert đi vào câu lạc bộ bình thơ của Pháp tại Paris. Gặp lúc các nhà bình thơ đem thơ ông ra mổ xẻ đủ loại, đủ điều nhưng chả có ai chú ý đến một người vô danh mới vào và chăm chú theo dõi cuộc bình thơ. Hết cuộc bình thơ, người khách lạ bước lên sân khấu bắt tay các diễn giả và nói rằng: "Xin chân thành cảm ơn tất cả các ngài đã đem thơ tôi bình luận. Thật sự tôi chưa bao giờ biết rằng tôi đã có những ý nghĩ lạ lùng cao xa ấy trong thơ mình và tôi cũng không ngờ thơ tôi lại hay như vậy. Cảm ơn các ngài. Nói xong, người khách lặng lẽ bước ra. Người khách lạ ấy chính là Jacque Prévert."

Qua trên là vài ý nghĩ của tôi về thơ và phê bình, giờ mời các bạn vào phần chính của bài viết.


VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC BÀI BÌNH THƠ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

1. Câu bình đạt

-- Cách chuyển nhịp từ 2/4 (tiết tấu chậm) ở câu lục: "Thật rồi... vẫn ngỡ là mơ", sang nhịp 2/3/1/2 (tiết tấu nhanh) ở câu bát: "Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng...", đã khéo léo đặt tâm trạng của nhân vật "tôi" cùng (lúc) rơi vào nhiều cung bậc tình cảm. Với cách ngắt nhịp đặc biệt ở câu bát như thế, nhà thơ Phúc Toản đã thành công trong việc miêu tả nội tâm của chàng trai khi được tin người yêu lấy chồng chỉ trong một câu thơ...(Đặng Xuân Xuyến)

Trước bài thơ này, Nguyễn Bính có bài thơ “Không đề”

Hôm nay dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau.
Anh đi đấy, anh về đâu?
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm...

Tuyệt vời nhất là 2 câu cuối, tôi xin xét từng câu:

- "Anh đi đấy, anh về đâu?"
Người con gái băn khoăn tự hỏi “Anh đi đấy, anh về đâu?” Sáu chữ mà gợi ra hai tâm sự ngổn ngang. “Anh đi đấy” là câu hỏi thảng thốt. “Anh về đâu?” là câu hỏi ngậm ngùi.

- "Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm..."

Câu cuối này là "đỉnh" và nó có liên hệ đến câu thơ đang bàn của nhà thơ Phúc Toản.
Chiếc thuyền rời bến, từ từ đi xa. Rồi chiếc thuyền cũng khuất. Chỉ còn cánh buồm chập chờn, nhấp nhô theo sóng, lung linh, xa xăm rồi mờ nhạt hẳn.
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm...

Câu thơ 8 chữ này ngắt thành ba nhịp (Cánh buồm nâu / cánh buồm nâu / cánh buồm...): Cánh buồm nâu dâng cao theo sóng trào, rồi mất bóng theo sóng hụp/ Cánh buồm lại xuất hiện rồi mất bóng/ cánh buồm đã đi xa không còn còn thấy màu sắc nữa (chữ “nâu” ở nhịp cuối biến mất). Ta thấy rõ ràng hình ảnh những con sóng nhấp nhô đưa đẩy con thuyền. Trong câu thơ vần, nhạc ̣(nghe như tiếng sóng) họa (hình dạng nhấp nhô chiếc thuyền theo sống từ từ đi xa...) đầy đủ.

- So sánh 2 câu thơ

So sánh 2 câu thơ sau bạn nghĩ sao?

Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng...
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm...

Câu thơ Phúc Toản ngắt thành bốn nhịp: Lấy chồng!/ Em lấy chồng!/ Ơ! / Lấy chồng... Nhịp 3 chữ Ơ (chữ tán thán) dùng không chính xác: Chữ Ơ này có chắc "biểu hiện tâm trạng bất lực" như Đặng Xuân Xuyến nói không? Theo tôi nghĩ là không. Nhà bình luận nghĩ sao với câu này: - Ơ anh nầy! Ơ chị kia! Làm gì đó? Nó có "biểu hiện tâm trạng bất lực" tâm trang buồn thảm không?

