BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI KỶ HỢI 2019 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÙI GIÁNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÙI GIÁNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

ĐỌC “BỊN RỊN TRẦN GIAN” CỦA LÊ THỊ QUỲNH DUNG VÀ “PHỤNG HIẾN” CỦA BÙI GIÁNG - Châu Thạch


        
                    Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC “BỊN RỊN TRẦN GIAN” CỦA LÊ THỊ QUỲNH DUNG VÀ  “PHỤNG HIẾN” CỦA BÙI GIÁNG
                                                                                    Châu Thạch

Sẽ có người không đồng ý khi tôi đem thơ Lê Thị Quỳnh Dung và Bùi Giáng để cạnh nhau. Họ sẽ cho rằng sự so sánh nầy thật là khập khiễng. Thật ra tôi chỉ muốn tá khách hai bài thơ vào nhau để được nhìn hai cái đẹp được trọn vẹn từ những góc cạnh của nó. Tôi không hề muốn so sánh mức độ cao thấp, vai vế trên văn đàn, hay nhiều hoặc hay ít của mỗi bài thơ. Cái đó tùy cảm nhận của mỗi cá nhân, người đọc sẽ tự thấy khi thưởng thức nó. Hai bài thơ của hai tác giả ở thời đại khác nhau, ý tưởng thơ họ giống nhau mà phong cách thơ họ khác nhau, cùng bin rịn trần gian và cũng phụng hiến trần gian. Tiếng lòng họ giống nhau nhưng tiếng thơ họ khác nhau, như hai loại đàn riêng biệt cùng hòa âm một cung đàn, vọng vào hồn ta một bản nhạc vàng êm ái.   
Đầu tiên ta hãy nghe cả hai nhà thơ thương tiếc và bịn rịn trần gian nầy nếu họ phải lìa đời:

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

VỀ THƠ BÙI GIÁNG, NÓI THẾ NÀO CHO PHẢI ? - Trần Nhuận Minh


        
                Nhà thơ Trần Nhuận Minh


Tiểu sử Nhà thơ Trần Nhuận Minh:
Nhà thơ Trần Nhuận Minh quê ở làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Bút danh: Trần Nhuận Minh, Trần Bình Minh
Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1982, uỷ viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam.
Hiện ông đang sống và viết tại Hạ Long, Quảng Ninh.
Nhà thơ Trần Nhuận Minh là anh ruột nhà thơ Trần Đăng Khoa (người nổi tiếng là thần đồng thơ văn ở miền Bắc những năm 1966-1971, từ khi mới tám tuổi)


       VỀ THƠ BÙI GIÁNG, NÓI THẾ NÀO CHO PHẢI ?
                                                                   Trần Nhuận Minh
                                                                                 
      Tôi đọc thơ Bùi Giáng cũng được khoảng 2 -300 bài và tương đối hệ thống trong mươi năm trở lại đây.
      Tôi cũng đọc rải rác hầu hết các bài viết về Bùi Giáng. Nói chung là hơi giông giống nhau của nhiều tác giả. Có người so Bùi Giáng với Nguyễn Du. Có người cho rằng, phải đến Bùi Giáng, thì thơ Việt Nam mới có biển có trời. Sự sáng tạo trong ngôn ngữ thơ Bùi Giáng là rất rõ, nhưng ca ngợi đến mức ấy, tôi cho là quá lời. Và như thế, dù không muốn, cũng là cách làm hại ông.

       
                             Nhà thơ Bùi Giáng

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

TƯỞNG NHỚ 20 NĂM NGÀY BÙI GIÁNG RA ĐI (7/10/1998)

Nguồn:
https://kontumquetoi.com/2018/10/02/tuong-nho-20-nam-ngay-bui-giang-ra-di7-10-1998/

          

                   TƯỞNG NIỆM 20 NĂM BÙI GIÁNG 
                   “ĐI LÀ ĐI BIỆT TỪ KHI CHƯA VỀ” 
                                        (1998-2018)

