BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI KỶ HỢI 2019 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2019

VÀI DÒNG LAN MAN VỀ TỪ GHI TRÊN THIỆP CƯỚI - La Thụy sưu tầm và biên tập





    VÀI DÒNG LAN MAN VỀ TỪ GHI TRÊN THIỆP CƯỚI
                                                         La Thụy sưu tầm và biên tập

Vào mùa đám cưới, tôi thường nhận được thiệp mời. Xin nêu vài trường hợp về cách ghi trên thiệp. Khi chú rể là con trai út thì thiệp mời ghi là ÚT NAM. Nếu chú rểcon trai một trong gia đình (con trai duy nhất hoặc chỉ có chị em gái), thì thường được cha mẹ ghi trong thiệp là QUÝ NAM. Cách ghi như vậy trên thiệp mời là không chính xác.

- Dùng từ ÚT NAM thì người viết thiệp vô tình tạo ra một từ kép sai về ngữ pháp, không phân biệt được tiếng Hán Việt với tiếng thuần Việt. ÚT là từ đơn thuần Việt, NAM là từ đơn Hán Việt (từ đơn thuần Việt không thể ghép với một từ đơn Hán Việt để thành một từ kép).

- Dùng từ QUÝ NAM  với ý nghĩa là con trai một trong gia đình (con trai duy nhất hoặc chỉ có chị em gái) thì lại thiếu chính xác vì chưa hiểu rõ gốc Hán Việt, sai vì cố ý sửa gốc của từ.

Xét từ QUÝ trong tiếng Hán Việt ta thấy:

QUÝ:

1. nhỏ, út (em), non (chưa thành thục).
2. tháng cuối một quý
3. mùa

Về:
* QUÝ có nghĩa là nhỏ, út (em), non (chưa thành thục). Ta có những từ Hán Việt sau:

- Con gái út: quý nữ 季女
- Con trai út: quý nam 季男, vãn nam 晚男, ấu nam , ấu tử .
- Dâu út: quý tức 季媳
- Nhỏ, em bé gọi là quý đệ 季弟

Ghi chú:

- Nếu gia đình chỉ có một TRAI hoặc một GÁI, thì chúng đều là trưởng gia đình thế hệ sau, nên cách ghi thiệp cưới đều là TRƯỞNG NAM, TRƯỞNG NỮ (nói vui: còn phòng hờ “bậc trưởng thượng” có thể hạ sinh quý tử tiếp)


- Để phân biệt QUÍ là "út" và QUÝ là "quý giá" thì người ta ghi thiệp QUÍ NAM, QUÍ NỮ có nghĩa là "con út" với chữ  I làm âm cuối để phân biệt QUÝ NAM, QUÝ NỮ có nghĩa là “người con quý” với chữ Y làm âm cuối

Về:
* QUÝ có nghĩa là cuối, tháng cuối mùa gọi là quý. Ta có những từ Hán Việt sau:

- Tháng ba âm lịch (cuối xuân) gọi là quý xuân 季春
- Tháng sáu âm lịch (cuối hạ) gọi là quý hạ 季夏
- Tháng chín âm lịch (cuối thu) gọi là quý thu 季秋
- Tháng chạp âm lịch (cuối đông) gọi là quý đông 季冬
- Ðời cuối cùng cũng gọi là quý thế 季世.

Về:
* QUÝ có nghĩa là mùa, ba tháng là một quý, nên bốn mùa cũng gọi là tứ quý 四季.

Người ta thường dùng từ MẠNH để đối lập với từ QUÝ

Xét từ MẠNH trong tiếng Hán Việt ta thấy:

MẠNH:

Lớn, con trai trưởng dòng đích gọi là bá , con trai trưởng dòng thứ gọi là mạnh .
Mới, trước, tháng đầu mỗi mùa (còn gọi là mạnh nguyệt 孟月)

- “mạnh xuân” 孟春 tháng giêng âm lịch (đầu mùa xuân)
- “mạnh hạ” 孟夏 tháng tư âm lịch (đầu mùa hè),
- “mạnh thu”  孟秋 tháng bảy âm lịch (đầu mùa thu).
- “mạnh đông” 孟冬  tháng mười âm lịch (đầu mùa đông)

QUÝ và MẠNH còn nhiều nghĩa khác nữa. Tôi chỉ nêu vài ý nghĩa có liên quan đến nội dung bài.