Theo tôi, ở đây phải dùng chữ ƠI hay ÔI để tán thán sự buồn mới đúng : Ơi (ôi) em!/ ơi (ôi) anh! chúng ta đành phải xa nhau rồi.v.v... Buồn, bất lực là hai chữ này.

Chắc có lẻ nhà bình luận hiểu chữ Ơ rộng nghĩa hơn tôi!

Tuy câu thơ bị khuyết điểm nhỏ này, nó cũng tạm coi là đạt.
So sánh 2 câu thơ, điều chắc chắn là câu của Nguyễn Bính nhiều nhạc tính và họa tính hơn. Cùng phương cách, người sau làm sao hơn người trước thì mới tuyệt: "Sóng sau dồn sóng trước".

2. Những câu bình chưa đạt

[Không than vãn, kế nể, không nặng lời trách móc khi người yêu theo "thuyền neo bến lạ", nhà thơ Phúc Toản đã gói ghém tất cả sự trách giận, nỗi xót xa của chàng trai vào 2 câu thơ:

"Gừng cay, muối mặn xát lòng
Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng ..."

Chính sự kiệm lời ấy càng làm nỗi đau nhân đôi.] [Đặng Xuân Xuyến]

a. "Gừng cay, muối mặn xát lòng"

Câu thơ này có chính xác ở trường hợp này không?
Xin mời nhà bình thơ đọc trích đoạn này:

[...Như đã nói trên, quan hôn tang tế không thể nào không có rượu. Nhất là ngày "loan phụng hòa minh" và đêm "động phòng hoa chúc"

Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say...

Với tục lệ Việt Nam cổ truyền thì lễ động phòng cần có: Chỉ đỏ hoặc chỉ ngũ sắc gọi là dây tơ hồng, đĩa muối với dăm lát gừng tươi, chai rượu Hồng Đào đính kèm một chiếc chung. Chú rể buộc tơ hồng vào cổ tay nàng dâu và ngược lại. Rót đầy chung rượu, chàng uống nửa, nàng uống nửa. Xong, cùng lấy gừng chấm muối mà nhai, đôi lứa vừa hít hà, vừa dìu dặt ngâm nga:

Tay bưng đĩa muối chấm gừng,
Tình nồng nghĩa mặn xin đừng bỏ nhau
(Rượu Hồng Đào: Quảng Nam song hỷ tửu - Phanxipăng)[2]

Ở đây chàng trai và cô gái "động phòng, hợp cẩn" lúc nào mà nhai muối/ gừng xát lòng? Nhà bình thơ có chú ý đến điều này không?

b. "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..."

Theo chủ quan tôi câu này có vấn đề ở hai điểm:

- Hai chữ ở cùng một câu (Nỗi) là điều các nhà thơ nổi tiếng khuyên nên tránh.

- "Nỗi mừng"? Người yêu vu qui đi lấy chồng mà mừng? Cũng lạ?
Nhà bình luận, bạn đã nói đây là cuộc hôn nhân "không tình yêu", vậy thì cả 2 đều phải buồn chứ làm sao mà có chữ "mừng" ở đây? Nếu nói "mừng" thì không thật lòng, không đúng cảm xúc của hai người yêu nhau.

- Nếu "mừng" này ở chàng trai thì câu này có nghĩa là chàng vừa buồn vì tiếc và vừa "mừng" vi "tống khứ" cô gái được phải không? Tình yêu chân thật?

- Nếu "mừng" này ở cô gái thì sự "không chân thật" trong tình yêu càng rõ ràng. Cô gái thoát nợ!

Nhà binh thơ có thể nói (hay đoán) "nỗi mừng" là ngoài mặt của cô gái, còn trong lòng thì buồn. Làm sao biết được trong lòng của người khác?