Năm 17 tuổi, đang học ở trường Viên Minh – Hội An, Bùi Giáng phải lòng và kết hôn với một nữ sinh xinh đẹp cùng tuổi cùng lớp – bà Phạm Thị Ninh. Kháng chiến nổ ra, Bùi Giáng bỏ học đưa gia đình vợ tản cư lên Trung Phước. Ngày ngày, Bùi Giáng cùng người em vợ là Phạm Văn Hoà vào núi chăn dê đọc sách. Ông Hoà, hiện đang sống ở Hội An, trí nhớ còn minh mẫn (thời điểm năm 2002 – tác giả), kể: “Dạo ấy chúng tôi thường thả dê ở Gò Lu, bầy nhiều cả trăm con. Gia đình khá nên chỉ nuôi chứ chẳng bán, cũng chẳng thịt. Anh Sáu Giáng thỉnh thoảng vắt sữa dê hâm nóng đưa cho cha mẹ và vợ. Đi chăn dê, ảnh mang theo cả gùi sách tây tàu, đọc miết”. Do phải trèo đèo lội suối tránh bom đạn, bà Ninh đã bị sẩy đứa con duy nhất của hai người. Rồi lam chướng núi rừng cuối cùng cũng đang tay cướp nốt người vợ nữ sinh phố thị của chàng thi sĩ, khi nàng mới tròn 26 tuổi.

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2018

BÙI GIÁNG MỘT BÀI THƠ LẠC VẬN - Nguyễn Đình Toàn

Nguồn:
https://haibatrung12e1985.wordpress.com/2012/10/28/bui-giang-mot-bai-tho-lac-van/

        
                       Bùi Giáng trước cà phê Mưa Nguồn


           BÙI GIÁNG MỘT BÀI THƠ LẠC VẬN
                                                 Nguyễn Đình Toàn

Bùi Giáng đã được nói đến nhiều. Mỗi người đọc ông nói đến ông theo một cách. Người ta nói đến thơ ông, nói đến tư tưởng của ông, nói đến cách thế ông sống, tùy theo cách nhìn của mình.
Người ta nhìn thấy ở ông, rõ hơn, kiến thức của ông, tư tưởng của ông, như một hội tụ lớn của tư tưởng Đông Tây.
Người ta cũng nói đến ông như một người điên.
Nếu ai có dịp nhìn thấy ông mang trên mình đủ các thứ: nồi, niêu, xoong, chảo, vành bánh xe đạp, đầu đội mũ sắt, tay cầm một chiếc gậy, đứng giữa đường, thổi còi, vung tay chỉ lối cho xe cộ, thì coi ông là một người điên cũng không gì quá đáng.
Nhưng cũng người điên ấy, vai mang một tấm biển, đi rong qua các phố, trên tấm biển có những dòng chữ viết tay:

Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Khi không anh bỗng nhảy tưng lên trời

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

BÙI GIÁNG BÁN CHÁO GÀ - Lê Duy Đoàn


                              
                                     

              BÙI GIÁNG BÁN CHÁO GÀ
                                                  Lê Duy Đoàn

        Câu nói “Việt Nam ta ra ngõ gặp anh hùng” hay “nhiều người ngoại quốc mơ ước sáng ngủ dậy thấy mình là người Việt Nam” được lặp đi lặp lại từ học đường đến các phương tiện truyền thông đại chúng của Việt Nam sau năm 1975. Đã là người Việt mà đứng ngoài ngõ thì có thể đó là anh hùng.  Một nhà thơ nổi tiếng vì tài hoa, trí tuệ nhưng có vẻ bên ngoài thuộc hàng điên ngoại hạng mà vỗ ngực xưng mình là anh hùng thì đó là chuyện lạ vô cùng. Nhưng không sao, ông ấy là người Việt.

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

BÙI GIÁNG BÌNH THƠ "KẺ Ở'

"KẺ Ở " là môt bài thơ độc đáo được giới yêu thơ ở miền Nam trước 1975 chép tay và chuyền nhau đọc. Đặc biệt "KẺ Ở" được thi sĩ BÙI GIÁNG viết lời bình và nhạc sĩ CUNG TIẾN phổ nhạc. Do hoàn cảnh chiến tranh, thiếu tư liệu văn học để tham khảo nên thi sĩ BÙI GIÁNG và nhạc sĩ CUNG TIẾN cũng như rất nhiều người cho rằng tác giả bài thơ "KẺ Ở" là QUANG DŨNG. Thực ra, bài thơ đó chính là bài "DẶM VỀ" của nhà thơ NGUYỄN ĐÌNH TIÊN. Dù có chút nhầm lẫn về tác giả bài thơ, nhưng thi sĩ BÙI GIÁNG đã rất tài hoa khi bình thơ - Một cách bình thơ đặc dị "rất Bùi Giáng". Xin mời đọc !