Vài dòng lan man, trao đổi cùng bạn bè cho vui vào mùa cưới cuối năm. Nếu được quý bạn góp ý trao đổi thì càng vui…

                                                                                             La Thụy

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

NHỮNG LỖI SAI PHỔ BIẾN KHI DÙNG TỪ HÁN VIỆT - Lê Thị Bích Hồng

Nguồn:
https://tuoitre.vn/hon-phu-hon-the-la-nguoi-chong-nguoi-vo-u-me-1216045.htm

          
                                              TS Lê Thị Bích Hồng 
           (giảng viên cao cấp Trường đại học Sân khấu - điện ảnh Hà Nội)

Từ Hán Việt là một loại từ đặc biệt trong vốn từ vựng tiếng Việt, là một bộ phận rất quan trọng của kho từ vựng tiếng Việt.
Lớp từ Hán Việt có khối lượng lớn, được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, nghệ thuật...
Tuy nhiên, theo thống kê sơ bộ của khoa ngôn ngữ, có tới 16 hình thức sử dụng sai từ Hán Việt khá phổ biến hiện nay như: sai vì không hiểu gốc Hán Việt, sai vì cố ý sửa gốc của từ, sai vì không hiểu văn phạm giữa Hán Việt và Hán Nôm, sai vì dùng từ thiếu chính xác ngữ cảnh; dùng sai nghĩa từ thuần Việt lại tưởng từ Hán Việt, dùng từ Hán Việt vô nghĩa và lộn xộn, cóp y nguyên tiếng Tàu đang sử dụng và coi đó là từ Hán Việt, đảo ngược ngữ pháp hay cấu trúc từ Hán Việt, đảo từ ghép Hán Việt sai và không đúng cách, thiếu từ cho các thuật ngữ khoa học công nghệ hay chuyển nghĩa từ ngoại ngữ phương Tây sang...



      NHỮNG LỖI SAI PHỔ BIẾN KHI DÙNG TỪ HÁN VIỆT 
                                                                             Lê Thị Bích Hồng

Lớp từ Hán Việt thường có sắc thái trang trọng, trong khi lớp từ thuần Việt lại bình dân và sinh động hơn. Nhiều từ Hán Việt đã được Việt hóa thông dụng, có từ đã biến đổi ý nghĩa.

HAI ĐỘNG TỪ “VÀO/RA” TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI - Nguyễn Tài Cẩn

Nguồn:
http://www.vusta.vn/vi/news/Thong-tin-Su-kien-Thanh-tuu-KH-CN/Hai-dong-tu-Vao-Ra-trong-tieng-Viet-hien-dai-48808.html

            
                     

GS.TS, NGND Nguyễn Tài Cẩn, sinh ngày 22/5/1926, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ học, khoa Ngữ Văn, trường Đại học tổng hợp Hà Nội, nguyên giáo sư kiêm nhiệm khoa Ngôn ngữ học, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN. Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ năm 2000, đã từ trần hồi 19h04’, ngày 25/02/2011 tại nhà riêng ở Matxcơva, Cộng hòa liên bang Nga, thọ 85 tuổi.


HAI ĐỘNG TỪ “VÀO/RA” TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
                                                                                  Nguyễn Tài Cẩn

Bài này vốn là lá thư GS. Nguyễn Tài Cẩn gửi cho ông Nguyên Thanh, sau khi đọc bài của ông đăng trên báo Đoàn Kết số 410 (tháng 2-1989, tập san của Hội người Việt Nam tại Pháp) thử cắt nghĩa nguồn gốc của thành ngữ ra Bắc vào Nam (mà theo tác giả chỉ là một bài bàn chuyện phiếm). Đây cũng là bài mà giáo sư đã viết trước đó một năm để trả lời cho nhà nghiên cứu Tiệp Khắc Ivo Vatxiliep về vấn đề này. Nhận thấy giá trị của bài này, mãi đến năm 2006, ông Nguyên Thanh mới cho đăng lên mạng diễn đàn ở Pháp. Đây không chỉ là vấn đề ngôn ngữ, mà còn liên quan đến nhiều khái niệm về lịch sử, nên chúng tôi xin giới thiệu lại với bạn đọc, để tưởng nhớ đến nhà ngôn ngữ học tài ba vừa qua đời cách đây ít lâu.

