BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI MẬU TUẤT 2018 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

HỘI GÀ TRỐNG NUÔI NHAU - Đặng Kim Oanh


         

             HỘI GÀ TRỐNG NUÔI NHAU

Cãi nhau và li thân. Hay thay chữ li thân, vợ chồng chẳng phải, người dưng cũng không, ai cũng có quyền với ai và cũng chả làm gì được ai. Chán cái cảnh vào ra thấy nhau như thấy cột điện, lão Long đòi chia miếng đất ngoại ô, lên lên xuống xuống ngắm chán rồi cũng đành mua cái nhà gỗ, quyết tâm đi “trấn thủ lưu đồn” xa vùng chiến tranh. Vốn máu mê hội họa, gã bỏ công đì- dai một cái nhà hoàn toàn không giống ai. Tất cả đều ngẫu hứng. Cổng không cao, to, bề thế mà lãng mạn cọc tre, tường không xây, chỉ cắm gỗ khoảng cách vô chừng. Bên trong trồng rong riềng, khoai mỡ, khoai lang…Nhà càng lạ, rất ít tường, chỗ cần che thì lắp kính màu trà kéo rèm, không thì cứ thông thống, ai thích nhìn thì nhìn.
Thời gian chả bận bịu vợ con nên gã nhẩn nha làm nhà. Sai đâu sửa đấy, theo đúng tiêu chí “Quan có cần nhưng dân chưa vội”. Xóm này buồn cười là hầu như không có lớp trung lưu. Người nghèo không chen nổi vào thành phố lên đây từ mười mấy năm trước, mua đất rẻ như cho, chờ sổ đỏ theo kiểu năm ăn năm thua. Đại gia nhà cửa cao tầng đã chán giờ muốn có chỗ treo giò lan, lồng chim… lẻ tẻ lên, sau khi có con đường bê tông rất điệu khéo léo lượn qua xóm. Nhà gã mua từ dạo chưa có chủ quyền nên rộng đến non sào, gần sông, giữa vùng cây ăn trái, rất hợp với người dỗi hết cả làng.

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

CHÚ KHỈ CỘC ĐUÔI – Truyện ngắn của Văn Biển

Nguồn: 
https://vnthuquan.net/mobil/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n3nvnmnqn31n343tq83a3q3m3237nvn



Nhà văn Văn Biển tên thật là Phạm Văn Biển, sinh ngày 15/12/1930. Nguyên quán xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Nhà văn Văn Biển cũng là một trong những người sáng lập HNV Việt Nam.



Những tác phẩm chính viết cho thiếu nhi:
- Cô bê 20 xuất bản 1968
- Mười ngày làm khách xuất bản 1972
- Chú bé vô hình xuất bản 1996
- Từ không đến có xuất bản 1998
- Tập truyện ngắn Bé tuyết xuất bản 2001

Truyện CHÚ KHỈ CỘC ĐUÔI này trích trong tập truyện cùng tên "Chú khỉ cộc đuôi" được chọn lọc từ những truyện ngắn hay nhất của nhà văn Văn Biển, người được nhiều thế hệ thiếu nhi yêu mến nhờ những tác phẩm về kịch bản phim hoạt hình trong trẻo, hấp dẫn. Tập truyện gồm 5 câu chuyện nhỏ: Sự tích hoa nhài, Cuộc truy tìm thủ phạm, Chú khỉ cộc đuôi, ... Với lối viết giản dị, tập truyện mang lại cho người đọc những bài học nhẹ nhàng sâu sắc

            

                           CHÚ KHỈ CỘC ĐUÔI         
                                                           Văn Biển

Chú bé nổi bật trong đàn không phải chỉ nhờ cái đuôi cộc mà còn do sự nhanh trí, can đảm và nhất là tài bắt chước. Chính điều sau này đã gây nên nỗi bất hạnh trong đời chú.
Chú có cô bạn. Cô bé nhỏ nhắn xinh xinh, giải yếm trắng ở ngực. Khi cô bé ở trong đàn thì không lẫn vào đâu được. Đôi bạn như hình với bóng. Dầu là lúc họ dưới đất hay đu chuyền trên cành cao.
Các nương ngô đang mùa kết hạt. Suốt ngày bầy khỉ kéo tới phá phách. Chúng ăn một phá mười. Cộc đuôi thường dẫn đầu cả bọn. Cạnh chú lúc nào cũng có cô bé yếm trắng. Ăn chán chúng lại bày trò vui. Lúc thì Cộc đuôi giả làm bác gấu, đi hai chân, bước những bước lặc lè khệnh khạng, lúc chú đóng vai ông lão chống gậy khập khễnh từng bước một. Thật là vui nhộn.