Trong câu thơ, nếu một vài chữ có thể gây ra sự suy nghĩ tiêu cực của độc giả thì nên tránh đừng dùng, phải dùng chữ có nghĩa chính xác. Đừng chủ quan theo ý mình, nên dự phòng những vấn đề rắc rối có thể sảy ra.

Theo tôi (xin nói chỉ là chủ quan) phải thay chữ nào khác phù hợp với ý tứ bài thơ để giải quyết các vấn đề nêu trên:

Thí dụ như dùng chữ bâng khuâng ta giải quyết được điệp từ và chuyện rắc rối lẫn lộn giữa buồn/mừng nêu trên. Lúc này câu thơ sẽ như thế này:

Bâng khuâng cứ nhói vào trong nỗi buồn...

Đây chỉ là thí dụ gợi ý, quyền là ở tác giả bài thơ, ông là người "sáng tạo"

Để tránh việc người khác (trong đó có thể có nhà bình thơ) cho rằng sự thay thế chữ khiến "lợn lành thành lợn què", tôi sẽ phân tích chữ "nỗi" và chữ "niềm" cho rõ ý.

PHÂN TÍCH CHỮ

Người ta thường nói

-- "Nỗi" lòng chứ không "niềm" lòng: Nỗi lòng người đi vân vân...
"Nỗi" sầu chứ không "niềm" sầu: Nỗi sầu trong lòng vân vân...
Tương tự, "nỗi" buồn chứ không nói "niềm buồn": Nỗi buồn kẻ tha hương vân vân...

Với nỗi sầu, nỗi buồn của một người, người khác chưa chắc biết vì đôi khi người đó không muốn biểu lộ ra hoặc cố tình tỏ ra vui vẻ trên mặt: "Cười là dòng lệ rơi trong lòng".

Điều này có nghĩa là chữ "nỗi" diễn tả những gì bên trong lòng, riêng tư của người.

-- Về chữ "mừng" và "vui"

Người ta nói "nỗi" mừng chứ không nói "niềm" mừng, nhưng bù lại có thể nói "niềm" vui. Chữ vui có thể dùng với cả hai: Nỗi và niềm.
Thử nhận xét nỗi mừng và nỗi vui:

Thí dụ:
. Nỗi mừng hay nỗi vui của một người khi trúng giải độc đắc, người khác có khi không nhận được vì người trúng giải cố tình không cho mừng vui lộ ra ngoài, vì sợ đánh cướp.

. Người ta nói "niềm vui tái ngộ, niềm vui thống nhất" chứ ít ai nói "nỗi vui tái ngộ, nỗi vui thống nhất" vì lúc này cảm xúc dạt dào tuôn trào ra ngoài, biểu hiện ra ngoài.

Qua những nhận xét trên, ta đi đến kết luận: "Nỗi" diễn tả bên trong (lòng) và "niềm" diễn tả, hiện ra bên ngoài. Bên trong lòng thì chỉ riêng ta biết chứ người khác không thể nào biết được.

Đem điều nầy áp dụng vào câu: "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng ..." ta nhận xét rằng nỗi buồn và nỗi mừng này phải ở cùng trong lòng của chàng trai. Nếu nói "nỗi mừng" là của cô gái thì "trong lòng cô gái đã mừng". Cả hai trường hợp câu thơ đều có vấn đề: Chàng trai vừa buồn vì tiếc vừa mừng vì tống khứ được cô gái, hoặc là cô gái trong lòng mừng vì thoát nạn. Còn như muốn nói theo lời phê bình của nhà bình luận: "Cô gái tỏ vẻ vui ở ngoài mặt nhưng buồn trong lòng" thì phải thay thế cụm từ "nỗi mừng" bằng "niềm vui": Chàng trai xót xa vì thấy niềm vui biểu hiện ra trên gương mặt cô gái. Điều này không thể vì niêm luật. Vậy phải tìm cum từ nào thích hợp về vần và ý chứ không thể nào ép nghĩa, bắt người đọc phải hiểu theo chủ quan mình.

