BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI CANH TÝ 2020 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

“BẮC NINH THI THOẠI”, LINH HỒN KINH BẮC – Hồng Minh




“BẮC NINH THI THOẠI”, LINH HỒN KINH BẮC                              (Tạp chí NGƯỜI KINH BẮC số tháng 6-2020)
                                                                       Hồng Minh

“Bắc Ninh thi thoại” là tác phẩm thứ 14 của Nhà văn Nguyễn Khôi (*), trước đó năm 1995 ông cho in tập thơ “Trai Đình Bảng”, gồm 30 bài thơ dành riêng nói về làng Đình Bảng quê hương ông, tuy không phải nơi ông sinh ra nhưng là nơi ông được gửi về quê “ở vú” (U nuôi) gắn bó với bao kỷ niệm thời ấu thơ: “Vượt biển, chơi hồ, trở quá giang/Bỗng dưng lại thấy nhớ Ao làng/Cái đêm hè ấy Ai ra tắm/Để cả bầu trời phải tắt trăng.”

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

PHẠM THIÊN THƯ, CÓ NGẦN ẤY THÔI - Nguyễn Đức Tùng




          PHẠM THIÊN THƯ, CÓ NGẦN ẤY THÔI
                                   (Gởi Kathy Hoang)

                                                                              Nguyễn Đức Tùng

Thơ Phạm Thiên Thư là thơ để ngâm, để hát, là chanson poétique.

Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

Đúng ra, thơ ông có điệu nói lẫn điệu hát. Là tu sĩ Phật giáo nhưng vẫn nhắc đến Chúa: đó là tinh thần tự do của Phạm Thiên Thư. Nhiều người cho rằng thơ ông được phổ biến là nhờ ca khúc do Phạm Duy phổ nhạc, hoặc vì ông là thi sĩ kiêm thiền sư, những cái ấy đều có thể đúng cả, nhưng thơ không hay thì không ai nhớ. Vậy phải có mấy thứ cùng lúc: văn hóa và văn bản. Nhà phê bình Đặng Tiến có một nhận xét thú vị rằng câu "rằng xưa có gã từ quan" là câu thơ được nhớ nhiều nhất. Điều đó quả nhiên đúng, nhưng tôi nghĩ có lẽ vì nó được phổ nhạc, và là câu mở đầu của bài hát. Nếu Phạm Duy chọn câu khác, ví dụ câu thứ nhất của Động hoa vàng "Mười con nhạn trắng về tha", thì biết đâu câu ấy lại nổi tiếng hơn?
Bạn nói vậy hoá ra câu "rằng xưa" ấy không có giá trị gì? Cũng không phải thế. Đó là câu nghe qua cũng tầm thường, nhưng với lối nói lửng lơ, nhiều hư từ, của người Việt, nó lại gợi ra nhiều thứ. Nó mở ra, mông lung. Bùi Giáng có nhiều câu như vậy. Một chữ thành công phải đúng thời điểm, mở đúng cánh cửa. Mà một cánh cửa chỉ có một người mở. Nhưng trước hết nó phải kết tụ tiếng nói của dân tộc, như một thứ "tổng kết thời đại." Ở miền Nam ai không thấy cảnh nữ sinh áo dài tha thướt ùa ra cổng giờ tan trường, nhưng phải đến Phạm Thiên Thư, thơ mới bật ra bốn chữ:

Em tan trường về

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2020

TRẦM TƯ VỀ THƠ TRẦN THIỆN HIỆP - Trần Tuấn Kiệt


                      
                                     Nhà thơ Trần Tuấn Kiệt

                   
             
                                    Nhà thơ Trần Thiện Hiệp             


            TRẦM TƯ VỀ THƠ TRẦN THIỆN HIỆP
                                                       Trần Tuấn Kiệt      

Ở hải ngoại Trần Thiện Hiệp là một thi sĩ có tầm vóc lớn. Khi về thăm lai quê hương năm 2001, ông đã giao cho nhà xuất bản Trẻ ấn hành tập thơ lấy tên mình – Thơ Trần Thiện Hiệp – gồm 100 bài thơ chọn lọc trong số thơ ông đã xuất bản từ lâu ở Hoa Kỳ, Canada. Xuyên qua thơ ông sáng tác từ bàn viết tạm dung trong suốt thời gian dài gần 30 năm, ta có thể nói Trần Thiện Hiệp là một thi sĩ sống đầy đam mê và thủy chung với sự nghiệp thi ca. Với một bút pháp thâm hậu, nhà thơ họ Trần đưa người đọc vào thế giới tinh thần của mình bằng những vần thơ ý tưởng mới mẻ, suy nghiệm sâu sắc về thân phận con người trong cõi mênh mông vô thường.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2020