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2018

CHỢ PHÂN VAI BÒ - Nguyễn Bàng


       
                     Tác giả Nguyễn Bàng


CHỢ PHÂN VAI BÒ

Hồi tôi còn học tiểu học ở trường làng, thằng Đa bạn cùng lớp và cùng xóm hay rủ tôi đi câu. Dạo ấy ao làng thường thả bèo phổng và bèo cái để lấy cái ăn cho lợn, chỉ vài nhà giàu có ao to mới thả cá, rào bờ ao và luôn canh chừng người câu trộm nên thằng Đa và tôi chỉ đến các ao người ta không cấm câu, tìm một bụi tre có bóng mát rồi rắc thính và thả dây câu. Ấy vậy mà, thằng Đa nổi tiếng sát cá, mới ngồi một lúc nó đã giật được năm bẩy con rô con riếc to bằng ba ngón tay trong ki tôi chỉ giật được hai ba con mài mại hay con cá cờ nhỏ xíu như cái lá tre. Vì vậy nhiều lần, khi ra về thằng Đa thương tình chia cho tôi mấy con rô, con riếc. U nó thấy nó đem giỏ cá về thì nhanh tay đỡ lấy rồi đổ cá ra chiếc chậu sành và tươi cười nói:
- Hôm nay nhà ta lại được ăn cơm với cá rồi
Nhưng thầy nó thì không hồ hởi như u nó. Ông nghiêm giọng bảo vợ:
- Bà chỉ làm hư con thôi. Cái ngón nghề câu cá ấy liệu có nuôi được nó cả đời không hay là sẽ như cổ nhân nói: “Bé đi câu, lớn đi hầu, già làm mõ”. Mà tôi nói cho mà biết, làm mõ cũng không đến lượt nó đâu, mỗi làng chỉ cần một thằng mõ thôi mà vợ chồng thằng mõ làng ta còn trẻ khoẻ lắm. Không chịu khó học hành thì chỉ còn một nước là đi làm phu đổ thùng cho nhà Năm Giệm.
Tôi nghe người lớn nói, dòng họ nhà thằng Đa là một dòng họ nhiều chữ nghĩa nhất làng, chưa có ông nghè nhưng đã có dăm bẩy ông cống từng làm đốc học hay làm quan. Đến đời ông nội nó vừa đậu xong tú tài thì đấy cũng là khoa thi nho học cuối cùng. Văn chương phú lục dở dang mà đường cày thì không biết, ông nội nó đọc sách rồi làm ông lang ở làng. Thầy nó được theo tân học nhưng vừa mới hết tiểu học thì bị ốm dai dẳng, thuốc thang của chính ông nó bốc cho uống mấy năm mới khoẻ lại nên việc học cũng đành bỏ dở rồi được ông nó truyền lại nghề làm thuốc. Nó lại là con trai duy nhất trong nhà năm chị em nên thầy nó quyết tâm sẽ cho nó học tới nơi tới chốn để mở mày mở mặt với dân làng.
Giờ nghe thầy nó bảo không chịu khó học hành thì chỉ còn một nước là đi làm phu đổ thùng cho nhà Năm Giệm. Tôi thật không hiểu phu đổ thùng là gì và nhà Năm Giệm là ai bèn về hỏi bà nội tôi. Bà tôi bảo:
- Là thầy nó nói những người chuyên lấy phân ở khu vực nội thành còn gọi là phu đổi thùng. Trong nội thành, hiện nay mới có một số ít hố xí máy tự hoại ở khu phố Tây, khu phố ta nhà nào cũng chỉ có chuồng xí thùng. Hàng đêm, phu vệ sinh đẩy xe bò đến các phố thay thùng lấy phân. Họ đập cửa  gọi đổi thùng, đổi thùng và nghe thấy tiếng là chủ nhà đang ngủ cũng phải dậy. Để át mùi, chủ nhà phải thắp vài nén hương rồi còn phải ngồi ngoài cửa trông nhà vì sợ kẻ gian lợi dụng lẻn vào ăn trộm đồ đạc. Nhiều nhà chuẩn bị sẵn mấy xu lẻ cho phu để họ không làm dây ra nhà. Việc đổi thùng diễn ra cũng nhanh vì phu chỉ lấy thùng đầy ra rồi đặt thùng không vào là xong. Phân thu  đưa về đê Đại La, ở đấy một phần đem chứa vào các bể xây chờ người đến mua, phần còn lại phu kéo thẳng đến các vùng trồng rau ngoại thành như Canh, Diễn, làng Vòng nhà mình hay làng Láng chuyên trồng rau húng.
Nhưng cháu đừng nghĩ phân là thứ thối tha bẩn thỉu. Nó là mối lợi lớn cho nhà thầu. Năm Giệm chính là ông chủ thầu phân đó. Năm Giệm ở quê ra, ban đầu làm công cho Sở Xe điện, sau đó chuyển sang làm đại lý gạch, ngói. Khá lên, ông ta bỏ tiền mua đất ở đầu phố Giảng Võ, khi đó khu vực này còn là ruộng xen lẫn hồ ao, nhà dân rất thưa thớt lập Xí nghiệp Vệ sinh với hàng loạt ngôi nhà lợp tôn là chỗ chứa xe và thùng lấy phân. Xí nghiệp có một bãi rộng, bên trong có những bể xây lớn dùng để chứa phân. Hồ đầm chung quanh có nhiều nước, công nhân vệ sinh rửa thùng ở đấy. Năm Giệm còn làm nhà cho công nhân thuê ở tập trung ở đầu đường Đại La, chỉ là nhà tranh, nhà tôn lụp xụp, chật hẹp nhưng chật kín người ở. Phu ngày càng đông nên nhà cứ làm thêm ra mãi, hồ, đầm bị thu hẹp dần, rác rưởi thành phố hàng ngày xe đến đổ ở đây. Ông ta còn được nhà nước hỗ trợ cho cảnh sát cấm người ngoại thành vào mua hoặc lấy trộm phân trong các phố, phạt nặng những người gánh phân đi trong phố với lý do bảo vệ vệ sinh chung.
Tuy thế, nhiều người ở một số làng vùng ven vẫn làm công việc lấy phân. Cứ gà gáy canh một là họ mang theo quang gánh và chiếc móng sắt hình chóp, có cái cán tre chừng hơn 1m, rủ nhau vào phố lấy phân ở các nhà vệ sinh công cộng hay những nhà không ký hợp đồng với chủ thầu. Họ thường đi lúc nửa đêm để tránh bị cảnh sát bắt. Họ lấy phân về để bón cho rau màu nhà họ và để bán cho các hộ dân khác. Trên con đường nhựa từ Cầu giấy về làng ta, ở quãng Vai  Bò có hẳn một cái chợ phân họp từ mờ sáng đến khi rõ mặt người m là tan, ai "ế" thì gánh về hôm sau quẩy ra bán tiếp. Ấy vậy mà họ bảo,  làm nghề lấy phân còn nhàn hơn nghề làm ruộng vì không phải suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời.
Tôi đem chuyện bà tôi nói kể cho thằng Đa nghe. Nó bảo:
- Thế mà nghe thầy tao nói cứ tưởng cái nghề đổ thùng không ai thèm làm. Xem ra muốn có một chân đi lấy phân cũng đâu có dễ, mày nhỉ?
Rồi nó nói:
- Tao cũng thấy u tao bảo có cái chợ phân ở Vai Bò mà chưa biết mặt mũi nó ra sao. Hay là hôm nào tao với mày đi chợ phân chơi?
- Bà tao bảo chợ họp từ mờ sáng đến khi có ánh mặt trời là tan, sớm thế đi làm sao được?
- Thì dậy từ gà gáy rồi đi.
Sáng hôm say, y hẹn thằng Đa chờ tôi ở đầu điếm canh của thôn rồi hai đứa đi ra đường cái và ngược lên Vai Bò. Nguyên khu rệ đường cái này ngày xưa người làng thường đem ra bán những cái ách dùng để khoác vào vai trâu bò để chúng kéo cày, vì thế mà gọi là chợ Vai bò. Về sau người ta mang đủ các thứ nông cụ như cày cuốc và cả đòn càn đòn gánh ra bán. Khi đường cái được trải nhựa thì chợ bán nông cụ bị cấm họp nhưng khi nghề lấy phân phát triển thì tự nhiên lại trở thành chợ mua bán phân, không ai cấm nữa.
Đây là chợ phân tươi, hoàn toàn không có phân ủ (phân chín) không có phân xanh (phân làm từ các loại lá cây) hay phân hoá học ở các cửa hàng phân bón ngày nay. Cũng rất ít có phân chuồng, tức là phân lợn, phân gà hay phân trâu bò. Tất cả đều là phân người, dân vùng ngoại thành quanh quê tôi gọi là phân bắc.
Chợ họp tại địa điểm có tên là Vai Bò ngay bên đường cái quan, chính giữa đoạn đường 1cây số từ ô Cầu Giấy về làng Vòng. Người dân làng Vòng từ xa xưa chủ yếu là cấy lúa trồng rau và hoa nổi tiếng với kinh thành là hoa lơ (Vòng Tiền và Vòng Trung), cải bắp và hoa huệ (Vòng Sở). Đặc biệt là ở Vòng Hậu có nghề làm cốm từ lâu đời, cốm Vòng được nhân dân đất thành Thăng Long và các vùng miền gần xa ưa chuộng. Nhưng những người bán phân tươi không phải người làng Vòng mà là người ở các làng khác có tập quán đi các nơi, nhất là vào nội thành lấy phân bắc đem về đây bán. Họ không phải là công nhân vệ sinh của nhà nước hay phu “đổi thùng” của nhà thầu Năm Giệm mà là người ở ngoại thành vào lấy trộm phân nên trên đường quẩy phân về chợ, họ thường bị công nhân vệ sinh bắt quang sọt hoặc bị cảnh binh phạt tiền khốn khổ lắm.
Lúc tôi và thằng Đa đến thì trời đã tờ mờ sáng nên chợ phân đang rất đông kẻ bán người mua. Mặc dù là chợ phân tươi nhưng không thấy ai bịt mũi bịt miệng mà khắp chợ ồn ào tiếng chào bán lẫn tiếng hỏi mua. Người bán phân kiếm một chỗ bên rệ đường rồi bầy những sọt phân ra và đứng chờ người mua Người mua phân dùng một cái gắp phân bằng cật tre, trông hơi giống một chiếc đũa cả sục sâu vào đáy sọt phân rồi rút ra, đưa lên mũi ngửi để xem phân tốt hay phân xấu. Có sọt phân bị chê là chua, có sọt bị chê là nát nhoét, không đậm. Người bán phân cũng dùng cái gắp ấy ngoáy sục lại vào đáy sọt phân rồi rút ra, đưa lên ngang tầm mũi mình và cả mũi người mua mà phân bua: “Phân ngon thế này mà còn chê à!”.
Bỗng ở cuối chợ nổi lên tiếng om sòm cãi chửi nhau. Tiếng một người đàn bà đi mua phân:
- Cứt mà còn làm giả thế này không sợ thất đức à?
Rồi tiếng một người đàn ông bán phân đáp lại:
- Giả đâu mà giả!
- Không giả thì là cái gì đây, nhìn xem cứt hay đất bùn nhuộm nghệ đem trộn vào? Người đâu mà tham lam thế!
- Sợ quẩy đi đường nó sóng sánh ra đường bẩn thỉu nên cho thêm tý đất bùn vào cho nó quện. Mua thì mua không mua thì đi chỗ khác cho người ta còn bán hàng, đừng có mà ám mãi.
- Á à, đuổi khách đi cơ đấy! Làng sống bằng nghề hót cứt, có đền thờ Thành Hoàng hẳn hoi. Đây đã tận mắt nhìn vào trong đền, thấy thờ đôi quang và chiếc đòn gánh cùng hai mảnh xương trâu, tất cả đều được sơn son thếp vàng. Làm ăn gian giối không sợ bị Thành Hoàng vật chết à?
Ở những chỗ người mua đã mặc cả xong giá, họ trút phân từ sọt của người bán phân sang sọt của mình, lòng sọt đã chít sơn ta nhưng đáy sọt vẫn lót thêm một lớp tro bếp cho nước phân không bị rò rỉ. Khi người mua đã gánh phân đi thì người bán đem sọt của mình xuống cái ao to ở bên đường rửa ráy. Không biết ao nhà ai nhưng bè muống họ thả trong ao dày đặc và tốt xanh um.
Thằng Đa nói như người lớn với tôi:
- Đúng là “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”. Rau muống nhà kia luộc lên ăn phải biết là đậm miệng, mày nhỉ? 
Lớn lên, tôi và thằng Đa đều đi khỏi làng kiếm sống. Tôi thì đi xuống miền biển làm nghề gõ đầu trẻ còn thằng Đa ra Hà Nội buôn bán thuốc bắc. Tuy hai nơi ở cách nhau có hơn trăm cây số nhưng do một thời tàu xe đi lại khó khăn, mất ngày mất buổi nên chúng tôi ít khi có dịp gặp lại nhau mà thỉnh thoảng chỉ thư từ thăm hỏi nhau, vẫn mày tao chí tớ như thời còn bé ở làng.
Một ngày, tôi đọc xong cuốn sách nửa hồi ký nửa tiểu thuyết Chiều Chiều của Tô Hoài, có đoạn nói về chuyện các chuyến đi thực tế của các nhà văn nhà thơ ở miền Bắc trước đây. Một trong những công việc chính của họ là đào hố phân rồi hằng ngày đi nhặt phân, từ phân người đến phân súc vật, về đổ vào các hố rồi nhặt lá cây bỏ vào, trộn đều, ủ lại cho chúng ngấu kết lại với nhau.
Theo lời kể của cụ Tô Hoài, mỗi buổi sáng, nhà thơ Phùng Quán ở trong xóm đi ra,“gánh đôi quang lồng một, hai thanh tre gắp phân đặt trên mặt sọt.” Một buổi chiều, gánh phân về, “Quán kể nông nỗi đi gắp phân như là đọc một mẩu chuyện trên báo. Các đường ngoắt ngoéo trong xóm trổ ra cổng đồng còn tối đất. Những con trâu con bò ra ruộng làm sớm, thói quen tự nhiên, tới rệ cỏ ven hào nước thì đứng lại ỉa. Đến khi sáng hẳn, trẻ con trong xóm mắt nhắm mắt mở lốc nhốc kéo ra ngồi bĩnh ở đấy. Hai thanh tre của Quán mở ra gắp lên sọt tuốt cả phân trâu phân người. Tìm ra những con đường phân này cũng chẳng phải tài giỏi riêng Quán, mà sáng nào cũng có người nhặt phân từ các ngõ xóm ra cổng đồng, đi muộn có khi hết.”.
Cũng ngày ấy, tôi vừa nén nỗi đau như bị xát muối vào lòng vì phải bỏ ra gần hai tháng lương để lắp cái điện thoại bàn cho mấy đứa con ở xa gọi về không phải chạy ra bưu điện gần nhà đăng ký để nghe chúng nó nói. Nhớ lại chuyện cùng thằng Đa đi chợ phân Vai Bò, tôi bèn buôn chuyện với nó qua chiếc điện thoại bàn đó, kể lại những điều cụ Tô Hoài viết cho nó nghe. Nó cười khằng khặc bên kia đầu sóng:
- Thì việc nhặt phân đã được ông Tố Hữu ca ngợi hết lời:
       Dọn tí phân rơi, nhặt từng ngọn lá.
       Mỗi hòn than, mẩu sắn, cân ngô.
       Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ!
Ông ấy ngồi ở nhà cao lộng gió, ăn của ngon vật lạ mua ở chợ Tôn Đản của vua quan rồi nhào lặn cho ra những vần thơ như thế chứ ông ấy có bao giờ dọn tí phân rơi nào đâu.
Ông ấy cũng đã từng ca ngợi Mao Trạch Đông:
       Một tia lửa  nhỏ
       Trong xóm Tương  Đàm
       Cháy lan  dần, đỏ khắp Hồ Nam
Và chính Mao Trạch Đông đã phát ngôn câu nói nổi tiếng khắp thế giới: “Trí thức không bằng cục phân.”
Rồi nó thôi cười và trầm giọng lại:
- May mà tao không nghe lời dạy của thầy tao, chăm chỉ học giỏi để trở thành trí thức. Nếu nghe lời cụ thì bây giờ tao cũng không bằng cục phân, mày nhỉ?!
Tôi toan tắt máy thì lại nghe tiếng thằng Đa nói tiếp:
- Mà này, mày đừng tự ái rồi chửi tao nhé! Vì nghe đâu cái nghề gõ đầu trẻ của mày cũng được coi là tiểu tư sản trí thức đấy!