VÌ SAO GỌI “TRONG NAM, NGOÀI BẮC”, “VÀO NAM, RA BẮC”? - Nguyễn Chương


     


VÌ SAO GỌI “TRONG NAM, NGOÀI BẮC”, “VÀO NAM, RA BẮC”?

                                                                            Nguyễn Chương

1/ Cách gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô/vào Nam, ra Bắc” bắt nguồn từ danh xưng Đàng Trong/Đàng Ngoài vào thế kỷ 17 & 18.
Tiếng Việt chúng ta khi nói “trong” tức là trung tâm so với “ngoài”; bao giờ “trong” cũng có vai vế hơn (về mặt thực tiễn) so với “ngoài”. Ta nói “trong kinh thành, ngoài biên ải”, chớ không ai đi phân định “trong biên ải, ngoài kinh thành” hết.

TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN – Lê Hữu Thăng


            
                             Thầy Lê Hữu Thăng


TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 
                                                                                  
Dù ngôi trường ngày nay không còn tồn tại về mặt vật chất, nhưng tên tuổi của trường vẫn lưu truyền mãi mãi trong con tim của người dân Quảng Trị - nhất là trong lòng những thế hệ học sinh của ngôi trường được vinh dự mang tên Chúa Tiên. Xin tạ ơn quý vị thân hào nhân sĩ, quý vị phụ huynh học sinh của thập niên 1950 đã có tầm nhìn xa trông rộng, góp nhiều công sức xây dựng nên trường Trung học Nguyễn Hoàng. Xin tạ ơn quý thầy cô giáo đã hy sinh, tận tụy khai sáng trí tuệ, truyền đạt tư tưởng một nền giáo dục “nhân bản, dân tộc và khai phóng” để hàng chục thế hệ học sinh của trường Nguyễn Hoàng được thành danh, thành người hôm nay.
Vừa thoát khỏi ách đô hộ 80 năm của thực dân Pháp, một nạn đói kinh hoàng xảy ra vào cuối năm 1944 đến tháng 5-1945 trên địa bàn các tỉnh từ Quảng Trị trở ra khắp vùng Bắc Bộ, đã giết chết hàng trăm ngàn người dân nước Việt. Xác người chết đói nằm rải rác trên các cánh đồng, trên những nẻo đường thị xã. Tiếp theo là những năm tháng chiến tranh khốc liệt đã hủy diệt môi trường sinh sống, đồng ruộng bỏ hoang, cơ sở cộng đồng, trường học bị bom đạn tàn phá. Trong hoàn cảnh ấy, tháng 9-1952, tiếng trống khai giảng trường Trung học Quảng Trị - tiền thân trường Trung học Nguyễn Hoàng đã vang lên như một giấc mơ huyền thoại của thế kỷ, như một tia sáng nhiệm màu soi đường cho tương lai tuổi trẻ Quảng Trị. Một ngày hội tưng bừng của phụ huynh học sinh và của cả cư dân trong tỉnh.

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2019

NGƯỜI VIỆT VÀ TRIẾT LÝ ‘GIÀU NHANH, ĐI TẮT, GỒM CẢ PHÁ HOẠI’ - Vương Trí Nhàn

Nguồn:
https://www.bbc.com/vietnamese/forum-50425379

Bài đã đăng trên trang cá nhân, thể hiện quan điểm riêng của tác giả Vương Trí Nhàn, nhà nghiên cứu văn hóa ở Hà Nội.


      
                 Nhà nghiên cứu văn hóa, văn học Vương Trí Nhàn
           

NGƯỜI VIỆT VÀ TRIẾT LÝ ‘GIÀU NHANH, ĐI TẮT, GỒM CẢ PHÁ HOẠI’ 
                                                                         Vương Trí Nhàn

Qua câu chuyện 39 người thiệt mạng tại Anh, tôi thấy nổi lên nhiều vấn đề có liên quan đến đến toàn thể cộng đồng Việt hiện nay, trước tiên là câu chuyện cách kiếm sống của con người và triết lý ẩn sau cách kiếm sống đó.


        
           
Cụ thể là người Việt hiện rất kém về mặt nghề nghiệp để tạo nên năng suất lao động cần thiết trong khi đó nhu cầu có một cuộc sống tiện nghi lại quá mạnh mẽ và quyết liệt, khiến cho người ta sẵn sàng làm bậy kiếm tiền, những người vốn ngại ly hương thì sẵn sàng ra đi tìm cách kiếm ăn ở nước ngoài dù đôi khi phải đổi lấy mạng sống.