                            Thi sĩ Bùi Giáng
        BÙI GIÁNG BÌNH THƠ : "KẺ Ở"

Mai chị về em gửi gì không
Mai chị về nhớ má em hồng

      Chỉ hai câu đầu đã khiến người tê lạnh. Không có gì cả, không lời nào tha thiết, nhưng đúng như ông Huy Trân nói: “Thơ Quang Dũng ý đã nhiệt thành, cao đẹp, mà lời thơ lại êm ái gợi cảm vô cùng. Nói về thơ nhẹ nhàng, êm dịu, mà đọc tới đâu lâng lâng chết cả lòng đến đấy, thì thi ca hiện đại chỉ có Quang Dũng.”
     Thi ca hiện đại hay thi ca ngàn đời, thi ca Việt Nam hay thi ca thế giới – vâng – cũng chỉ riêng một Quang Dũng thôi.

Mai chị về em gửi gì không
Mai chị về nhớ má em hồng
Đường đi không gió lòng sao lạnh
Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong

   Đó là chỗ sơn cùng thủy tận của ngôn ngữ. Ngôn ngữ thần tiên hiển hiện tinh thể một cách không thấy hình hài máu me đâu cả. Người ta đã bao đời đi tìm cõi huyền nhiệm của ngôn ngữ thơ. Mỗi phen trở về, mỗi phen như bó tay lắc đầu, tuyệt nhiên không biết ăn nói ra sao cả. Đành chỉ nói quanh co. Và biết bao thy sỹ hoằng viễn đã nghĩ rằng, nguyệt rằng, mình sẽ suốt đời không làm một vần thơ nào cả - một phen để hội cái chỗ dị thường trống trải vắng vẻ trong lời man mác thiên tiên kia.
    Lại có những nhà tư tưởng như Heidegger, viết bao pho sách lịch kịch nêu bao câu chất vấn u ẩn, đáo cùng vẫn chỉ nhằm mục đích nhiếp dẫn tư tưởng tới chỗ mép bờ bất khả tư nghị của thi ca.
  Nerval sau những lần thành tựu cõi miền ngôn ngữ đó, ông bèn lao mình vào cõi ẩn mật vô ngần của một nguồn siêu thực không tiếng không lời Les Chimères.
  Apollineire, sau phút dị thường bước lên tột đỉnh đạm nhiên kia, lập thời nhảy lùi làm thơ theo thể thái bông lông tầm phào, bất sá lam hồng tố bạch.

Mai chị về em gửi gì không?

    Câu hỏi cũng lững lờ như lời đáp cũng lửng lơ. Hỏi mà cũng không hỏi, không nói, không ngó, không nhìn nhau …Và chỉ sau khi lên ngựa, chia bào, con người mới để lòng mình bay tỏa khắp đường đi.

Đường đi không gió lòng sao lạnh
Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong

     Tâm sự của người đi, nhưng nhan đề là kẻ ở. Kẻ ở hay người đi cũng một tâm tình ly biệt. Đi giữa không gian, thì cũng như đứng ở trên dâu biển. Lòng sao lạnh? Vì lòng mang chứa tất cả khoảng vắng lạnh? Vì lòng mang chứa tất cả khoảng vắng lạnh không gian… Và tiếng “mong nhớ mong” kia cũng chỉ vọng vào được trong không gian xa hút mà thôi.
     Nghĩa là vọng trở lại vào lòng mình. Từ lòng mình toả vào lòng vũ trụ. Lại từ lòng vũ trụ dội lại lòng mình. Đó là cái vòng kỳ ảo của mong nhớ mong. Và mong nhớ mong mênh mông như thế, thì mong nhớ mong là cõi của từ bi tế độ vậy.

Quê chị về xa tít dặm xa

   Vì đó là một quê hương nào riêng biệt nằm tại một bến bờ bỉ ngạn nào vô tức vô thanh, vô biên vô tế.

Quê chị về xa tít dặm xa
Rừng thu chiều xao xác canh gà
Hoa rơi khắp lối sương muôn ngả
Ngựa lạc cành hoang qua lướt qua

    Ngựa lạc? Dẫu ngựa không lạc đường vẫn cứ là lạc nẻo. Nghĩa là: ở trong cõi hư không bao la như thế, thì đâu cũng là lênh đênh, nhưng lênh đênh theo nghĩa vô ngần: trụ vô sở trụ.
    Người ngồi trên ngựa cũng lạc ngựa luôn. Hươu trong rừng cùng một cảnh ngộ lạc loài như nhau, lại tam trùng lạc lõng nhau, vì bất ngờ sợ hãi nhau, quay đầu bỏ chạy. Lời thơ lại thêm một chút niêm hoa vi tiếu “theo ngó theo”.