     Sài Gòn, tháng 08.2018
     NGUYỄN BÀNG                                               
     Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn
     Email: bnguyen37@gmail.com

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2018

ĂN MÀY CỬA PHẬT - Thạch Đà


        
                                      Tác giả Thạch Đà

      ĂN MÀY CỬA PHẬT

      Hắn đã đến Ấn Độ. hắn chiêm bái những Phật tích, nơi Phật đản sinh, thành đạo và nhập Niết Bàn, trong màu áo tu sĩ, hắn nghĩ lại đời mình trôi qua như một giấc mơ, một kẻ cùng đường trong đời sống. Hắn đến với đạo Phật như một sự cứu rỗi về thể xác và tinh thần. Ấn Độ từ thời đức Phật khắc nghiệt giai cấp, mặc dù Phật tạo ra bình đẳng trong giaó lý và giáo đoàn của mình. Nhưng hôm nay Ấn Độ vẫn tràn đầy giai cấp, quá nhiều người nghèo khổ, áp bức, bất công. Sông Hằng vẫn chảy như một niềm tin bất diệt. Thế là hắn trở thành tu sĩ. Hắn đang đứng trên nơi khởi nguồn Phật giáo, một trong ba tôn giáo lớn nhất của nhân loại .
      Thời học trò hắn nổi danh như cồn vì những truyện ngắn và bài thơ đăng báo. Thời đó đăng thơ ở các trang văn nghệ Hà Nội và thành phố Là oách lắm ! Rồi hắn vào sinh viên học ở Huế  khoa Anh văn và Trung Văn

Thứ Năm, 12 tháng 7, 2018

CHÙM TRUYỆN CỰC NGẮN CỦA TRẦN MAI NGÂN


   
                           Tác giả Trần Mai Ngân 

BẾN
Bến. Nơi người đợi đò qua sông, nơi người hẹn chờ người. Tôi cũng đến ngồi đợi. Chiều. Bến vắng, tôi không qua sông. Về !

TRẢ LỜI
Nàng hỏi : Anh còn yêu em không.
Đáp: im lặng.
Có khi là còn và rất nhiều. Cũng có khi ngại nói ĐÃ HẾT!

BONG BÓNG
Bé cầm trên tay quả bóng màu hồng thật chặt. Gương mặt con bé rạng rỡ tươi cười trong hạnh phúc.
Vô tình, vuột tay... Quả bóng bay cao... cao... rồi mất hút.
Nó ngỡ ngàng quá, chưa kịp khóc !

CẦU VỒNG
Cuối chân trời xuất hiện một Cầu Vồng đủ màu sắc thật đẹp và lung linh.
Cô bé ngây ngô chạy đến , muốn chạm vào điều huyền diệu đó.
Đi mải miết, mải miết... Thì ra chỉ là đường chân trời không bao giờ tới. ANH !

                                                            Trần Mai Ngân
                                                                10-7-2018                    

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

BẠN NHẬU CŨ - Nguyễn Ngọc Tư





     BẠN NHẬU CŨ

Hắn chịu thiệt là mình mê chơi, ham vui, và vì thích chơi vui nên khoái nhậu. Còn gì buồn bằng việc phải về nhà sớm vào những buổi chiều cuối tuần dìu dịu nắng, gió nhẹ hiu hiu, phải ngồi một mình trong những buổi trưa trời mưa rả rích. Có gì vui bằng được ngồi trong một cái quán nào đó, hơi ồn ả, phức tạp một chút. Ở đó, mỗi người mang tới một màu sắc mùi vị, một tính cách khác nhau, đa dạng như cuộc đời tươi đẹp này. Họ có thể không có lý do gì rõ ràng hết, cũng có thể vì gặp người bạn cũ lưu lạc lâu rồi, một hợp đồng kinh tế mới ký, buồn do thất tình, vui vì mới cưới vợ xong… và niềm tự hào duy nhất của hắn khi ngoái nhìn lại nửa đời bia bọt là có lúc hắn đi quán chỉ vì nhớ cha, nhớ quá trời.

Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

ÔNG GIÀ BÁN VÉ SỐ - Lưu An




ÔNG GIÀ BÁN VÉ SỐ

Về hưu đã hơn một năm nay nhưng tôi vẫn chưa quen thuộc được lối sống nhàm chán của một người không có gì để làm. Cả ngày chỉ đi lên, đi xuống tìm những việc vớ va, vớ vẩn để làm hay đi thăm bạn bè, tán gẫu. Ngày nào cũng mua 2 hay 3 tờ báo đọc không còn một chữ, ngay cả những trang quảng cáo cũng không bỏ sót.

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

TÌNH MUỘN - Truyện ngắn của Lê Duy Đoàn


         
              Tác giả Lê Duy Đoàn

TÌNH MUỘN                   
(Lê Duy Đoàn chấp bút)

Chuyện hai người ấy nếu kể ra thì chẳng ai tin được. Ngay chính hai người cũng bàng hoàng bỡ ngỡ với chuyện tình của họ. Tình đến với họ như là điện xẹt, như là sét đánh ngang mày, thơ ngây mà nóng bỏng như trẻ thơ đùa với lửa . Ôi, chẳng có ngôn ngữ nào tả được “cú” này. Coup de foudre.
      Trời cuối thu dìu dịu, thả bộ về nhà sau một bữa tiệc gia đình thân mật ở nhà hàng gần nhà, Thúy Vy miên man suy nghĩ về người đàn ông mới gặp lần đầu trong bửa tiệc, rồi mĩm cười một mình vì răng mà lại nghĩ tới người ta nhiều như rứa. Đã nhiều năm qua từ ngày chồng nàng qua đời đột ngột vì một cơn đau tim bột phát không kịp đưa đền bịnh viện nàng chẳng hề mảy may nghĩ tưởng đến ai. Nàng sống khép kín hàng năm trời trầm lắng trong niềm đau mất mát và dửng dưng với bất kỳ người khác phái nào tỏ ra quan tâm đến nàng. Dặn lòng như thế nhưng nào dễ quên. Người chi mà lạ, người ta đang hát bài “Mùa thu không trở lại” của Phạm Trọng Cầu trên sân khấu, tự dưng không cầm cái micro sans fil lù lù xuất hiện đến bên cạnh Thúy Vy nhập vô hát bè đoạn coda ngọt xớt giống như hai người đã tập dượt với nhau ăn ý từ lâu rồi. Người nghe vỗ tay ào ào làm Vy thấy lúng túng mất tự nhiên vì quá bất ngờ nhưng cũng cố trấn tỉnh để hát cho xong bài hát. Vậy mà anh ta cũng tự nhiên khoác nhẹ vai nàng cúi chào điệu nghệ làm như hai người là một cặp đôi hát bè cùng nhau. Tiếng vỗ tay lại rộ lên lần nữa làm Vy ngượng chín người. Vội vàng trờ về bàn ngồi, nàng cứ phân vân không biết ai mà chơi trội rứa hè? Sự xuất hiện đầy ấn tượng như thế làm nàng xúc động và nghĩ ngợi lung lắm. 

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

CHUYỆN THẦY TRÒ QUA ĐƯỜNG GẶP NHAU - Hoàng Đằng

Mời đọc một truyện ngắn, thầy Hoàng Đằng gửi đến chúng tôi qua email
       
               
Thầy Hoàng Đằng, cựu giáo sư trường Trung Học Đông Hà và Nguyễn Hoàng, Quảng Trị trước 1975. Ảnh từ trang Hội ái hữu Công Lập Đông  Hà

             CHUYỆN THẦY TRÒ QUA ĐƯỜNG GẶP NHAU
                                                      (Truyện ngắn của LÃO GÀN)

Hôm ấy, Thắng đi Đà Nẵng, dự đám cưới đứa cháu gọi Thắng bằng cậu. Thắng diện bộ trang phục oách nhất: quần dài đen sẫm ống phủ lên đôi giày đen bóng, veston đen sẫm khoác lên áo sơ-mi trắng tinh, điểm thêm trước ngực chiếc cà-vạt đỏ tươi.
Đường xa gần 200 cây số. Gió thổi lồng lộng qua cửa xe mở hé, đầu tóc Thắng rối xù. Đến nơi, mới bước xuống xe, Thắng rút từ túi veston chiếc lược nhựa màu nâu. Nhìn vào kính chiếu hậu của chiếc xe vừa đậu, Thắng ngắm nghía mặt mày, nghiêng đầu qua về, chãi lại tóc.  
Bất chợt, trong kính, Thắng thấy một người đàn ông già đang cỡi chiếc xe đạp đèo hai giỏ than hầm hai bên porte-bagages – loại than thường dùng trong các thành phố để nấu nướng vào thời nhiên liệu khan hiếm.  

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

KIẾP TÌNH - Truyện ngắn của Đoàn Anh Kiệt


                        
                             Tác giả Đoàn Anh Kiệt
                   (con trai út của blogger Phu Đoan)


  KIẾP TÌNH
 (Thân tặng chị Quyên Đỗ, cho bài viết Ngày VALENTINE ĐẦY NƯỚC MẮT)

                                  Ngày xưa có anh Trương Chi 
                                  Người thì thậm xấu hát thì thậm hay  
                                                                         (Ca dao) 
             
Đêm khuya. Tiếng hát buồn cất lên da diết. Mảnh trăng ngầu đục soi mình dưới dòng sông như một cái đĩa tròn móp méo. Vắng lặng. Xóm chài nghèo ven sông thảng hoặc có đôi người còn thức, nghe tiếng ca buồn mà thở dài sườn sượt. Trương Chi ôm gối trên thuyền chờ kéo lưới, ánh mắt chàng long lanh giữa đêm trăng mờ. Không gian đặc quánh. Cách đây 7 năm, từ khi chàng tới đây, hầu như đêm trăng nào cũng vậy, chàng đều rong thuyền thả lưới. Vốn nghiệp chài lưới khuya thì phải yên phải lặng, nhưng giữa không gian này, chàng cảm thấy khó thở, cảm giác uất nghẹn cứ trào lên trong lòng, không cất tiếng ca thì chẳng thể nào vơi bớt.