            Nhiều người dân Nghệ Tĩnh sẵn sàng bán đất để kiếm đủ tiền đi nước ngoài, 
            và gửi tiền về cho người thân mua những căn biệt thự nguy nga.

VĂN MINH CÁI ĐÒN GÁNH - Tuệ Chương Hoàng Long Hải




          VĂN MINH CÁI ĐÒN GÁNH 
                                                                              Hoàng Long Hải


Trong thơ thì có: “Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” (Ca dao), trong nhạc thì có “Gánh, gánh, gánh… Gánh lúa về…” (Gánh Lúa – Phạm Duy và Lê Yên). Về địa lý, người ta ví đồng bằng sông Nhị và đồng bằng sông Cửu Long như hai thúng gạo, miền Trung là cái đòn gánh. Phạm Duy viết: “Gạo Nam, gạo Bắc, đòn miền Trung, gánh đừng để rơi.”

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2019

LỤC BÁT MỖI NGÀY - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn


       
                          Nhà thơ  Nguyễn Lâm Cẩn


LỤC BÁT MỖI NGÀY

1
Trông theo một chấm mờ dần
Lòng như gió đục mây vần đổ mưa.
Như bào như cắt như cưa
Nỗi cô như thể người thừa trần gian

2
Trông theo nào thấy đâu nào
Một mình một bóng ra vào ngẩn ngơ
Còn chi mà đợi mà chờ
Heo may gió rụng lá thơ thớt vàng

3
Trông theo một giải nông sờ
Thuyền cô gác mái đôi bờ lau thưa
Chợt lòng nhớ cảnh buồm xưa
Bến chia đôi ngả như vừa đâu đây

4
Trông theo ngọn cỏ dầu dầu
Nỗi sầu nhân thế trên đầu bạc phơ
Niềm riêng ứa cả giấc mơ
Có còn chi nữa mà chờ chiêm bao

5
Trông theo người chẳng thấy người
Trở về ôm lấy nụ cười mà mơ
 Đường trắng lối hẹn ngấn ngơ
Gót sơn ngơ ngác động hờ chiêm bao
Vừng trắng xế đĩa dầu hao
Mặt tơ tưởng mặt lao xao tiếng gà
Giá như người chẳng nuột nà
Thì đâu đến nỗi trăng già rụng đêm

                       Hà nội 22-11 – 2019
                         Nguyễn Lâm Cẩn

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

VÀI Ý VỀ CHỮ DÙNG TRONG THƠ (2) - Nguyên Lạc


              
                              Nhà thơ Nguyên Lạc


               VÀI Ý VỀ CHỮ DÙNG TRONG THƠ (2)
                                                                   Nguyên Lạc

Đây là phần tiếp nối theo bài viết “Vài Ý Về Chữ Dùng  Trong Thơ” (1) đã đăng trên Blog [*] 
Phần này bàn về:

THỦ ĐẮC THƠ VÀ CĂN BẢN TRIẾT LÝ

Trong bài “Vài Khái Niệm Về Việc Dùng Chữ Trong Thơ” [**] tôi có nêu ra ý riêng:

“Là thơ Việt, người làm thơ / thưởng lãm / phê bình thơ phải thủ đắc một số thơ của tiền nhân, căn bản triết lý Đông Phuơng để dùng nó khám phá những hàm ẩn, “ý tại ngôn ngoại” của bài thơ.

VÌ SAO NHẠC VÀNG LẠI ĐƯỢC YÊU THÍCH ? - Nguyễn Xuân Diện

Nguồn:
http://xuandienhannom.blogspot.com/2019/11/nguyen-xuan-dien-vi-sao-nhac-vang-lai.html


             
                        Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện


      VÌ SAO NHẠC VÀNG LẠI ĐƯỢC YÊU THÍCH 
                                                                    Nguyễn Xuân Diện

Nhạc Vàng là tên thường gọi của thể loại nhạc được sáng tác và trình diễn dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Lâu nay, nhiều người đã bàn về giá trị nghệ thuật và sức sống của nhạc vàng thời Viêt Nam Cộng Hòa (VNCH). Đã có rất nhiều người chỉ ra lý do Nhạc vàng nhanh chóng tiến ra Bắc, trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của các tầng lớp nhân dân ở Miền Bắc, đồng thời có sức sống rất mãnh liệt tại hải ngoại.