Tóm lại, còn có cụm từ "nỗi mừng" là bài thơ còn có vấn đề, phải thay thế nó bằng cụm từ nào đó thích hợp với ý tứ bài thơ để dự phòng những rắc rối ngoài ý muốn xảy ra như tôi đã nói trên.

LỜI KẾT

Lâu lắm rồi, tôi thường gặp câu nầy: "Dưới ánh sáng..." "Nhờ ơn..." gì gì đó...tác giả mới viết được bài này... Và những lời "hít hà" khen các bài văn thơ của của những người ve cổ áo veston trước ngực có logo "quốc huy sao vàng" (cấp lãnh đạo). Ai mà dám nói thật, ai mà dám chê trong thời này? Vì sợ, vì muốn lấy lòng để được hưởng chút "ơn mưa móc". (Về vụ "sợ" hình như nhà văn Tô Hoài đã có lần thừa nhận, nếu tôi nhớ không lầm)

Nhưng bây giờ là thời khác, không thể làm giống thế được, phải "lương thiện" với lòng, phải "chính danh" là trí thức là nhà bình luận . Nhà bình luận nên nhớ lại “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán đã nhắc ở trên.

Một nhà thơ đã viết:

Ta tìm ta bắt, trong thơ...
Những con sâu chữ, lơ mơ "ra rìa"
                            (Hà Nguyên Du)

Đúng, phải tìm bắt sâu chữ: Trong vườn hoa nghệ thuật, văn thơ, người bình luận giống như người làm vườn, phải chăm sóc vung trồng và tìm bắt những con sâu để cho cây hoa tươi tốt, nở ra những những nụ hoa đầy hương sắc cho đời.

Trên trang nhà Đặng Xuân Xuyến, nhìn kỷ thấy trên ngực (cổ áo Veston cà - vạt) của nhà thơ Phúc Toản có logo "quốc huy sao vàng"[1].

Hãy trân trọng gìn giữ tiếng nước ta. Tiếng Việt mà bị tiêu diệt thì dân tộc Việt sẽ tự nhiên biến mất y như Học giả Phạm Quỳnh đã từng nhận xét. Hãy bảo về sự trong sáng của tiếng Việt. Nên cẩn trọng về tính chính xác của nó nếu không sẽ dẫn đến "văn nạn" "bút máu" mà tôi đã đề cập trong bài viết "VĂN NẠN VÀ TÍNH CHÍNH XÁC CỦA NGÔN NGỮ(3)

Mời đọc trích đoạn:

[... Chữ viết chắt lọc từ tiếng nói. Văn và nhất là thơ là tinh túy của CHỮ. Nên cẩn trọng với CHỮ NGHĨA. CHỮ quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc làm tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án Minh sử triều Thanh đã làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ Minh mà Kim Dung đã viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đỉnh Ký sao? Vụ án của Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc (giết ba họ) do sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ văn nạn. Và cuối cùng với hàng chữ "Kim loại màu vàng" mà "ai đó" ghi khi kiểm kê vàng của người dân miền Nam trong đợt "cải tạo tư sản" 1976.
VĂN NẠN (cũng được gọi là ÁN VĂN), nói nôm na là những vụ án liên quan đến chữ nghĩa, văn chương, văn nghệ... Có khi nạn nhân chết chỉ do một chữ chứ không cần cả bài, cả tập. Chết mà không biết mình vì sao bị chết...]

Đừng như hai ngài Giáo sư Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại và Phó giáo sư Phó tiến sĩ Bùi Hiền, những người mắc bệnh VĨ CUỒNG (mégalomanie, megalomania) muốn làm mai một nó.
Trân trọng!

                                                                                         Nguyên Lạc
.................
[1] Vài suy nghĩ khi đọc "THUYỀN THEO BẾN LẠ" - Đặng Xuân Xuyến
http://dangxuanxuyen.blogspot.com/…/vai-suy-nghi-khi-oc-thu…
http://vannghequangtri.blogspot.com/…/vai-suy-nghi-khi-oc-t…
[2] Rượu Hồng Đào: Quảng Nam song hỷ tửu - Phanxipăng
https://phanxipang.wordpress.com/…/ruou-hong-dao-quang-nam…/
[3] VĂN NẠN VÀ TÍNH CHÍNH XÁC CỦA NGÔN NGỮ
http://www.art2all.net/…/nguyenlac_vannanvatinhchinhxaccuan…

3 nhận xét:

Vũ Nho Ninh Bình nói...