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

TRĂNG KHUYẾT - Đoàn Anh Kiệt

Mời đọc bài viết của Đoàn Anh Kiệt - con trai út mình    


     

  Nguồn :    Trăng khuyết « doananhkiet
   http://doananhkiet.wordpress.com/2011/09/25/trang-khuy%E1%BA%BFt/



TRĂNG KHUYẾT

Đêm đã khuya. Vầng trăng khuyết cong cong treo lơ lửng trên mái nhà, chừng như với tay là có thể chạm tới.
Phải chăng ước mộng của đời người cũng giống thế? Cũng tưởng như vươn tay là có thể hái được mà vĩnh viễn chẳng bao giờ với tới

 —oOo—

Lưu Bình ngồi trong sân, một mình uống rượu, trong lòng trăm mối ngổn ngang. Hai năm trước, trong mái nhà tranh mỗi lần trăng khuyết chàng đều cùng Châu Long ngắm trăng thề ước. Giờ đây, nàng lại trở về nơi nàng đã ra đi. Lưu hận nàng chăng? Không! Sao có thể hận nàng? Nàng đã giúp chàng quá nhiều, cứu vớt đời chàng từ con sâu rượu thi đỗ trạng nguyên, lên chức tri phủ.
Chàng trách Dương Lễ sao? Không! Sao có thể trách y được? Y cam tâm tình nguyện đưa người thiếp chưa cưới tới cho chàng, giúp chàng ăn học, nuôi chí thành tài. Chàng mang ơn y còn chưa hết nữa là…
Nhưng… Sâu thẳm trong lòng phải chăng chàng không hận y, không hận Châu Long? Vì sao nuôi chí thành tài? Vì sao nằm gai nếm mật suốt chừng ấy năm? Có phải là để chứng tỏ cho tên bạn bội bạc thấy mình không phải là kẻ vô dụng hay không? Hay là vì chính bản thân mình? Vì vinh dự gia đình, dòng tộc?
Lưu biết rõ, động cơ khiến chàng phấn đấu, nuôi chí học hành hoàn  toàn chỉ có một, là nàng, là… Châu Long. Bạn bè bội bạc, chuyện đó Lưu sớm đã nhìn thấu rồi, đâu chỉ một mình Dương Lễ, hà huống đó chính là do y giả vờ làm vậy. Chí khí phấn đấu cho bản thân, cho gia đình sao? Lưu tự biết mình không quan tâm đến chuyện đó. Chàng vốn đã coi nhẹ bản thân, coi nhẹ những gì người đời xỉa xói.
Những lời thề ước, những cái ôm ghì đầy nhục cảm năm xưa lẽ nào chỉ là vì bổn phận do người chồng chưa cưới hay sao? Lưu không tin, nhưng lại không dám không tin. Suốt mấy năm đằng đẵng bên nhau, Lưu luôn kìm chế dục vọng của mình, một phần là vì nàng, một phần là sâu thẳm trong lòng chàng vẫn luôn có một cảm giác mơ hồ về một điều gì đó… Bất hạnh thay, điều chàng linh cảm lại là sự thật.
Trăng có lúc mờ tỏ tròn khuyết, người có khi bi hoan ly hợp… Sao lần thề ước nào cũng đều diễn ra vào đêm trăng khuyết? Sao đang vui mà mặt nàng lúc nào cũng thoáng chút sầu giăng?
Nhưng nghĩ để mà nghĩ, chứ Lưu có thể làm gì? Ngày ngày gặp bạn, gặp vợ bạn, người mà Lưu nghĩ sinh ra là để thuộc về mình tay trong tay với người bạn thân nhất, người ơn sâu nặng nhất, liệu Lưu có dám làm chuyện bất nghĩa hay không?
Đêm trăng khuyết, tiếng thở dài vang lên não ruột giữa trời khuya vắng…

 —oOo—

 Đã mấy hôm, Dương Lễ không gần gũi với người thiếp yêu của mình, cũng không gặp người huynh đệ Lưu Bình năm nào.
Chàng cảm giác có cái gì đó đổ vỡ, cụ thể là cái gì thì chàng lại không biết. Hay là không dám biết?
Năm xưa khi chàng vừa cưới vợ. Người vợ rất mực yêu những vần thơ của chàng, nàng ta từng nói:”Cuộc đời anh là một bài thơ.” Nhưng vài năm sau thì câu nói này lại trở thành câu mỉa mai cay độc:”Cuộc đời anh chỉ biết có thơ.” Chàng chán nản, buông xuôi, thi phú mà làm gì, tứ thư ngũ kinh mà làm gì? Cũng chẳng thể như thánh nhân nói “thư trung tự hữu hoàng kim ốc”, chẳng thể lo thân lập chí, tu thân tề gia bình thiên hạ được.
Đúng lúc đó, Châu Long xuất hiện. Nàng đã thổi luồng gió mới vào tâm hồn chàng, nàng đã tin tưởng chàng vô điều kiện.
Cũng đúng lúc đó, Lưu Bình đã xuất hiện, đã giúp đỡ, đã cưu mang chàng, giúp chàng có lại ý chí mà ngỡ như đã mất đi từ lâu.
Sau khi thi đỗ, Dương rước Châu Long về làm thiếp, đồng thời cũng nhờ nàng giúp đỡ Lưu Bình. Nàng ta cũng đã biết mọi chuyện, và đã làm một chuyện chàng không ngờ tới. Nàng một mực không động phòng với Dương mà quyết sẽ đến sống cùng Lưu Bình mấy năm nhưng vẫn giữ tuyết sạch giá trong.
Mấy năm không gặp nhưng hai người vẫn giữ liên lạc ngầm với nhau. Mối quan hệ “hai trong một” này chỉ mình Lưu Bình không biết. Và rồi kế hoạch của chàng đã thành công. Lưu đã thi đỗ trạng nguyên, Châu Long lại trở về bên chàng.
Thế nhưng… trong đêm hợp cẩn đầu tiên, chàng cảm thấy vẻ gượng ép của nàng, dù sau đó rõ ràng nàng vẫn giữ mình trong sạch, không hề có lỗi với chàng.
Có điều Dương lờ mờ cảm thấy tình bạn giữa mình và Lưu đã có gì đó khang khác, tình chồng vợ giữa chàng và Châu cũng có gì đó gượng gạo.
Lẽ nào…?
Dương không dám nghĩ tới! Tiếc thay, ý nghĩ đó như con ác quỷ cứ bám riết lấy chàng không buông.
Lấy được người đàn bà, đâu chỉ đơn thuần là thể xác, mà phải là trọn vẹn cả thể xác lẫn trái tim. Có người đàn ông nào chấp nhận trái tim của người vợ mình còn một góc khuất riêng dành cho người khác?
Dương Lễ nhìn ánh trăng khuyết dát vàng mái ngói ngơ ngẩn bần thần…

—oOo—

Châu Long buồn bã nhìn chăn gối lạnh lùng, mấy ngày nay nàng không gặp chồng, cũng không gặp… người đó.
Dương Lễ là người chồng tốt. Nàng hiểu điều đó. Đoạn tình cảm ngày nào với Lưu Bình chỉ là để giúp y mà thôi. Nàng cũng hiểu điều đó.
Nhưng sao nàng vẫn chua xót? Dương Lễ có thực sự yêu nàng hay không? Có người chồng nào lại đẩy vợ vào vòng tay bạn mình, dù có là bạn thân, dù là để giúp đỡ? Nhất là khi người đó nổi tiếng ăn chơi trác táng.
Nàng còn nhớ khi đó Dương từng nói với nàng con người Lưu Bình thực ra vốn là chính nhân quân tử, không bao giờ dùng vũ lực cưỡng ép ai, dù là khi xưa đang giàu có thế lực mạnh mẽ, Dương còn nói Dương rất tin nàng.
Vì vậy, nàng liền chứng minh cho Dương bằng cách quyết không động phòng. Nhưng thực ra Dương tin bạn hay Dương tin nàng nhiều hơn? Dương yêu bạn hơn hay yêu nàng nhiều hơn? Nếu yêu nàng sao lại sẵn sàng để nàng ngã vào vòng tay người khác? Đóng vai trò là người yêu lẽ nào không có lúc má tựa vai kề, không có những lời thề non hẹn biển sao? Lẽ nào Dương ngây thơ không biết? Lẽ nào Dương không hề ghen?
Và điều quan trọng nhất là liệu nàng có phải đã đóng kịch với Lưu Bình chăng? Trong tận sâu thẳm đáy lòng nàng cũng không thể biết rõ. Hay thực ra nàng không dám hỏi rõ lòng mình?
Lòng người đâu là gỗ đá, sao có thể vô tình? Kề cận mấy năm, nương tựa nhau mà sống, mà cố gắng. Đoạn ký ức đẹp đẽ đó sao dễ dàng quên được?