ĐỌC “TIỀN KIẾP” CỦA NGUYÊN BÌNH - TẬP THƠ NGÀN NĂM BÂNG KHUÂNG - Châu Thạch


               
                                  Nhà thơ Nguyên Bình


ĐỌC “TIỀN KIẾP” CỦA NGUYÊN BÌNH - TẬP THƠ NGÀN NĂM BÂNG KHUÂNG 
                                                                                       Châu Thạch


“Tiền Kiếp” là tập thơ của nhà thơ Nguyên Bình vừa xuất bản. Nguyên Bình còn là một nhà bình thơ, một nhà giáo, cư trú tại Bà Rịa- Vũng  Tàu.
Vì sao tôi gọi “Tiền Kiếp” của nhà thơ Nguyên Bình  là tập thơ ngàn năm bâng khuâng? Thật vậy, ta hãy đọc khổ thơ đầu cúa bài thơ “Tiền Kiếp” đươc đăng ở trang 51 thì sẽ có khái niệm về tập thơ nầy:

Nợ em cái nhìn từ tiền kiếp                    
Tôi đã vay về một sáng xuân                    
Nghìn năm thương nhớ chưa trả hết                    
Nay còn vương lại chút bâng khuâng

VẤN VƯƠNG - Thơ Lê Kim Thượng


       
            Nhà thơ Lê Kim Thượng


VẤN VƯƠNG                                                

Hôm qua em đến tìm tô
Vẫn dung nhan ấy… vẫn đôi mắt huyề
Dù cho chẳng trọn tơ duyên
Tình ta sau trước trinh nguyên vẹn mười…                       

 Môi xinh chúm chím khẻ cười
Nụ hôn ngày cũ… trao người tình xưa
Mắt buồn nhớ buổi tiễn đưa
Ngày mong tháng đợi nắng mưa thất thường
Nắng vàng soi mắt người thương
Rèm mi khép kín, môi hường hồn nhiên
Tình xa mấy chặng ưu phiền
Lệ sầu rơi xuống bình nguyên mưa nguồn
Lao lung tóc xõa sợi buồn
Tay em mười ngón dài suôn xanh gầy
Tình đầu dù đã xa bay
Còn thơm chăn gối… ngất ngây bồi hồi…
“Chẳng thà không gặp thì thôi…”
Tình xưa duyên cũ thề bồi biển dâu
Em ơi… lỡ hái trái sầu
Thì nay đành chịu Mưa Ngâu quan hà
Trăng về rồi lại trăng qua
Để cho gió cuốn hồn hoa thở dài
Lặng lờ bến đợi chờ ai
Sông khuya chở nỗi u hoài tha hương
Vườn yêu giờ đã nhạt hương
Trăng thề lỗi hẹn buồn vương ánh tà
Mối tình xưa cũ thiết tha
Còn đâu em… mộng dưới hoa yêu kiều…                         

Gần thương… xa cũng thương nhiều
Nhớ mai nồng ấm... nhớ chiều say mê
“Mình về sao được mà về…
Mảnh trăng còn đó… lời thề còn đây…”               

               Nha Trang, tháng 11. 2019
                    LÊ KIM THƯỢNG

 *
“...” Ca dao

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2019

ĐÀO HOA VÀ MẪU NGƯỜI ĐÀO HOA - Đào Anh Dũng


           


             ĐÀO HOA VÀ MẪU NGƯỜI ĐÀO HOA
                                                                    Đào Anh Dũng

Từ xưa tới nay trong dân gian người ta thường ám chỉ những người có cá tính hào hoa phong nhã hoặc đàn ông đa thê, phụ nữ yêu nhiều v.v... thì đều thuộc loại có số đào hoa. Người ta thường nói với nhau là ông nọ, bà kia số đào hoa, tức là ám chỉ tỉnh tình lẳng lơ, thiếu đứng đắn trong quan hệ nam nữ. Trong quan hệ xã hội vì 1 lý do công việc chung nào đó mà bắt buộc người đàn ông phải tiếp xúc với nhiều người phụ nữ, hoặc người phụ nữa phải tiếp xúc với nhiều đàn ông thì dư luận xã hội cũng gán cho họ là có số đào hồng.