Tôi nghĩ cảm nhận bài thơ tùy tạng của mỗi người. Mọi cảm nhận đều được tôn trọng, dù cảm nhận đó khác với mình. Bác Nguyên Lạc có lẽ cũng không nên "quan trọng hóa" vấn đề, đặc biệt là cách viết có vẻ "dạy dỗ" người khác ( dù rằng bác đã tự rào đón rằng đấy là những gì chủ quan) và bác đẩy cái chuyện "chữ nghĩa" đi quá xa, có vẻ như hù dọa người bàn về chữ nghĩa! Thật tình việc phân biệt giữa "nỗi và "niềm" của bác cũng rất võ đoán, chẳng có căn cứ nào để nói rằng "nỗi" thiên về bên trong còn "niềm" thiên về bên ngoài ("Nỗi" diễn tả bên trong (lòng) và "niềm" diễn tả, hiện ra bên ngoài). "Niềm ao ước" là sự ao ước thầm kín, ai mà biết! Tóm lại là bác cũng chưa thuyết phục được mọi người. Vậy thì tốt hơn cả là thân ái, khiêm nhường, không dạy dỗ, không đao to, búa lớn, sự phân tích tinh tế, chính xác tự nó sẽ THUYẾT PHỤC. Mấy lời cảm nghĩ mộc mạc gửi tới bác mong được đồng cảm! Chúc bác vui, khỏe!

Nguyên Lạc nói...

Kính thưa ông Vũ Nho, Kính thưa giáo sư, ̣(tôi đoán vậy vì lời lẽ rất lịch sử và văn minh trong cách phản hồi). tôi xin trả lời (chính vi lời lẽ rất lịch sử này mà tôi trả lời).
Trước hết tôi xin nói rõ về quan niệm sống của tôi trước để GS không lạ về cách viết của tôi: Tôi không sợ người ta ghét nhưng rất sợ người ta KHINH vì không lương thiện với lòng
Giờ tôi xin trả lời từng điểm
--Tôi nghĩ cảm nhận bài thơ tùy tạng của mỗi người. Mọi cảm nhận đều được tôn trọng, dù cảm nhận đó khác với mình - VN
GS nói đúng, nhưng với điều kiện là "lương thiện" với lòng, đừng "áo thụng vái nhau" hoặc gì gì đó
-- đặc biệt là cách viết có vẻ "dạy dỗ" người khác - VN
Như GS đã biết, tôi đã nói là chủ quán và chủ quan thì chưa hoàn toàn chính xác. Tôi luôn luôn lắng nghe các phản hồi, nhất là phản hồi "không đồng thuận" để sửa đổi,
Xin lỗi những lời trong bài này "hơi mạnh" vì chú ý tôi trả lời sự cố tình mượn lời người khác để tấn công cá nhân tôi trước bằng "văn hóa đường phố" . GS có đọc bài "7 Chuyện Tưng Tửng " của Đ XX chưa, thưa GS?
-- Tôi sẵn sàng "rửa tai" lắng nghe những lời phản hồi, nhất là những lời "không đồng thuận" để học hỏi và sửa đổi, vì ai mà không chủ quan, không lầm lẫn. Nhưng với điều kiện những lời này phải công tâm, phải xây dựng, lịch sự, kính ngữ và không sân si, phát xuất từ những NGƯỜI (tính NGƯỜI trội hơn tính CON trong hai chữ CON NGƯỜI). Tôi sẵn sàng đáp lại những CON (tính CON trội hơn tính NGƯỜI). Ném một trái banh vào bức tường thì trái banh dội lại, ném sân si vào tường đời thì sân si cũng sẽ dội lại giống vậy, mạnh nhẹ tuy sức ném.
--Thật tình việc phân biệt giữa "nỗi và "niềm" của bác cũng rất võ đoán, chẳng có căn cứ nào để nói rằng "nỗi" thiên về bên trong còn "niềm" thiên về bên ngoài ("Nỗi" diễn tả bên trong (lòng) và "niềm" diễn tả, hiện ra bên ngoài). "Niềm ao ước" là sự ao ước thầm kín, ai mà biết! - VN
Thưa GS, đó là tôi đã học về hai chữ "nỗi" và"niềm" ở trường học "cũ" lúc trước và thấy đa số là như vậy. Tuy nhiên cũng có những ngoại lệ, những thiểu số, đâu có điều gì hoàn toàn 100%
"Niềm ao ước" (thường thì tôi thấy viết đầy đủ là nỗi niềm ao ước) đúng như giáo sư nói, nó thầm kín bên trong. Nó chính là nhóm thiểu số. Tuy nhiên, nếu GS nói rằng tôi võ đoán, có nghĩa là tôi sai, có nghĩa là "nỗi" không phải bên trong và "niềm" không phải bên ngoài thì tôi xin chịu thua, sẽ viết lại cho chính xác: Nỗi vui thống nhất.v.v..
Như GS xác tín, vậy thì lúc nầy chàng trai hiện ra nỗi buồn trên mặt (rơi lệ hoặc mặt sầu) và hiện ra nỗi mừng (miệng cười chẳng hạn). Câu thơ trên nên viết lại: "Niềm buồn cứ nhói vào trong Niềm mừng" để diễn tả tâm sự trong lòng, vì nếu "Nỗi buồn" thì nó hiện ra bên ngoài
Tôi xin phép nghiên cứu lại xem và sửa đổi
Kính chúc GS sức khỏe!