 —oOo—

Dưới vầng trăng khuyết, ba người khác nhau nhưng số phận gắn kết với nhau có cùng cảm giác như nhau. Chống chếnh, chơi vơi nhưng liệu có ai dám phá bỏ cảm giác chống chếnh, chơi vơi đó?
Lòng người như đáy biển, lặng yên mà sôi sục những sóng ngầm…

                                                                 Đoàn Anh Kiệt
                                                                Tháng 11. 2009
                                                (Viết tại Quy Nhơn, ngày gió lạnh)

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

YÊU NGƯỜI ĐẸP - Nguyễn Khắc Phước

                                                               Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước
                  

      Bà bán trứng báo với bà bán thịt rằng thầy Dương sắp cưới vợ, bà bán thịt liền chuyển tin mừng nóng sốt đó chị bán cá, và chỉ một vài phút sau, tất cả tiểu thương của chợ Xép, nơi thầy Dương thường đến mua hàng, đều biết tin. Ngay hôm sau thì đến bất cứ quán cà phê hay bún mắm nào cũng nghe người ta kháo nhau về chuyện thầy Dương sắp lấy vợ.
       Thầy Dương là ai mà có vẻ quan trọng vậy?
       Đó là một thầy giáo dạy môn sử ở một trường cấp hai trong thị xã. 
       Đa số thầy giáo dạy môn sử không được dạy thêm nên đời sống khó khăn, phải kiêm nhiệm thêm một nghề phụ như chạy xe ôm, thợ điện, thợ ống nước hoặc thợ may… Riêng thầy Dương nhờ gia đình ở ngoại ô có đất vườn khá rộng do ông bà để lại nên cả gia đình chuyên nghề trồng rau mang vào thị xã bán, do vậy, đời sống cũng tạm qua ngày. Cứ đi dạy về là thầy ra vườn tưới nước, nhổ cỏ, xịt thuốc… Công việc cũng không lấy gì vất vả lắm.
       Nhưng nếu chỉ như vậy thì có gì đặc biệt đâu mà người ta phải bàn tán về việc thầy lấy vợ?
       Chuyện này chưa biết kể từ đâu, có lẻ nên kể từ hồi thầy còn là học sinh trung học trong thị xã. 
       Người ta thường nói có tật có tài và sắp xếp họ theo dị tật: nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ sún. Tài đây thường chỉ là tài vặt: lém lỉnh, láu cá, ba xạo chớ chẳng phải tài học hành hay kinh doanh gì. Mà thầy Dương thì được hai đặc điểm là vừa lùn vừa hô. Vóc dáng thầy nhỏ thó, loắt choắt thấp bé, có lẻ hồi nhỏ thầy thiếu dinh dưỡng. Nói vậy mà không phải vậy. Thầy Dương không phải là người ba xạo, láu cá gì. Thầy cũng có tài, không phải những tài vặt trên mà tài làm thơ và tán gái. 
      Hồi còn học trung học thì thầy tán cô nữ sinh đẹp nhất trường mình rồi những hoa khôi trường khác. Khi đi học sư phạm, thầy tán cô sinh viên đẹp nhất trường sư phạm. Khi về thị xã dạy, thầy tán cô giáo đệp nhất trường mình. Khi đi học bồi dưỡng hè, thầy tán cô giáo đẹp nhất huyện rồi đến cô giáo đẹp nhất thị xã. Tiếp sau đó thầy tán những cô công nhân là người đẹp trong những nhà máy, xí nghiệp quanh thị xã. Không ở đâu có người đẹp mà thầy không đến tán, chỉ chừa có một phương là học sinh cũ của trường mình. 
      Cũng nên mở ngoặc đôi chút là hồi còn đi học thầy học toán tàm được nhưng khá môn văn. Thi vào bách khoa hỏng, hồi đó chưa có nguyện vọng hai, thầy được chuyển sang học sư phạm. Thầy xin học môn văn nhưng không được mà chỉ được chọn môn sử. Thầy chẳng thích môn sử chút nào nhưng đành phải chịu, nếu không thì về làm vườn trồng rau. Tốt nghiệp sư phạm, thầy được điều về thị xã quê nhà dạy học từ đó đến nay. Dù dạy môn sử nhưng thầy vẫn ham mê văn học. Thầy thường làm thơ và đề tài tương đối an toàn là sắc đẹp phụ nữ. Cứ gặp người đẹp là thầy làm thơ ca tụng, đôi khi xuất khẩu thành thơ ngay tại chỗ để tặng cô hàng cà phê hay chủ quán nhậu. Những dịp như vậy, thầy thường đọc to cho bạn bè thưởng thức, dù thơ thầy nghe lơ lớ câu chữ của Huy Cân hoặc Xuân Diệu nhưng rồi ai cũng vỗ tay khen vì không phải ai cũng thuộc nhiều thơ như thầy.
      Giỏi làm thơ tán gái như vậy nhưng không hiểu sao mãi đến năm bốn lăm tuổi thầy Dương vẫn phòng không chiếc bóng. Mấy bà tiểu thương trong chợ Xép gần nhà thầy đã quá quen với thầy vì thầy là khách hàng thường xuyên đi chợ mua thực phẩm. Có bà muốn gả con gái cho thầy nhưng sợ thầy chê con bà không được đẹp chớ không phải sợ tính thầy hâm hâm.
     Thầy giáo dạy sử và trồng rau để sinh sống thì làm gì có đủ tài chính để chu cấp cho những người đẹp hoặc hoa khôi có nhiều cơ may lấy chồng con nhà đại gia nên chẳng ai dại gì mà lấy một thầy giáo vừa xấu trai vừa không có gì khá giả như thầy. Đó là điều ai cũng hiểu, riêng thầy thì không. 
      Rồi tuổi thanh niên trôi qua nhanh chóng và thầy Dương hình như cũng không còn nghĩ đến chuyện vợ con nữa vì những phụ nữ đẹp vừa tuổi thầy để lấy làm vợ thì đã đi lấy chồng hết, chỉ còn ít cô ế chồng vì xấu. Mà xấu thì thầy không ưng.
      Tuy nhiên, số phận dường như định sẵn cho thầy và rốt cục lại lấy được một người đẹp thuộc đối tượng mà thầy tránh bấy lâu.
      Số là thế này. Trong một buổi họp phụ huynh học sinh, thầy Dương tình cờ hỏi một ông bố học sinh cô con gái của ông là Liễu bây giờ học hành ra sao. Liễu là học trò cũ của thầy và một thời là học sinh đẹp nhất của trường thầy. Ông bố nói thiệt đang sắp xếp cho Liễu lấy chồng nước ngoài vì gia đình ông rất khó khăn, cần kiếm chút tiền để trả nợ nần. Hỏi chuyện xã giao vậy thôi rồi quên chớ thầy không nghĩ ngợi gì.
     Vào thời gian ấy, người ta mở một con đường lớn ngay bên cạnh nhà thầy Dương, do đó, đất vườn của thầy trước đây chỉ là đất nông nghiệp rẻ tiền nay trở thành đất nền, giá cao gấp mấy trăm lần. Thầy thôi không trồng rau nữa mà chia đất vườn thành lô nền nhà để bán và thầy trở thành tỷ phú trong một thời gian ngắn. Có tiền rồi thầy xây nhà, sắm xe và lại nghĩ đến chuyện lấy vợ. Mặc dù đã lớn tuổi nhưng tiêu chuẩn vợ đẹp vẫn còn y nguyên. Thầy bỗng nhớ lại câu chuyện tình cờ giữa thầy và ông phụ huynh nọ có con gái đinh lấy chồng ngoại để kiếm tiền. Thầy tìm thăm Liễu. Những tin tức về những rủi ro mà phụ nữ lấy chồng nước ngoài có thể gặp phải được đăng nhan nhản trên báo nên đủ để thầy thuyết phục Liễu thôi nghĩ đến việc lẫy chồng nước ngoài. 
      Lần này thì có lẻ thầy không cần làm thơ vì tài sản của thầy đủ để người ta xiêu lòng. Không lâu sau đó, gia đình ông phụ huynh ấy đồng ý gả con gái mà trước đây từng là hoa khôi của trường thầy cho thầy, dĩ nhiên với sự đồng ý của con gái họ. Liễu ấy lúc đó chỉ trển hai mươi tuổi, nghĩa là trẻ hơn thầy hai lăm tuổi. 

      Ở cái tuổi đẹp nhất của người con gái, chắc chắn Liễu đã có người yêu. Chỉ cần điều tra đôi chút, thầy Dương biết Liểu đang yêu Hóa, một thanh niên trong thị xã. Là người có học, thầy tự nghĩ không nên hỏi han vợ về những chuyên riêng tư. Thế nhưng thầy không thể không buồn vì trong đêm động phòng hoa chúc, Liễu cứ kêu “Hóa, Hóa”, sáng ra thầy hỏi, Liễu nói “quá, quá’ chớ không phải “Hóa, Hóa”. (Giọng Quảng Nam khó phân biệt giữa “hóa” và “quá”). Thầy Dương bỏ qua vì biết Liễu còn trinh nguyên.
      Đến ngày Liễu sinh con thì thầy Dương quá thất vọng vì thằng bé chẳng giống thầy tí nào mà giống Hóa như tạc. Bạn bè đồng nghiệp của thầy đến thăm, có người nói chơi : Thằng con mầy giống ai mô chớ có giống mầy đâu! Nghĩ mình phải có bằng cớ khoa học chớ không vội vàng kết luận nên thầy lấy một mẫu tóc thằng bé đi xét nghiệm ADN,và kết luận hoàn toàn không như thầy nghĩ : thằng bé chính là con của thầy chớ không phải ai khác.
      Thầy cũng từng nghe những bà mẹ đang mang thai thường treo ảnh tài tử hay diễn viên trong nhà để con được đẹp trai hay xinh gái. Có thể vợ thầy chỉ lấy thầy vì tiền như lấy một anh chồng Đài Loan hay Hàn Quốc nào đó, còn con tim thì vẫn dành cho người yêu cũ, bằng chứng là khi đang ăn nằm với chồng vẫn kêu “Hóa, Hóa”.
       Là người có học đôi chút, thầy Dương tự hỏi mình có lỗi gì trong chuyện này. Gần hết thời trai trẻ ước mơ lấy được người đẹp, đến khi có người đẹp trong tay mới hay đó chỉ là các xác không hồn.
       Bao lâu rồi bỏ làm thơ, bây giờ có lẻ thầy bắt đầu trở lại, nhưng chắc chắn không làm thơ để tán gái.                                                                                                      Nguyễn Khắc Phước                                                                                                                                      9/2012

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

CHUYỆN XÓM NÚI

                       