ĐỌC “THÁNG TƯ MÀU NHỚ” CỦA PHẠM ĐỨC MẠNH - Đặng Xuân Xuyến


   


THÁNG TƯ MÀU NHỚ

Tháng Tư
cờ
hoa
đất trời rợp sắc đỏ

tiếng khóc vỡ òa màu nhớ
người qua cõi chết trở về
nổ bung nụ cười chiến thắng
non sông một dải nối liền

Tháng Tư
những người lính kiệt sức vì đạn bom
thoi thóp sống
lết tìm nhau
nhặt mảnh vụn xuân thì đang trôi mất
hàn rỉ sét chiến tranh
bó vết thương lòng kiếm tìm đồng đội

Tháng Tư
ký ức dâng tràn
mẹ thắt ruột chờ con
nỗi đau tê dại
hình viên đạn chẻ đôi găm xé vào tim mẹ
đứa bên này
đứa bên kia
hết đối đầu chĩa súng vào nhau
sao lặng lẽ không về

Trắng hồn khăn tang
kiếp phong trần bày lên niết bàn lạnh lẽo
mẹ thắp nén hương đắng đời sinh nở
dằn cơn vật vã cô đơn
húp cháo
chờ được phong danh hiệu

Tháng Tư
những ngôi biệt thự nguy nga
phơi quyền lực
giàu sang trước phố
ẩn náu gam xấu hổ
người qua vội bước chân xa

Tháng Tư
mùa tha thứ cho nhau
nhìn từ nhiều phía
hạnh phúc
khổ đau
ai muốn quên
ai hoài nhớ

Người lính
bị nhuốm chất độc da cam
ngâm đời trong bể khổ
làm sao gieo hạt tương lai

Ngày
sống ngồi niệm được thua
nuôi ký ức

Đêm
tập chết mơ chốn vô thường
chuông hồn
ru giấc thời gian cũng ám ảnh
giật mình…

                       27. 04. 2020
                   Phạm Đức Mạnh

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

GIỚI THIỆU TẬP THƠ “CHA KHÓC CON” CỦA PHẠM NGỌC THÁI



Trong nỗi đau tột cùng một người cha về cái chết của đứa con trai bị đột quị mới 27 tuổi đầu! Những ngày tháng đó, tôi cứ miên man viết những dòng thơ khóc xót xa con đầy máu và nước mắt ! Rồi xuất bản riêng cho con một thi phẩm - Đó chính là tập thơ “Cha khóc con”, Nxb Hồng Đức 2020.

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2020

ĐỌC TẬP TRUYỆN NGẮN “XÓM CÔ HỒN” CỦA KHA TIỆM LY - Ngã Du Tử


      
            Tập truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” của nhà văn Kha Tiệm Ly


  ĐỌC TẬP TRUYỆN NGẮN “XÓM CÔ HỒN” CỦA KHA TIỆM LY
                                                                                                     Ngã Du Tử


Trung tuần tháng 4 /2016 nhà thơ, nhà văn Kha Tiệm Ly vừa hoàn thành tác phẩm XÓM CÔ HỒN do NXB Hội nhà văn ấn hành với quyết định xuất bản số 158/QĐ-NXBHNV ngày 01/2/2016 nộp lưu chiểu tháng 4/2016. Khi biết thông tin nầy hầu như những anh em văn nghệ tự do rất vui vì sự nổ lực của anh được đền bù xứng đáng, (1000 quyển đặt mua trong vòng 15 ngày).