Ngựa chị dừng bên thác trong veo

     Nếu thác đục lầy cho một chút, ắt có phần gần gũi bụi hồng hơn. Nhưng tại sao thác lại trong veo cắc cớ ra như thế? Thì trần gian còn biết đem tâm sự hồng trần ký thác vào đâu? Đó là chỗ đạm nhiên huyền bí lô hỏa thuần thanh vậy. Nó đốt cháy linh hồn bằng một tiếng trong veo. Nhưng đốt cháy mà đâu có bỏng da bỏng thịt. Nó cháy để thăng hoa cho linh hồn về ba la mật, sau một phút linh hồn tạm dừng trong một phen tư lự. Vì dù sao trận giũ áo cũng còn vướng víu với nhân nghĩa nhân tình.

Ngựa chị dừng bên thác trong veo
Lòng chị buồn khi nắng qua đèo
Nơi đây lá giạt vương chân ngựa
Hươu chạy quay đầu theo ngó theo

   Rồi sẽ xin khóc một cơn vô ngần cho trùng sinh trong vĩnh biệt:

        Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang
Ngựa chị dừng bên thác sao vàng
Sao rơi đáy nước vương chưn ngựa
Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng

  Ta lại gián tiếp với một sự tình kỳ dị. Nói ra là buồn dưng đôi mi hàng lại hàng, nhưng có bao giờ mối sâu mênh mông và hầu như vô đối tượng lại tràn ra thành hàng lệ. Nhưng đây là hàng lệ riêng biệt của hư không đi về vui chơi êm đềm với không hư thái thiên nhiên tĩnh tịch. Người ta có thể khóc, nhưng không phải khóc vì một mối đoạn trường riêng tây trong một cảnh ngộ nhất định.

   Hoặc đâu có phải bạ đâu khóc đó như bọn thy sỹ trung niên. Người ta khóc từ chín kiếp khóc về; như trận mưa vốn từ thiên thu rớt hột. Vì thế nên gọi là hàng lại hàng. Vì thế nên có chuyện sao rơi đáy nước. Vì thế nên có chuyện sao vương chưn ngựa. Chưn ngựa ở đây cũng mang đủ trùng quan thời gian vũ trụ nên mới có thể chạm vào bóng sao rơi từ thời gian tinh thể rớt về. Người và ngựa và sao và nước bỗng nhiên như nhiên đã đi vào cõi chung vạn vật nhất thể. Thì từ đó trở lại với đoạn đầu, từ câu hỏi mông lung tới lời đáp nhẹ nhõm, niềm mong nhớ mong là một tặng vật không lời, không nhất định là riêng biệt của riêng ai trao gửi lại cho ai. Người chị và người em kia cũng không có tên tuổi nào được hạn định nơi đâu. Đó là hai đứa con của trời và đất đẻ ra trong một mùa xuân hôn phối. Thì mai chị về em gửi gì không, là gửi cho chị hay cho ai? làm sao ta dám quyết định? Chỉ biết rằng: chị hãy nhớ má em hồng. Nghĩa là: mùa xuân xanh còn tồn lưu mãi mãi trong mùa thu ly biệt. Đó là tặng vật của em trời trao chị đất – nhớ má em hồng là ký ức kỳ ảo Mnémesyne.

  Chẳng hiểu sao đọc thơ Quang Dũng, Nguyễn Du, Hồ Dzếnh, Huy Cận, tôi thường nghĩ tới người Chiêm Thành. Tội lỗi ông cha chúng ta đối với dân tộc ấy kể cũng được chuộc phần nào, cũng như ngày xưa Homère đã giải oan cho người Troyens bị đắm chìm bởi người Hy Lạp.
  Mấy bài thơ của Quang Dũng như giữ lại cho mọi người một niềm tương ứng mênh mông trong thời đại ngỗn ngang oan nghiệt, thế giới cùng xô ùa nhau vào hủy diệt, tàn phá, trong những trận tẩu hỏa nhập ma. Chiến tranh trong thời Quang Dũng dù sao cũng còn để lại cho người một dư địa để hoài niệm nhớ thương nhau. Nhưng dần dà, chút tình thương còn sót cũng mất đi giữa hỗn độn. Lúc bấy giờ e chỉ còn cửa quỷ đối thoại với nhà ma. Quang Dũng cũng linh cảm sự đó, nên bài “Đôi Mắt Người Sơn Tây” khép lại với mấy tiếng “bao giờ, bao giờ” ngậm ngùi khôn tả:

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn?
Về núi Sài Sơn ngóng lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ ta gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc màu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta

  Khoảng trống lại trở về ngập khắp mép bờ ngôn ngữ. Như muốn đánh chìm hết mọi lời thân thiết đã thốt ra. Chúng ta không còn biết phải giải thích thơ Quang Dũng ra sao được nữa cả.

Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa

  Nhưng có lẽ ông không tin ở ngày ấy, ông không nghĩ rằng ngày nở hoa ấy sẽ về. Còn có bao giờ em nhớ ta? Nghĩa là không còn có bao giờ nữa cả? Chúng ta sẽ tiếp tục chết hết. Người ta sẽ tiếp tục giết nhau cho tới buổi chung cục thời gian. Cuộc chiến tranh ngày nay không còn chút gì giống như chiến tranh những thời đại trước. Có những cuộc chiến tranh huy hoàng như một trận mưa rào rực rỡ, làm hồi sinh con người trong tâm thức từ bi. Nhưng có những cuộc chiến tranh vốn từ trong tinh thể là làm tan rã tiêu diệt mất bản tính con người. Ngay cả con ngợm, con đười ươi cũng không còn sống sót một mống nào hết cả. Thì như thế? Còn có bao giờ em nhớ ta?
   Người ta nhầm lẫn một cách kỳ quặc cái ý nghĩa sơ thủy của chiến tranh. Cuộc chiến tranh bao dong của những ông Nguyễn Huệ, chiến tranh bác ái của những ông Napoléon, chiến tranh đó không còn tự nhận diện ra mình nữa trong cuộc chiến tranh tàn phá ngày nay. Tolstoi ngày xưa chẳng hiểu gì về Napoléon hết cả, cũng như chúng ta ngày nay chẳng hiều gì cả về cuộc chiến tranh của chúng ta. Thật là cắc cớ. Còn có một chân lý dị thường ẩn tàng trong Dịch Kinh của Khổng Tử đang khiến mọi người tư tưởng ngậm ngùi không còn biết phải thốt bất cứ một lời gi trong hiện trạng năm châu. Bài thơ Quang Dũng hiện ra tại chỗ chênh vênh bát ngát và thê thảm nhất trong sử lịch con người. Nó chỉ đạm nhiên và thống thiết khơi rộng những khoảng trống vắng ra để cho mọi vấn đề được nhận định và tự tìm lời giải đáp.

   Bàn luẩn quẩn mãi là vô lối. Chỉ nên thong dong đọc thơ như uống nước mía, như dõi theo cánh chuồn chuồn, như nằm ngủ gọi em Thúy Kiều em Thúy Vân em Đạm Tiên, em Hoạn Thư em Bạc Hạnh, em Sở Khanh, em Mã Giám Sinh, mọi mọi em em của em Tố Như Tử em Liệp Hộ em Thanh Hiên, em Hiền em Thánh, em Cành em Nhánh, em Trái Ớt, em Muối Tiêu, em Soài Riêng sa rụng, em Bương Cấn em Sài Sơn…

        Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngóng lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắc thổi đêm trăng.

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngóng lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắc thổi đêm trăng.

  Tuy nhiên riêng đối với học sinh đang tập đi thi để cuối năm cưới vợ thì chớ nên lẩn thẩn chiêm bao đọc thơ nhiều quá.

                                                                                  BÙI GIÁNG

                 .....................


GHI CHÚ:
Tiểu sử:
Tên thật: Nguyễn Đình Tiên
Sinh năm: 1924
Năm mất:  1995
Nơi sinh: Thanh Hoá       
Bút danh: Nguyễn Đình Tiên
Thể loại:  Thơ
Các tác phẩm:
DẶM VỀ
Giải thưởng văn chương
Giới thiệu một tác phẩm:

DẶM VỀ

Mai chị về, em gửi gì không
Mai chị về nhớ má em hồng
Đường đi không gió, lòng sao lạnh?
Bụi vượt ngang đầu mong nhớ mong.

Quê chị về xa tít dặm xa
Rừng thu chiều xao xác canh gà
Sương buông khắp lối đường muôn nẻo
Ngựa lạc cành hoang qua lướt qua.