LÊ THIÊN MINH KHOA! - Thơ Châu Thạch


        
            Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa


LÊ THIÊN MINH KHOA!

Mái tóc bồng bềnh mây xoắn
Quặn nghìn vạn sợi suy tư
Mắt buồn sau đôi kính trắng
Nhìn đời sương khói thật, hư

Trán như khung chiều mặt biển
Nhọn cằm đỉnh núi đầy sương
Tâm hồn lộ ra hiển hiện
Thi tài trên khuôn mặt xương

Người từ trăm năm với rượu
Thơ từ trăng xuống đầy chung
Văn từ ngàn be lóng lánh
Tình thi đẹp đến vô cùng!

Túy lúy men đời men nhạc
Ngã nghiêng lối mộng tìm em
Hồn bay theo đường trăng tỏa
Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa!

                            Châu Thạch

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2019

CHÙM THƠ THỦY ĐIỀN


    


GIỌT BUỒN RƠI THEO LÁ

Rơi... rơi từng chiếc lá
Xạc xào chạm vào tai
Trơ con chim ngủ dài
Giấu mỏ quên trời sáng

Những hạt sương lành lạnh
Đọng quanh lớp lông dầy
Trắng xóa một màu mây
Im lìm nằm bất động

Đêm tàn thu gió lộng
Gieo rét cả lòng người
Nỗi nhớ kẻ tha hương
Dâng tràn như sóng biển

Mẹ quê xa triền miên
Em thơ nơi ngàn dặm
Người tình giờ cách ngăn
Giọt buồn rơi theo Lá.

        Thủy Điền
       17-11-2019

VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC: “GỌI ĐÊM TRỞ GIÓ” CỦA BÙI CỬU TRƯỜNG - Đặng Xuân Xuyến


                
                     Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến


VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC: “GỌI ĐÊM TRỞ GIÓ” CỦA BÙI CỬU TRƯỜNG 
                                                                Đặng Xuân Xuyến

Tôi thích “Gọi đêm trở gió” của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường vì bài thơ được viết như trải lòng, rất thật mà câu chữ lại sáng, đẹp, thanh thoát. Đọc đi đọc lại, tôi càng thích bài thơ hơn. Và dù đã rất buồn ngủ, tôi cũng cố ngồi viết vài cảm nhận về bài thơ hay, nhưng buồn mà đẹp này.

DÂN TỘC HUNG NÔ TẠI TRUNG QUỐC BÂY GIỜ RA SAO?


    
                                          Người Hung Nô ở Trung Quốc


DÂN TỘC HUNG NÔ TẠI TRUNG QUỐC BÂY GIỜ RA SAO?

Nguồn:
http://danviet.vn/dong-tay-kim-co/ket-cuc-cua-dan-toc-hung-no-tai-trung-quoc-ra-sao-1026960.html

Về dân tộc Hung Nô tại Trung Quốc lâu nay vẫn có người cho rằng sau khi dân tộc này bị nhà Tây Hán Trung Quốc đánh bại, một bộ phận trở thành “đế quốc Hung Nô” của châu Âu sau này. Thế nhưng gần đây thông qua phân tích DNA mấy chục thi thể người Hung Nô cổ, người ta đã chứng minh bằng khoa học được rằng, người Hung Nô châu Âu và người Hung Nô Trung Quốc không hề có liên quan gì hết!

VÀI Ý VỀ CHỮ DÙNG TRONG THƠ (1) - Nguyên Lạc


           
                           Nhà thơ Nguyên Lạc


   VÀI Ý VỀ CHỮ DÙNG TRONG THƠ (1)
                                                                                         Nguyên Lạc