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2020

ĐỌC “MEKONG, DÒNG SÔNG NGHẼN MẠCH” CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGÔ THẾ VINH - Ngã Du Tử


                 
                            Tác giả bài viết Ngã Du Tử


ĐỌC “MEKONG, DÒNG SÔNG NGHẼN MẠCH” CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGÔ THẾ VINH
                                                                                       Ngã Du Tử

“Mekong, dòng sông nghẽn mạch” của nhà văn, Bs Ngô Thế Vinh là cuốn tiểu thuyết ký sự khá kỳ công, ly kỳ và hấp dẫn mà tác giả đã tận mắt đến chứng kiến như chuyến du khảo bắt đầu từ cuộc thâm nhập con đập Mạn Loan (Manwan) thuộc Vân Nam, Trung Quốc cho đến kỳ cùng của con sông Hậu, Việt Nam, cũng như vùng Tràm chim, Tam Nông thuộc Đồng Tháp Mười khu sinh thái của các loài dã hạc quý còn lại của miền Nam, sự gặp gỡ giáo sư Võ Tòng Xuân ở đại học An Giang, dến về Bến Tre và thay lời kết Cho một dòng sông, cùng với nhiều suy nghĩ của các bậc thức giả viết về nó. Với sự trang trãi nổi lòng mình từ sự yêu mến con sông Mê Kong nói riêng và tổ quốc Việt Nam nói chung nhằm cảnh tĩnh và khuyến cáo với dân tộc và quốc gia Việt Nam hãy làm điều gì có thể trước khi sự cuồng nộ của thiên nhiên nhận chìm cả đồng bằng phì nhiêu châu thổ sông Cửu Long, với tham vọng quá dữ dội của chính quyền Bắc Kinh, chắn dòng chính Mekong làm các con đập bậc thềm trên thượng nguồn, họ chỉ muốn làm lợi cho chính quốc gia Trung Cọng bất chấp các dân tộc khác tan hoang và điêu linh, nhất là những dân tộc cuối nguồn như Cam Bốt và Việt Nam chúng ta.

             
                       Nhà Văn - Bác Sỹ Ngô Thế Vinh (1969)

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2020

CÒN TẤC LÒNG VẪN GỬI LẠI NƠI QUÊ - Trần Lan Châu

(HNMCT) - Lần đầu tôi gặp nhà văn Nguyễn Khôi cách đây hơn 20 năm. Lúc chia tay, ông tặng tôi tập thơ gồm 100 bài tứ tuyệt. Trong tập, có bài Trưa rừng ấy (cũng là tên tập thơ) mà sau này, mỗi lần đọc lại, tôi vẫn thấy lòng mình dạt dào cảm xúc: “Trưa rừng ấy cùng em nằm yên ả/ Mây trời xanh cây lá cả ngàn xanh/ Chỉ có nắng ở trên lưng ngọ nguậy/ Con ong vàng ve vẩy mắt long lanh”.


        
                                   Nhà văn Nguyễn Khôi


   CÒN TẤC LÒNG VẪN GỬI LẠI NƠI QUÊ
                                                                            Trần Lan Châu

Nguyễn Khôi sinh năm 1938 tại Yên Bái, quê gốc làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội vào năm 1963, ông lên công tác tại Sơn La; từ năm 1984 công tác tại Văn phòng Quốc hội; năm 1987 tốt nghiệp Đại học Kinh tế Tài chính Saint Petersburg (Liên bang Nga ngày nay)... Điểm qua vài nét “lý lịch” để hiểu, Nguyễn Khôi là người học hành bài bản, đi rộng hiểu nhiều, lợi thế đó được ông thể hiện rất rõ trong thơ văn.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2020

ĐỜI VĂN CHƯƠNG PHẠM NGỌC THÁI VÀ TẦM VÓC “TUYỂN THƠ CHỌN LỌC” - Nguyễn Thị Hoàng


       


ĐỜI VĂN CHƯƠNG PHẠM NGỌC THÁI & TẦM VÓC “TUYỂN THƠ CHỌN LỌC”
                                                                  Nguyễn Thị Hoàng
                                                      Nguyên GV Trường ĐH Sư phạm

Nói là “đời văn chương” nhưng ở đây, do khuôn khổ của một bài viết  - Tôi chỉ khái quát mấy nét liên quan đến sự nghiệp thi văn của nhà thơ. Vào mùa đông vừa qua, anh đã cho xuất bản: “TUYỂN THƠ CHỌN LỌC” Phạm ngọc thái, Nxb Hồng Đức 2019 - Một tác phẩm thi ca hiện đại !
 