                                                                                                            Tác giả: TRẦN DUỆ

         Không biết vùng đất nơi đây tên gọi là gì nhưng nó ở cách những thành phố lớn xa lắm ! Với con đường ngoằn ngoèo băng qua những cánh rừng cây cao vút, làm cho con người thấy mình quá bé nhỏ trước thiên nhiên. Những dãy núi hình vòng cung bao quanh vùng đất bằng phẳng và rộng lớn. Một con sông bắt nguồn từ các dòng suối chảy về và băng qua cánh đồng, tạo cho nơi đây trở thành vùng đất phì nhiêu, cây lá xanh tốt quanh năm. Chiều chiều, hơi đá từ các ngọn núi toả ra làm cho cái thung lũng này như chìm trong sương mù. Cảm giác lành lạnh và cảnh trí u uất đã tạo cho con người nơi đây sự trầm lắng và cam chịu.
         Nghe nói đã lâu lắm rồi, có một đoàn người đi tìm trầm. Họ đi suốt mấy tháng trời mà không tìm ra trầm. Họ tìm đường về xuôi bằng cách đi theo dòng chảy của các con suối. Đoàn người kéo nhau đi trong sự liêu xiêu, ngất ngưỡng và đói rét, bệnh hoạn. Họ xuống sông để tắm và cố gắng mò mẫm những con cá để ăn. Trong họ, ai cũng biết rằng muốn về đến nhà phải đi bộ nhiều ngày đường nữa. Tất cả nằm trên bờ sông để nhìn núi, nhìn trời. Lúc này họ mới nghĩ về chính thân phận của họ. Thật là khốn khổ cho kiếp người ngậm ngải tìm trầm ! Lúc nào trong họ cũng mong một sự đổi đời, bằng cách tìm được một cục trầm thật to để chấm dứt cái nghề khốn nạn này. Nhưng rồi cục gỗ thơm tho màu đen ấy đã cuốn hút gần hết tuổi thanh xuân của họ nơi chốn rừng sâu núi thẳm. Để rồi cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ. Lúc này họ đã biết chính con người của họ đã làm khổ cái thân xác của họ. Nếu trở về nhà thì lấy đâu ra tiền để trả nợ, trả lãi cho những nhà giàu đã cho họ vay tiền để trang trãi cho những chuyến đi rừng. Nếu không trả thì chắc chắn vợ con của họ phải ở đợ để gán nợ. Nếu đã ở đợ cho nhà giàu thì bản thân, vợ con của họ sẽ còn khổ hơn con chó nhà chủ. Nếu lên rừng trở lại để tìm cơ may cuối cùng thì cái đói, cái rét sẽ không buông tha họ và chắc chắn họ sẽ trở thành loại người rừng mà cha ông họ đã mắc phải.
         Vậy là cái xóm nhỏ nằm ven chân núi đã hình thành. Tất cả cùng nhau khai hoang vùng đất ven sông trước mặt nhà. Những cánh rừng đã lùi xa nơi họ ở, thay vào đó là những ruộng lúa xanh tốt. Dần dà trong xóm đã có tiếng khóc của trẻ con, tiếng chó sủa vào ban đêm, tiếng gà gáy sáng… Tất cả dù chưa nhiều nhưng cũng đủ để cho những con người sống ở đây đỡ thấy trống vắng hơn và thấy quý nơi họ đang sống.
         Ngay vụ thu hoạch đầu tiên, mọi người đã nghĩ ngay tới việc cất lên một ngôi nhà để làm nơi thờ cúng, tạ ơn thần linh của núi rừng đã phù hộ cho những con người sống nơi đây được trúng mùa. Đêm đêm trong ngôi nhà lợp tranh, vách nứa này vẫn được đốt lên đống lửa để những người đàn ông tụ tập lại với nhau. Họ kể cho nhau nghe về cuộc đời của mình cùng những kỷ niệm lúc còn ở dưới xuôi. Trong họ không có ai biết chữ cả ! Cuộc sống ở đây cứ vậy mà sinh sôi. Không ồn ào náo nhiệt. Không có ai mưu lợi cho riêng mình. Hầu như ai cũng đều sống bộc bạch với nhau.
         Có một buổi sáng, mọi người cùng thắc mắc bởi một chuyện lạ thường là trong xóm lại xuất hiện một vị thầy tu. Dù trên đầu đã không còn tóc, mặc áo cà sa, đi chân đất nhưng nhìn vóc dáng thanh mảnh và nước da trắng đã hiện rõ cho mọi người thấy rằng đây là một người giàu sang, quyền quý chứ không phải là một bậc chân tu. Có người thắc mắc là không thấy vị thầy tu đi vào nhưng lại có vị thầy tu từ nhà ông Năm đi ra. Ông Năm nói là thầy vào nhà hồi khuya. Ai cũng biết là ông Năm nói không thật. Ở đây mọi người đều biết đi một mình trong rừng vào ban đêm thì thì chẵng còn ai sống sót với lũ cọp beo. Ông Năm đưa vị thầy tu đến ở trong ngôi đình của xóm. Ban đêm nghe tiếng thầy đọc kinh, có người thắc mắc “ đã là thầy tu thì phải có chuông, có mõ, sao thầy lại không có ”. Hàng ngày thầy vẫn đi làm ruộng với mọi người. Nhìn cách làm ruộng của thầy không giống người làm ruộng thực thụ. Nếu có người thắc mắc thì ông Năm đều có cách biện hộ cho thầy. Vậy rồi mọi chuyện cũng qua đi, không ồn ào náo nhiệt như cái vốn có của nó.

         Vị thầy tu ít nói chuyện, sống âm thầm, lầm lũi trong ngôi đình. Ngôi đình được dọn dẹp sạch đẹp. Mọi người đều vừa lòng. Đêm khuya khi mọi người đã trở về ngôi nhà của mình thì trong đình lại vang lên tiếng đục gỗ lốc cốc. Mấy ngày sau mọi người mới biết thầy đang tạc tượng Phật. Khi tượng được đặt lên giữa ngôi đình, mọi người mới bàn tán. Người nói mặt Phật buồn quá. Người nói ốm quá. Nhưng ai cũng công nhận là mặt tượng không giống ông Phật ở dưới xuôi.

         Bức tượng được ngự trên tòa sen. Những cánh sen được đẻo gọt cẩn thận, nhưng muốn hiểu đó là một bông sen thì người nhìn phải tưởng tượng ra. Những cánh sen nhìn từ phía trước lại nhỏ hơn những cánh sen ở phía sau và cánh cao, cánh thấp không đều nhau, tạo nên một sự sắp xếp lộn xộn, trái ngược với những cánh sen mà thiên nhiên đã tạo ra. Đức Phật to khoảng đứa bé ba tuổi, ngồi kiết già, hai tay chắp lại phía trước ngực. Chiếc áo cà sa mặc chéo sang một bên, còn một bên để trần lộ rõ xương vai và từng dãy xương sườn biểu hiện sự khắc khổ, chịu đựng. Khuôn mặt Đức Phật nghiêm nghị, trầm tư, yên lắng… như một sự bằng lòng với ngoại cảnh. Người xem tượng khó hình dung được đức Phật có còn tóc hay không, bởi do những vết đẽo nham nhở tạo nên những đường gợn sóng không đều trên đầu tượng Phật. Mọi người đều biểu hiện sự thông cảm với điều kiện của thầy.
         Có tượng Phật, có thầy trụ trì, ngôi đình mặc nhiên trở thành ngôi chùa mà chính những người làm ra nó chưa bao giờ nghĩ tới. Đêm đêm mọi người đều nghe thầy đọc kinh. Nghe mãi thành thuộc. Ngày làm ruộng, đêm lên chùa đọc kinh, vậy là họ trở thành phật tử hồi nào không hay, không biết. Có người thắc mắc “ kinh nhà Phật thì nhiều, tại sao thầy chỉ thuộc kinh cầu an và cầu siêu ?. Nghe vậy có người trả lời “Sống thì  cầu an, chết thì cầu siêu chứ biết cầu gì cho nhiều ”. Tất cả  cười ồ lên trong không khí thoải mái, vô tư.
         Một hôm có một toán người tìm trầm, họ đến và ở lại chùa ăn chay, nằm đất ba ngày đêm. Khoảng hai tháng sau, họ đưa lên chùa một cái chuông đồng to bằng thùng gánh nước, nặng chừng hai người khiêng. Họ nói là nhờ Phật phù hộ mà họ tìm gặp một cục kỳ nam, cho nên họ tặng chùa để tạ lễ theo đúng lời khấn nguyện của họ. Mọi người vui vẻ nhận chiếc chuông. Không ai tham gia vào những câu chuyện sặc mùi tiền bạc của người đối diện.
         Tiếng chuông chùa làm cho cái xóm nhỏ vui hẳn lên. Núi rừng chung quanh, muông thú chung quanh dường như im lặng hơn mỗi khi tiếng chuông được cất lên. Buổi sáng khi mọi người đang ngủ say thì tiếng chuông được dóng lên từng hồi như giục giã, réo gọi, vậy là ai cũng thức dậy để chuẩn bị cho một ngày làm việc mới. Ngày tháng trôi qua, tiếng chuông vẫn đều đặn ngân vang, chính xác hơn tiếng gà gáy, trung thành như người lính đứng gác. Tiếng chuông vào ban đêm nghe khác hơn buổi sáng. Chỉ có những người sống nơi đây mới hiểu được điều đó.
         Năm tháng qua đi, chiến tranh qua đi. Mọi người ở đây đã làm hết sức mình để bảo vệ vùng quê mới của họ. Xóm núi năm xưa bây giờ đã thay đổi. Có chợ đông vui, đường sá thông thương, rừng chỉ còn ở trên núi. Ngôi chùa bằng gỗ, lợp tranh chỉ còn trong trí nhớ của những người lớn tuổi, thay vào đó là một ngôi chùa được xây dựng bề thế. Riêng vị sư già thì vẫn đầy bí ẩn và vẫn trầm tư như đang thả hồn vào một cõi xa vắng nào đó. Tiếng chuông vẫn được cất lên đều đặn. Khúc ngân của chuông vào mỗi buổi chiều như kéo dài hơn, nghe như một điệu nhạc trầm buồn. Dù không lý giải được nhưng ai cũng hiểu mỗi khi nghe thầy đánh chuông, lòng có buồn thì cũng thấy vui, lúc quá vui thì cũng làm cho lòng người như lắng lại.
Một hôm trong chùa xuất hiện một người phụ nữ có vóc dáng cao to, đầy đặn, trên người đeo nhiều nữ trang đắt tiền. Người phụ nữ khóc. Mặt thầy không biểu hiện một nét buồn vui nào cả. Thì ra người đàn bà đẹp và sang trọng này chính là con gái của thầy. Vậy là những điều bí ẩn đã được hé mở. Hồi ở dưới xuôi thầy đã có vợ và một người con gái. Vợ thầy là một người phụ nữ đẹp và lanh lợi. Gia đình thầy giàu có, ruộng đất rất nhiều. Nếu không có trí nhớ tốt thì không thể nhớ hết những người làm công trong nhà. Không có ai biết được thầy đã học hết lớp mấy, nhiều người chỉ nghe nói được rằng từ nhỏ đến lúc trưởng thành, thầy chỉ biết đi học. Rồi gia đình giàu sang, quyền quý đó thật sự tan nát kể từ khi người chồng tận mắt trông thấy vợ của mình đang nằm bên cạnh một người đàn ông khác. Lúc đó người chồng đã đã bộc lộ hết bản năng ích kỷ của người đàn ông. Vợ chết. Người chồng tìm lên rừng để gặp ông Năm là người đầy tớ lâu năm trong nhà của mình.
         Không hiểu sao từ hồi thầy trở về thành phố để thăm đứa con gái của mình thì tiếng chuông được đánh lên nghe khác hơn. Nó không còn ngân vang, kéo dài như để đưa hồn người nghe vào cõi sâu lắng của tâm linh, hay dẫn dắt, níu kéo sự tham dục trở về với nhân bản. Tiếng chuông nghe như đứt quãng từng hồi, có lúc lại hối thúc, dứt khoát như tiếng trống trận. Người con gái của thầy trở lại thăm và nói với thầy cùng các phật tử là xin được cúng dường cho chùa một tượng Phật to và một cái đại hồng chung để thay thế cho những cái đã cũ. Thầy im lặng. Có người nói: “ Thầy xem thường lòng tốt của đạo hữu”, người nói: “ Thầy không lo việc xây dựng chùa”.
         Đã hai đêm rồi không nghe tiếng chuông chùa được đánh lên. Đây là một điều không bình thường. Nhiều người chạy lên chùa tìm thầy. Khung cảnh chùa vẫn vắng lặng như mọi ngày. Thầy đang quỳ trước chánh điện, một tay xá phía trước ngực, một tay để tựa trên quyển kinh. Nhìn vết máu chạy dài từ miệng xuống và đông cứng lại trên trên chiếc áo cà sa, mọi người đều biết là không còn sống. Ông Năm ân hận là mấy hôm nay bị đau lưng nên ông không lên chùa. Đứa cháu gái sắp được chồng cưới  phải bỏ đi làm ruộng để thay ông làm các việc chẵng tính công ở chùa. Cô bé vừa khóc vừa kể “ Trưa, chiều con đều đưa cơm lên cho thầy và con vẫn thấy thầy quỳ như vậy. Con nghĩ là thầy bận xem kinh”. Có người hỏi lại “ Sao con không nhắc thầy ăn cơm”. Cô bé lau nước mắt “ Sợ thầy giật mình nên con không dám gọi”. Bây giờ thì ai cũng hiểu thầy đã đến sống và đi khỏi xóm núi này đều là sự lặng lẽ, khó hiểu…
         Nhiều người đến để tiễn thầy ra an nghỉ ở một góc rừng, nơi có những cây gỗ quý còn sót lại của thuở khai hoang. Riêng con gái của thầy thì không có mặt. Đúng là cô ta không biết, do không có ai biết nơi ở của cô để báo tin.
         Hàng ngày tiếng chuông lại được ngân vang dội vào vách núi./-