Hãy cùng nhau xét ý nghĩa và cách dùng vài chữ sau đây trong thơ

MIÊN DU

1. Kết hợp MIÊN DU có thể hiểu trên cơ sở lắp ghép nghĩa của các thành tố tạo nên nó: MIÊN và DU
-- DU là "đi, đi xa, đi chơi"
-- MIÊN có nhiều nghĩa:
- MIÊN bộ Mục là "ngủ". Theo kiểu nói bồi trong tiếng Việt MIÊN DU nghĩa là "ngủ đi ". Nếu theo cấu tạo từ tiếng Hán, thì  DU là thành tố chính: "đi"; còn MIÊN là thành tố phụ: "giấc ngủ, trong tư thế ngủ". Nghĩa của cả kết hợp:  Đi vào giấc ngủ, đi trong tư thế ngủ. Nếu nghĩa "đi trong tư thế ngủ " thì mộng du chăng? Tên bệnh trong y học (tiếng Anh: Sleepwalking; còn gọi là ngủ đi rong hoặc chứng Miên hành)
- MIÊN bộ Mịch 綿 là kéo dài, dằng dặc không dứt. Vậy "miên du" là đi đi hoài.
Nên biết, tiếng Hán Việt cùng giống tiếng Anh, tính từ đứng trước danh từ, ngược với tiếng Việt. Thí dụ; White horse (A), Bạch mã (H), ngựa trắng (V)

HUYỀN THOẠI BOLERO: CA SĨ, NHẠC SĨ DUY KHÁNH

Nguồn:
https://nhactrinh.vn/co-ca-si-nhac-si-duy-khanh-huyen-thoai-bolero/?fbclid=IwAR0kOp4TwGfwShMFGdyzD7QiH30HTqko2Bnd2wm9o27c_URncUb2jLTmdVU


   HUYỀN THOẠI BOLERO: CA SĨ, NHẠC SĨ DUY KHÁNH


         
                                     Ca sĩ Duy Khánh


Âm nhạc của Duy Khánh đậm dấu ấn âm hưởng dân ca miền Trung. Ngay từ khi sớm nổi tiếng với những ca khúc của Phạm Duy, ca sĩ Duy Khánh đã định hình cho mình một phong cách âm nhạc dân gian…

Giọng hát Duy Khánh (1936-2003) sớm có sức cạnh tranh một thời với các giọng ca Hùng Cường, Nhật Trường và Chế Linh. Tuy mỗi người một màu sắc khác nhau nhưng Duy Khánh có làn hơi khỏe và ngân dài khó ai địch nổi. Hơn nữa, Duy Khánh lại chuyên hát dòng nhạc quê hương tạo nên “đặc sản” cho riêng mình.

Cả cuộc đời Duy Khánh chỉ hát về quê hương với âm sắc ngọt ngào trong sáng pha chút u buồn nhưng không ủy mị.

ĐÂU KÊNH LÀNG TÔI - Võ Cẩm


        

        ĐÂU KÊNH LÀNG TÔI
                                                                   Võ Văn Cẩm    

Tôi rất vui được xem và nghe phóng sự của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Trị về “Nét đẹp làng quê” giới thiệu Làng Đâu Kênh của tôi.

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

NẾU CÓ TẦM NHÌN, CHÚNG TA NÊN ĐỨNG VỀ PHÍA ANH, LẬT ĐỔ NHÀ THANH – Phùng Học Vinh

Nguồn:
https://soha.vn/bai-viet-khien-du-luan-trung-quoc-day-song-neu-co-tam-nhin-chung-ta-nen-dung-ve-phia-anh-lat-do-nha-thanh-20191009142859437.htm


Phùng Học Vinh là tác gia đương đại nổi tiếng Trung Quốc. Ông sinh năm 1979 tại Dương Giang, Quảng Đông, tốt nghiệp Học viện Pháp luật, Đại học Ngoại ngữ Quảng Đông, hiện đang sinh sống tại Hồng Kông.
Ông có nhiều tác phẩm khiến dư luận Trung Quốc dậy sóng vì quan điểm phê phán mạnh mẽ những điều chướng tai gai mắt trong xã hội. Bài viết “Vì sao tôi coi thường các nhà sử học Trung Quốc” là một ví dụ.

Bài viết khiến dư luận Trung Quốc dậy sóng:

NẾU CÓ TẦM NHÌN, CHÚNG TA NÊN ĐỨNG VỀ PHÍA ANH, LẬT ĐỔ NHÀ THANH 
                                                                               Phùng Học Vinh

“Các nhà sử học Trung Quốc là một nhóm những người giảo hoạt, họ hiểu được nhân quả của việc cắt gọt các sự kiện lịch sử để phù hợp với thị hiếu của độc giả”, học giả Phùng Học Vinh viết.

Các nhà sử học Trung Quốc là một nhóm những sự nực cười. Hôm nay chúng ta cùng thảo luận xem họ là loại người như thế nào.