A.  KHÁI QUÁT CUỘC ĐỜI VĂN CHƯƠNG CỦA NHÀ THƠ
       Phạm Ngọc Thái lớn lên khi cả nước đang bước vào giai đoạn cuộc chiến tranh đánh Mỹ ác liệt nhất ! Thu đông 1966, anh tốt nghiệp phổ thông cấp III Hà Nội... tiếp sang đời một sinh viên Trường Đại học Bách khoa. Như hàng vạn thanh niên thủ đô và cả nước -  Hồi đó, hưởng ứng lời kêu gọi tổ quốc có lâm nguy ! Mùa xuân 1967, Phạm Ngọc Thái tình nguyện rời bỏ trường đại học, rời quê hương, gia đình... dấn mình vào cuộc chiến tranh đầy máu và nước mắt của dân tộc. Anh từng thổ lộ: Suốt mười năm chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên Nam Bộ - Qua các Sư đoàn 312, Trung đoàn pháo 40 Tây Nguyên, Trung đoàn 48 Sư 320... tiến vào đánh cứ điểm Đồng Dù của Mỹ, chiếm Sài Gòn 30.4,1975 - Kết thúc chiến tranh. Mỹ rút về nước !
     Trong những năm chiến trận, chính anh cũng ba lần đổ máu ngoài chiến trường... vẫn giữ vững kiên trung với nghĩa khí của một chiến binh cho tới giây phút cuối cùng. Đất nước hòa bình. Anh đã được tặng thưởng 5 huân chương chiến công, kháng chiến, cùng các danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ và bằng khen khác.  
     Ròi quân ngũ trở về. Phạm Ngọc Thái tiếp tục theo học Đại học ngoại thương rồi công tác tại ngành ngoại thương quốc tế ! Tới lúc về hưu. Tuy nhiên, dù làm công việc của một cán bộ nhưng anh vẫn dành hết tâm huyết mình với khát vọng thi ca !
     Suốt  ba mươi năm sáng tác văn học - Đến nay, nhà thơ đã cho ra đời đúng 10 tập sách:
1/.  Chín tác phẩm về thơ và bình luận:
-  Có một khoảng trời                  1990
- Người đàn bà trắng                   1994
- Rung động trái tim                    2009
- Hồ Xuân Hương tái lai              2012
- Phê bình & tiểu luận thi ca        2013
- Phạm Ngọc Thái chân dung nhà thơ lớn thời đại                                       2014
- Thơ tình viết cho sinh viên       2015
- Phạm Ngọc Thái cánh đại bàng của thi ca đương đại Việt Nam      . Xuân 2019
- “Tuyển thơ chọn lọc” Phạm Ngọc Thái. Đông 2019.
2/ Hai tiểu thuyết:
    - Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM                                2019
    - Tiểu thuyết CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU (hai tập)    . Sách chuẩn bị xuất bản trước 30.4.2020
3/ Sáng tác thành công 5 vở kịch nói sân khấu:  
*  Hai kịch bản dài:
     -  Bản án dưới mồ
     -  Số phận những hòn đá tảng.
*  Ba kịch bản ngắn:
      -  Mối tình hoa hồng bạch
      -  Chuyện ở quán gốc đa
      -  Cánh cửa quốc tế
* Hội viên Hội nghệ sĩ sân khấu Thủ đô. 

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2020

CHUYỆN TÌNH CON CÁO TU LUYỆN NGHÌN NĂM VỚI CHÀNG TRAI TRẦN THẾ! - Phan Đức Lộc

Truyện kỳ ảo "Mộng hồ ly" tựa như nét chấm phá đầy ấn tượng cho toàn bộ cuốn sách "Ngụ ngôn tháng tư" của cây bút nhiều triển vọng Tú Ngọc.


        Tác giả Tú Ngọc vừa đạt giải ba cuộc thi truyện ngắn Lửa mới. Ảnh: FB nhân vật


CHUYỆN TÌNH CON CÁO TU LUYỆN NGHÌN NĂM VỚI CHÀNG TRAI TRẦN THẾ! 
                                                                                Phan Đức Lộc

Vài năm trở lại đây, Trần Thị Tú Ngọc nổi lên là một trong những cây bút viết truyện ngắn triển vọng xuất hiện thường xuyên trên các tờ báo, tạp chí uy tín như: Nhân dân, Văn nghệ, Văn nghệ Công an, Văn nghệ Quân đội... Truyện ngắn của chị đa dạng về giọng điệu, phong phú về đề tài, thể hiện những nỗ lực nghiêm túc ngay từ khi bắt đầu tham gia vào hành trình sáng tác văn chương. Và Ngụ ngôn tháng Tư - tập truyện ngắn đầu tay của tác giả trẻ 8x này - là minh chứng rõ nhất cho điều đó.