                                                                                                             TRẦN DUỆ
                                                                                                      Điện thoại: 0989.870.698 

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

XÓM “LÂM TẶC”


                    

Trần Duệ hiện ở Tánh Linh, Bình Thuận và đang sinh hoạt trong hội Văn Học Nghệ Thuật Bình Thuận, xin giới thiệu truyện ngắn XÓM LÂM TẶC của  anh đến cùng bạn đọc


                                      XÓM “LÂM TẶC”

                                                                              Tác giả : Trần Duệ

    Nghe nói cái xóm nhỏ này đã hình thành từ lâu lắm rồi, tôi có biết ông nội, ông ngoại của tôi đến sống ở đây lúc còn trai tráng. Hồi mới đầu lập xóm chỉ có khoảng vài chục nóc nhà nhưng người đi, kẻ đến rồi sinh đẻ thêm, nên đến nay cả xóm có hơn trăm nóc nhà đang sinh sống. Trước đây người ta gọi xóm này là Xóm Rừng, bởi vì chung quanh là rừng và cách đường lớn của huyện  hơn chục cây số và phải đi qua bốn con suối lớn, nhỏ. Vào mùa mưa, nước ở những con suối này chảy cuồn cuộn nhưng chưa bắc cầu qua suối nên người đi đường  chỉ biết đứng nhìn chứ không ai dám lội qua. Cái tên xóm “ Lâm Tặc” được hình thành từ lúc người ta nghe trên đài và mấy cán bộ huyện gọi những người làm nghề rừng là lâm tặc. Nghe hoài cũng quen, nên nhiều người đã quen gọi tên xóm nhỏ này là “ Lâm Tặc” và hầu như ít ai nhắc đến cái tên do chính quyền đặt cho là xóm Năm hay xóm Sáu gì đó! Gọi là làm nghề rừng nhưng thật ra người dân trong xóm chỉ vào rừng những tháng mùa nắng, còn mùa mưa thì họ lên rẫy để trồng lúa, trồng bắp…

   
   Có một buổi sáng mùa khô, cả xóm vui như hội. Mới tờ mờ sáng đã có bốn chiếc xe to chạy vào trong xóm.Tiếng còi xe inh ỏi. Từng đoàn người mặc đồng phục, đội mũ trắng, tay xách, vai đeo cây kèn Tây sáng bóng, trông thật đẹp. Một lúc sau bà con mới vỡ lẽ ra đây là đoàn đưa đám ma. “ Đám ma con Mơ”. Có người ngỡ ngàng, có người tiếc rẽ: “ Con Mơ đẹp gái vậy mà chết sớm thì uổng quá !”. Người lớn lũ lượt kéo nhau đến thăm đám ma, con nít và đám thanh nhiên choai choai say mê những bản nhạc do nhóm nhạc công cất lên. Họ thổi đủ các loại nhạc, có lúc “ Oan ta là mê ra” nghe vui vui, lúc thì chùng xuống thật lắng dịu “ Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”. Bọn nhỏ đang nhìn thấy một đám ma lạ lùng, không giống với những đám ma trước đây chỉ biết thổi những điệu nhạc ọ e, ọ e  nghe muốn não lòng. 
     Tin Mơ chết đến với tôi là một sự bất ngờ quá lớn. Nhà Mơ ở cách nhà tôi mấy cái nhưng thật ra cách cũng khá xa do nhà nào vườn cũng rất rộng. Chúng tôi cùng học cấp hai, cấp ba ở trường huyện. Mơ học không giỏi nhưng rất chăm. Trong xóm chỉ có có tôi và Mơ học đến cấp ba nên nhiều người trong xóm cũng quý chúng tôi. Trường chúng tôi học nằm ở dưới huyện, nên hàng tuần chúng tôi cùng đi bộ về thăm nhà một lần, do vậy tôi và Mơ chơi thân với nhau. Nhiều thanh niên thấy chúng tôi đi về cùng nhau mà thèm thuồng mong được như tôi. Điều dễ hiểu là Mơ rất đẹp. Nhìn đôi mắt màu nâu sáng nằm giữa những quầng đen tự nhiên quanh đôi mắt làm cho đôi mắt của Mơ như một màu nhung đen. Nụ cuời của Mơ như toả những nét tươi vui, hiền hậu. Nói thật lòng, đối với tôi dù Mơ có cười hay không tôi cũng thấy đẹp. Có những chiều thứ bảy chúng tôi từ trường về nhà. Trời mưa, nước suối dâng cao, tôi phải dìu Mơ qua suối. Áo quần chúng tôi đều ướt. Mơ mắc cỡ. Tôi nói: “ Không sao !”.
      Đến năm lớp 11, Mơ phải nghỉ học vì mẹ của Mơ bị chết do sốt rét ác tính. Biết được tin mẹ mất lúc chúng tôi còn đang ngồi học bài. Mơ khóc. Những giọt nước mắt chảy thấm đẩm trang sách. Tôi thấy Mơ đẹp và thánh thiện hơn ngày bình thường. Cha của Mơ là một người đàn ông bị mù do tai nạn trong một lần đi khai thác gỗ. Mơ ở nhà chăm sóc cha mình và thay mẹ đi làm rẫy. Nhà của Mơ lợp tranh nằm khuất ở góc rừng, vốn đã buồn bây giờ chỉ có hai cha con nên trông càng buồn hơn. Ngày tôi trúng tuyển vào trường Đại học Kinh tế thì nghe tin Mơ đã có người yêu. Nghe nói người này lớn tuổi và chuyên nghề mua bán gỗ. Ông ta mua gỗ của bà con trong xóm “ Lâm Tặc” khai thác được, rồi chở về xuôi để bán. Từ chỗ mua một nhưng lại bán bán năm, bán mười nên ông ta rất giàu. Ai cũng thầm khen Mơ may mắn gặp được người giàu có để sớm thoát khỏi cái xóm rừng này. Học xong năm thứ nhất, tôi nghỉ hè về và được biết Mơ đã sinh được một đứa con gái. Còn lão đầu nậu gỗ kia đã chuyển đi mua gỗ ở nơi khác và không trở lại làm đám cưới với Mơ như đã hứa. Cuộc sống của Mơ cứ khổ chồng lên khổ. Mơ tránh gặp mặt tôi
       Còn tôi, một anh sinh viên học mãi mà không ra trường được. Học hết năm thứ hai, trong nhà không có tiền đóng học phí, tôi xin được bảo lưu kết quả để về nhà vào rừng cưa gỗ, kiếm tiền rồi năm sauvào học tiếp. Cứ hết đợt bảo lưu này đến đợt bảo lưu nọ mà đã bảy năm, tôi vẫn còn làm sinh viên. Đến khi đứa con của Mơ được năm tuổi, Mơ vào Sài Gòn may thuê cho một công ty nào đó. Tôi có đến thăm nhưng hình như Mơ không muốn gặp tôi.  Đám tang của Mơ chắc là sang trọng nhất từ trước tới nay ở cái xóm này. Có người nói “ con Mơ chết mà gặp may”. Nghe kể là vào lúc 9 giờ đêm, Mơ đi làm tăng ca về, trên đường cò một tốp thanh niên đua xe. Một tên đã tông Mơ văng sang bên đường. Đám đua xe chạy mất dạng. Mơ tắt thở tại bệnh viện ngay trong đêm đó. Sáng hôm sau, một người đàn ông trung niên đi cùng hai cán bộ công an đến nhận xác Mơ. Sau này nhiều người biết được rằng người đàn ông đó là cha của người thanh niên đua xe, gây ra tai nạn. Anh thanh niên này đi chơi về khuya, người cha ra mở cổng, thấy đứa con có thái độ khác thường. Ông ta gặng hỏi. Người con nói thật với cha là đã gây tai nạn rồi bỏ chạy. Thấy lòng day dứt, ông điện thoại cho công an ngay trong đêm đó và sẵn sàng nuôi dưỡng và đền bù cho người bị nạn. Nhưng ông không ngờ nạn nhân lại không thể sống được.