Nguyên Lạc

Vũ Nho Ninh Bình nói...

Kính bác Nguyên Lạc. Đầu năm rất vui được trao đổi với bác. Cảm nhận của tôi về bài viết của bác có thể chưa thật chính xác. Nhưng đó là "ấn tượng" của tôi khi đọc. Chúng ta bàn về văn thơ, bàn về chữ nghĩa là một công việc rất vui, rất thú vị mà cũng rất khó. Như các cụ nói "biển học mệnh mông", "ông bảy mươi học ông bảy mốt", nghĩa là mỗi người học suốt đời, càng học càng thấy nhưng hiểu biết của mình là ít ỏi. Tôi mong muốn những tranh luận về chữ nghĩa, học thuật cần có chính kiến, kiên định, nhưng lời lẽ mềm dẻo, nhã nhặn và tôn trọng người đối thoại với mình. Đánh giá, thẩm định chữ nghĩa là một công việc không đơn giản. Bác đã thấy rằng nỗi và niềm có sự khác biệt trong tiếng Việt. Và chúng ta đôi khi dùng từ ghép "nỗi niềm". Cụ Nguyễn Du dùng từ "nỗi" rất nhiều. Học giả Đào Duy Anh trong "Từ điển Truyện Kiều" giải thích về từ Nỗi : Tức là nông nỗi, chỉ trạng thái tâm tình. Ví dụ nỗi riêng, nỗi lòng . Từ Niềm thì học giả giải thích : Mối nghĩ riêng trong lòng. Với các ví dụ niềm tây, chạnh niềm. Vậy chứng tỏ Nỗi và Niềm đều là từ chỉ trạng thái BÊN TRONG. Có thể người ta dùng nhiều từ NỖI để diễn tả tình cảm bên trong, nhưng không có nghĩa là từ NIỀM không thể diễn tả trạng thái bên trong như từ NỖI. Tôi không muốn sửa thơ của bất cứ ai. Trao đổi lại với bác Nguyên Lạc chỉ để thấy rằng tiếng Việt của chúng ta rất giàu có, rất tinh tế! Chúc bác nhiều niềm vui và sức khỏe!