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2019

GIẤC MƠ TRƯỜNG SƠN HAY NHỮNG PHƯƠNG TRỜI VIỄN MỘNG - Nhất Thanh

Có thể nói Thiền sư Tuệ Sỹ là một trong những danh tăng uyên bác nhất về Phật giáo trong thời đại hiện nay.
Thiền sư Tuệ Sỹ cũng là một nhà thơ đầy thiền vị qua thi phẩm Giấc Mơ Trường Sơn với ngôn ngữ thi ca cao vời và sâu thẳm mà giới văn bút và thi ca rất ngưỡng mộ.

     
                                  Thiền sư Tuệ Sĩ
            

GIẤC MƠ TRƯỜNG SƠN HAY NHỮNG PHƯƠNG TRỜI VIỄN MỘNG
                                                                                 Nhất Thanh

Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản tình ca vô tận của Đông Phương”
              (Những năm anh đi – Tuệ Sĩ)

Trong tất cả những tập thơ tôi đã được đọc từ những tháng ngày đây đó, có hai tác phẩm gây xúc động và mê hoặc lòng tôi mãnh liệt nhất. Đó là “Mưa nguồn” của Bùi Giáng và “Giấc Mơ Trường Sơn” mà tác giả của nó – Tuệ Sỹ - một thi nhân, một triết gia, một tu sĩ hay đơn giản chỉ là một con người, tùy theo cảm nhận của mỗi người. Riêng trong bài viết này, tôi muốn ngắm người thơ qua chân dung nghệ sĩ – một nghệ sĩ chân chánh.

Thứ Ba, 24 tháng 12, 2019

BÀI THƠ TỨ TUYỆT VÔ ĐỀ - Nguyên Lạc


             
                        Tác giả bài viết Nguyên Lạc


            BÀI THƠ TỨ TUYỆT VÔ ĐỀ
                                                                            Nguyên Lạc    

VÀI HÀNG TIỂU SỬ

1. HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ SĨ

 a.
- Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ tục danh Phạm Văn Thương sinh ngày 15 tháng 2 năm 1943 tại Paksé, Lào. Thầy quê tại Quảng Bình, Việt Nam, là một học giả uyên bác về Phật giáo, nguyên giáo sư thực thụ của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với Chính phủ Việt Nam. Ông hiện là Đệ nhất phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. 
- Thầy thông thạo tiếng Trung Hoa, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức. Thầy được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung Hoa và tiếng Nhật. [Viết theo Wikipedia]


         
                                      Thiền sư Tuệ Sĩ

b.
TUỆ SỸ, MỘT THIÊN TÀI CỦA VIỆT NAM :
Thầy xuất gia từ thuở còn thơ và sống ở Lào, làm chú tiểu Sa Di sớm chiều kinh kệ, công phu bái sám, đó là bổn phận của người làm điệu, trong nếp sống nhà chùa. Bằng bản chất thông minh, thiên tư từ thuở nhỏ, cho nên sau khi xuất gia, Thầy đã miệt mài học hỏi kinh điển, siêng năng nghiên cứu nghĩa lý đạo mầu.  Quí sư Lào sau một thời gian dạy dỗ, thấy được trí tánh thông minh của Thầy, chư sư Lào tự thắy không đủ khả năng dạy nữa, để không làm mai một thiên tư trác việt, trí tuệ tuyệt vời, các vị Bổn sư Lào đã gởi Thầy về Việt Nam, cho quí Hòa thượng tiếp tục hướng dẫn, dạy dỗ.

Thầy được đưa về Huế, cùng tu học với quí chư Tăng và thành đạt sở học một cách nhanh chóng. Do vậy, sau một thời gian tham học với chư Tổ Đức về phần kinh luật và chữ Nho, Thầy đã thông suốt và tự mình phát huy sở học mà không cần thầy dạy. Từ đó, Thầy tiếp tục vân du tham học ở chư bậc kỳ tài, hữu danh đương thời, lần hồi Thầy đã vào Sài Gòn để tiếp tay xây dựng và giáo dục đàn em, học trò của mình. Là vị giáo sư gương mẫu, nồng cốt của Đại học Vạn Hạnh, mà cứ mỗi lần gặp nhau thăm hỏi, những người đồng nghiệp đều gọi Thầy là "chú Sỹ" vì Thầy còn quá trẻ.