     Đám tang Mơ thật là đông người, thật ồn ào. Cha của Mơ được người ta dắt lên xe tang, mặt ông chng vui, cũng chng buồn. Đứa con gái của Mơ lăng xăng chạy theo đội kèn trống để nhìn, để nghe những âm thanh lạ tai. Khi chuẩn bị hạ huyệt, tôi nhìn sang một góc xa của nghĩa địa, thấy thằng Khang đang ngồi quay lưng lại với đám đông đang ồn ào trước huyệt mộ. Tôi thấy vai thằng Khang rung lên, giật giật liên tục, hai tay hắn đang ôm đầu. Thằng Khang cũng khóc ư, đối với nhiều người thì đó là điều lạ. Chính tôi cũng ngạc nhiên về chuyện này.Trước đây Khang là thằng uống rượu suốt ngày. Vốn tính nó đã ngang tàng nhưng khi nốc rượu vô thì trông mặt hắn còn dữ hơn, nên ai trong xóm cũng sợ hắn. Sau đám tang, cha của người gây tai nạn đã giao cho cha Mơ 10 cây vàng và xin ông làm giấy bãi nại. Ở cái xóm rừng này 10 cây vàng là to lắm, bởi vì người dân ở xóm tôi dù có lặn lội quần quật suốt đời trong rừng cũng không thể làm ra số vàng nhiều như vậy. Người đàn ông mù lòa lăn tay vào một tờ đơn người ta đã soạn sẵn. Mắt ông nhìn vào khoảng không một cách vô hồn.
Xóm “Lâm Tặc” dù còn rất nghèo, nhưng mỗi ngày mỗi đông thêm bởi vì đây chính là nơi để những mảnh đời nghèo khổ, phiêu dạt từ đâu đó tìm đến nương thân. Bà con trong xóm còn nhớ cách đây gần hai chục năm, có một người đàn bà ăn mặc rách rưới có dắt theo một đứa con trai còn rất nhỏ về xóm này. Bà ta nấu cơm thuê cho những người thợ cưa gỗ thuê. Bà cứ  đem thằng nhỏ đi theo đám thợ cưa từ cánh rừng này qua cánh rừng khác. Không hiểu sao, sau đó bà đi theo một người thợ cưa góa vợ, bỏ lại thằng Khang bơ vơ. Thằng Khang lớn lên như rong rêu, như bọt bèo ở trong cái xóm này. Nhiều ông chủ đầu nậu gỗ thấy hắn hung dữ nên luôn thuê hắn để trừng trị những thợ rừng muốn bỏ chủ cũ để sang làm cho chủ mới. Thằng Khang đã trở thành một đại diện của luật rừng ở đây. Ông chủ của hắn thấy công lao cống hiến của hắn cũng khá nhiều, nên thưởng cho một chuyến về thành phố thăm chơi. Chủ của hắn dắt hắn đi chơi đĩ. Hắn bị bệnh lậu. Ông ta cho hắn uống mấy viên thuốc thì lành bệnh và không quên dặn hắn nếu ăn thịt gà thì bệnh sẽ tái phát. Từ đó thằng Khang sợ thịt gà như người ta sợ nó. Biết được chuyện này đàn bà, con gái trong xóm sợ hắn như sợ rắn. Sau này, có một lần tôi uống rượu với Khang ở trong rừng, hắn nói với tôi là có thời gian nó rất buồn vì không biết chữ. Nhưng bây giờ hắn đã biết đọc được chữ trên tờ báo và viết được tên của chính mình là do Mơ dạy cho.
Sau đám tang của Mơ, cả xóm như buồn hẳn đi. Tôi đã kiếm đủ tiền đóng học phí để vào học tiếp. Thằng Khang đổ ra uống rượu nhiều hơn. Những “ lâm tặc” chính hiệu bây giờ không còn sợ hắn nữa nhưng vẫn thích mời hắn uống rượu. Trong xóm có Hoàng – một thợ cưa lành nghề - một lâm tặc khôn khéo nổi trội. Có một lần hắn nhậu ở một quán thịt chó ngoài huyện, nghe đánh lộn hắn nhảy ra can. Lúc đó có đông người quá, hắn chẵng biết ai lại ai. Có một người xông ra, hắn tức giận vì tự dưng lại đánh vào đầu hắn. Hắn vung tay đấm vào mặt người kia một cái thật mạnh. Máu chảy tràn mặt, người đó bất tỉnh. Ngày hôm sau công an đến bắt hắn vì tội đánh người thi hành công vụ. Lúc đó hắn mới biết người bị hắn đánh là một cán bộ của huyện. Có người đến nói với hắn là cứ yên tâm nhận tội đánh người thi hành công vụ thì sẽ được gia đình anh cán bộ đó chu cấp trong những ngày ở tù. Hồi đầu hắn cũng ưng bụng nhưng nghĩ lại sợ người ta không giữ đúng lời hứa thì thêm khổ. Tòa xử hắn một năm tù ở vì tội đánh người gây thương tích. Hắn không kháng án. Sau khi ra tù ít ngày, hắn đến nhờ tôi viết cho người yêu hắn một lá thư báo tin hắn đã hết hạn tù và xin được cưới cô ta làm vợ. Hắn tâm sự với tôi là thời gian ở trong tù, mấy bạn tù khen hắn là can đảm và công bằng. Nếu trước tòa, hắn nhận tội chống người thi hành công vụ thì người cán bộ đó sẽ trở thành thương binh, trong khi vết thương do hắn gây ra không đáng là bao. Hoàng huyênh hoang tuyên bố mình là thằng đã từng vào tù, ra tội làm cho mấy thằng thợ rừng có máu mặt phải kiêng nể. Những tay buôn gỗ giàu có cũng biết sợ Hoàng. Hắn đảm nhận việc bốc gỗ lên xe cho các chủ gỗ. Thằng Khang cũng được Hoàng thu nhận vào đám bốc gỗ của hắn. Chủ gỗ trả cho Hoàng bao nhiêu tiền một xe gỗ khi đã bốc lên thì không ai biết, người ta chỉ biết nhận tiền công từ Hoàng trà mà thôi. Kiếm được tiền kha khá, Hoàng cưới vợ, mua xe tải để chở gỗ thuê, sắm dàn Karao ké để mỗi tối cho đám bốc vác hát thoải mái, khỏi trả tiền. Thằng Khang trước đây mang tiếng dữ dằn vậy mà cũng lép vế trước Hoàng. Theo tôi biết máu lạnh của thằng Khang không thua gì Hoàng nhưng chỉ có điều là Hoàng khôn ngoan hơn.
      Cái số thằng Khang đã nghèo thì đành chịu nhưng không hiểu sao nó lại lây lan cái nghèo cho người khác mới đáng buồn chứ ?.  Trong một cuộc nhậu, đang dở chừng thì Hoàng sai Khang đi mua thêm rượu, thêm mồi. Khang tính đi bộ nhưng Hoàng bảo cứ lấy xe máy của Hoàng mà đi cho nhanh. Một lúc sau đám nhậu tan rã do có người chạy đến báo tin là Khang đã gây tai nạn cho người đi đường. Nạn nhân là một thằng bé và vết thương cũng khá nặng. Ác thay, thằng nhỏ là con của một “ lâm tặc” bữa đó, bữa no ở trong xóm. Người ta đưa thằng bé về bệnh viện huyện, rồi chuyển lên bệnh viện tận trên Sài Gòn. Ba thằng nhỏ phải đi vay tiền của những đầu nậu gỗ để có tiền đưa con đi bệnh viện và cam đoan sẽ trả bằng gỗ khai thác trong rừng. Công an bắt thằng Khang trong ngày hôm đó, ngay trong lúc hắn còn nồng nặc mùi rượu.
    Công an bắt Khang cũng là điều may mắn cho hắn. Ai cũng biết thằng Khang chỉ có “trên răng dưới rứa” thì biết lấy cái gì mà bồi thường cho người ta. Nếu hắn còn ở ngoài chắc cũng khó sống với bà con thằng nhỏ mà hắn gây tai nạn. Điều may mắn cho Khang là thằng nhỏ không chết.
    Thằng Khang đang ở trong tù thì nghe cán bộ trại giam thông báo là hắn được lệnh tha. Được ra tù mà hắn lại không muốn ra. Hắn xin ở lại trong tù cho yên thân. Anh công an nói với hắn là cứ yên tâm, do gia đình thằng bé đã làm đơn xin bãi nại cho hắn rồi. Chân hắn bước không muốn nổi để ra khỏi trại giam khi hắn nghe anh công an nói là có một người đàn ông bị mù trả toàn bộ tiền bồi thường cho gia đình thằng nhỏ mà nó gây tai nạn. Ra khỏi cổng trại giam thằng Khang gào lên thật to: “ Ba ơi”
     Đến nay nhà nước đã xây cầu qua bốn con suối ở trên đường đến xóm “Lâm Tặc”. Tôi đã ra trường và làm ở một cơ quan của huyện. Thằng Khang về ở với cha của Mơ. Hoàng bị kết án ba năm tù vì tội phá rừng. Hôm tôi đến thăm Hoàng trong trại giam, Hoàng nói đi, nói lại với tôi một câu nói đã trở thành lời nguyền: “ Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”./.