Thầy phụ trách dạy tại Đại học Vạn Hạnh chương trình Triết học Tây phương, văn học Đông Phương, luận đề Phật giáo : triết học Tánh Không, Trung Quán luận, A Tỳ Đạt Ma, đại cương Thiền Quán... Mặc dầu ở vào lứa tuổi đôi mươi, nhưng Thầy đã đóng góp một phần không nhỏ trong nền văn hóa, giáo dục của nước nhà và Thầy đã xuất sắc hơn trong lãnh vực ngôn ngữ : sinh ngữ và cổ ngữ. Thầy tự học, rèn luyện lấy chính mình vì vậy mọi người ai cũng kính mến, thán phục và có nhiều bạn vong niên dưới mái trường Đại học Vạn Hạnh.
                                                          [Viết theo Thích Nguyên Siêu]

2. THI SĨ BÙI GIÁNG

Thi sĩ Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.mất ngày 7 tháng 10 năm 1998 tại Sài Gòn. Ông  là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông là: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng...Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ Mưa nguồn.
Ông là nhà trí thức lớn, là giáo sư đại học, là học giả, dịch giả, là triết gia, là thi sỹ, là phù thuỷ ngôn ngữ, là kẻ lãng du thiên tài không màng thế sự...

         
                              Thi sĩ Bùi Giáng


BÀI THƠ TỨ TUYỆT XƯA

Các bạn thơ chắc ai cũng biết bài tứ tuyệt rất nổi tiếng của Trương Kế (nhà thơ Trung Quốc, thời Đường Túc Tông). Đây là bài thơ.

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hà San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
                                           Trương Kế

NỬA ĐÊM ĐẬU BẾN PHONG KIỀU

Trăng tà tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
                              Nguyễn Hàm Ninh dịch

(Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hàm Ninh, thường bị nhầm là bản dịch của Tản Đà - Wikipedia)


BÀI THƠ TỨ TUYỆT NAY

Theo tôi, bài tứ tuyệt VÔ ĐỀ sau đây cũng hay không kém.
Lạ lùng thay, bài tứ tuyệt này được hai người nổi tiếng làm:  Đó là thầy Tuệ Sỹ và thi sĩ Bùi Giáng. Thầy Tuệ Sỹ làm hai câu đầu, Bùi Giáng tiếp theo hai câu cuối.
Đây là bài tứ tuyệt của hai người:


VÔ ĐỀ

 Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
 Hiện tiền vi liễu lạc hoa phi.  
                                     (Thầy Tuệ Sỹ)

 Phiêu bồng tâm sự, tân toan lệ, 
 Trí hải đa tàm, trúc loạn ty.          
        (Thi sĩ Bùi Giáng tiếp thơ)

Dịch thơ:

Tôi tạm dịch thoát như sau:

Đêm sâu bóng nghiệp theo làn gió
Rõ ràng làm lạc liễu hoa bay
Tâm sự nhẹ dâng cùng lệ khổ
Biển học thẹn lòng trúc tơ  xoay (*)
                              (Nguyên Lạc)

***
Tính nhân bản là một thuộc tính của thơ hay, nước nào cũng có, chỉ có trước hay sau thôi. Nước người có thì nước Việt chúng ta cũng có. Hãy trân trọng cái hay cái đẹp của tiền nhân, của đất nước.

                                                                                 Nguyên Lạc     
.................

Chú thích:

(*) -  Rừng trúc như tơ rối: không thâu đắc được.
                                                  (Trần Việt Long)

- Trí hải:  biển hiểu biết (biển học), nhưng cũng là Trí Hải, tên của một ni sư. Thi sĩ Bùi Giáng  muốn đùa giỡn với thầy Tuệ Sỹ

 [Có tham khảo các bản dịch: Hoàng Quốc Bảo, Trần Việt Long - trang art2all]

@ Phần phụ lục

1. Tuệ Sỹ

Sẵn đây, Nguyên Lạc xin giới thiệu thêm bài thơ KHÔNG ĐỀ của thầy Tuệ Sỹ làm sau này. Bài thơ này khác với bài thơ tứ tuyệt Vô Đề ở trên, gồm 3 khổ như sau:

KHÔNG ĐỀ

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn 
                                               Tuệ Sỹ

2. Bùi Giáng

Nguyên Lạc cũng xin giới thiệu thêm bài dịch thơ G. Apollinaire của trung niên thi sĩ Bùi Giáng. Bài thơ dịch nổi tiếng này đã được nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy phổ nhạc: "Mùa Thu Chết". Bài này rất nổi tiếng trong thập niên 70 tại Sài Gòn, và gắn liền với tên tuổi ca sĩ Julie Quang.

LỜI VĨNH BIỆT

Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng đựợc nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó…
                                         Bùi Giáng dịch

(“Ði vào cõi thơ”. Bùi Giáng, trang 80-82, nhà xuất bản Ca Dao, Sàigòn, Việt Nam.1969)

Nguyên tác:

L’ADIEU

J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends
                                     Apollinaire

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

LỜI MẸ RU - Thơ Phạm Văn Bình


             
                                   Nhà thơ Phạm Văn Bình


GIỚI THIỆU THƠ PHẠM VĂN BÌNH

Phạm Văn Bình (1940 - 2018), tác giả có 2 bài thơ “Chuyện tình buồn” và “12 tháng anh đi” nổi tiếng được Phạm Duy phổ nhạc, còn nhiều thi phẩm khác tản mác trong báo chí trước năm 1975.
Vừa rồi, tôi ngồi nói chuyện với một người bà con nguyên là học trò của Phạm Văn Bình trong thời gian Phạm Văn Bình dạy ở trường trung học Bán Công Đông Hà (1963 - 1966).
Người học trò này đọc thuộc lòng cho tôi nghe bài thơ sau đây do Phạm Văn Bình sáng tác.
Tôi muốn đưa bài thơ lên đây xem như một hình thức lưu giữ và mời bạn đọc thưởng thức.
                                                                                       Hoàng Đằng


LỜI MẸ RU

Khúc hát đó dẫn con vào thơ ấu,
Lời Mẹ ru mềm nhịp võng thời gian,
Những đêm nao như chớp bể mưa nguồn,
Tiếng hát Mẹ ngọt ngào như dòng sữa,
Con đau ốm Mẹ thuốc thang từng bữa,
Con ngủ say Mẹ ôm ấp từng đêm,
Mẹ nguyện cầu khi con Mẹ lớn lên,
Đời đẹp như bài ca dao kể chuyện tình đôi lứa
Và quê hương khổ đau và Việt Nam khói lửa,
Việt Nam hận thù, dân tộc điêu linh,
Hai mươi mấy năm nay xương máu chất chồng.
Nhịp mõ cầu siêu vọng về bi thảm.
Niềm tủi nhục trùm lên từng thân phận.
Cuộc sống bơ vơ vì thiếu tình người.
Khuôn mặt héo hon nào thấy nụ cười.
Kiếp sống lưu đày như loài rêu xanh vật vờ ngoài biển đảo.
Con thất thểu bước đi như tê giác đấu
Chung quanh con bầy sư tử nhe răng,
Đấu trường là cuộc đời hừng hực lửa hờn căm.
Con khao khát ánh trăng rằm dịu mát.
Mẹ ơi Mẹ phải chăng quả đất này là sa mạc
Và con người lữ hành cô độc
Của cuộc hành trình dằng dặc một trăm năm.
Bài ca dao ngày xưa xin Mẹ hát giùm con,
Xin Mẹ mớm vào hồn con bầu sữa ngọt,
Lời phủ dụ êm như dòng mật rót
Như nước cam lồ như suối tình thương
Mười ngón tay sầu xin Mẹ hãy biến cành dương
Tưới nhân ái lên Việt Nam đau khổ
Cho đất nước bình an, hận thù sụp đổ.
Mùa xuân diễm kiều trong ánh mắt em thơ.
Mẹ cho con gục đầu vào lòng Mẹ như ngày xưa
Trong khúc hát ru hời, nôi đưa đẩy nhịp.
Những ngày xuân, những ngày xuân nối tiếp,
Nước sông Hồng không nhỏ lệ thương đau,
Nước sông Hương thôi chứa chất u sầu,
Nước sông Cửu Long ruộng đồng bát ngát.
Lời ru Mẹ sẽ thành ghềnh thành thác
Cuốn đau thương ra khỏi tổ quốc Việt Nam.
Con nằm gối đầu lên ải Nam Quan,
Chân gác nhẹ xuống Cà Mâu thân mến,
Tay ôm dãy Trường Sơn, tay lùa trong sóng biển.
Mẹ nhìn con, ôi trìu mến nụ cười.
Hoa tự do nhân ái nở khắp trời

                                                                       Phạm Văn Bình