Ngựa chị dừng bên thác trong veo
Lòng chị buồn khi nắng qua đèo
Nơi đây, lá rạt vương chân ngựa
Hươu chạy theo đàn, theo ngó theo.

Rừng đêm nhoà bóng nhớ hoang mang
Ngựa chị vừa qua thác sao vàng
Sao trôi đáy nước, rơi chân ngự
Buồn dựng đôi mi, ngàn lại ngàn.

              NGUYỄN ĐÌNH TIÊN
                      (Thu 1945
 Nơi xuất bản: NXB Lao động - 2001)

Nguồn:
http://maxreading.com/sach-hay/cac-nha-tho-viet-nam-the-ky-20/nguyen-dinh-tien-7447.html  

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

MÙA THU – APOLLINAIRE – BÙI GIÁNG – PHẠM DUY - HOA THẠCH THẢO - La Thụy sưu tầm và biên tập


       


MÙA THU - APOLLINAIRE - BÙI GIÁNG - PHẠM DUY - HOA THẠCH THẢO

          Sắc màu thu đã gieo nhiều cảm hứng cho hồn thơ tứ nhạc. Nhiều bài thơ, bản nhạc viết về THU dù đã trải qua bao năm tháng phôi pha vẫn in đậm nét trong lòng người thưởng lãm. Là người yêu nhạc (loại nhạc có air “bán cổ điển”), ai mà không thuộc các bản “Buồn tàn thu” của Văn Cao, “Giọt mưa thu”, “Đêm thu”, “Con thuyền không bến”… của Đặng Thế Phong , “Thu quyến rũ” của Đoàn Chuẩn Từ Linh , “Thu vàng” của Cung Tiến, “Em ra đi mùa thu” của Phạm Trọng Cầu, “Chiếc lá thu phai” của Trịnh Công Sơn , “Mùa thu Paris” của Phạm Duy, “Thu hát cho người” của Vũ Đức Sao Biển, “Thu ca” của Phạm Mạnh Cương v.v… Đặc biệt, bản “Mùa thu Chết” của Phạm Duy, bản nhạc hay nhưng có nhiều thắc mắc về xuất xứ của ca từ.
         Bản nhạc này lấy ý của bài thơ “ L’ADIEU” của Guillaume Apollinaire, điều này có lẽ được nhiều người chấp nhận. Tuy nhiên lời Việt của bản nhạc “Mùa thu chết” thì không ít ý kiến cho rằng là do chính thi sĩ Bùi Giáng chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Pháp bài “L’ADIEU” nói trên, Phạm Duy chỉ phổ nhạc mà thôi. Để nhìn nhận cho khách quan, ta thử đối chiếu nguyên tác với bản dịch của Bùi Giáng và lời nhạc của Phạm Duy .

 a/ Bài thơ của Apollinaire :

           L'ADIEU

           J'ai cueilli ce brin de bruyère

           L'automne est morte souviens-t'en
           Nous ne nous verrons plus sur terre
           Odeur du temps brin de bruyère
           Et souviens-toi que je t'attends

           GUILLAUME APOLLINAIRE


b/Bản dịch của thi sĩ Bùi Giáng :

           LỜI VĨNH BIỆT

           Ta ngắt đi một cành hoa thạch thảo (*)

           Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi 
           Chúng ta sẽ không tương phùng được nữa
           Mộng trùng lai không có ở trên đời
           Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
           Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó... 

                                                   BÙI GIÁNG

   (*) Câu này còn có dị bản:

          Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo

c/ Ca từ trong bản “Mùa thu chết” của Nhạc sĩ Phạm Duy :

           MÙA THU CHẾT

           Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo

           Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi !
           Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
           Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
           Mùa Thu đã chết, đã chết rồi. Em nhớ cho !
           Em nhớ cho,
           Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
           Trên cõi đời này, trên cõi đời này 
           Từ nay mãi mãi không thấy nhau
           Từ nay mãi mãi không thấy nhau...
           Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
           Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi !
           Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
           Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.
           Vẫn chờ em, vẫn chờ em
                 Vẫn chờ....
                                    Vẫn chờ... đợi em !

                                            PHẠM DUY


          Như vậy, xem hai bản dịch nói trên, chúng ta thấy, chỉ có 2 câu đầu tiên là giống nhau thôi, thi sĩ Bùi Giáng chuyển ngữ tựa đề “LỜI VĨNH BIỆT” rất sát với nguyên ngữ “L’ADIEU”, trong bản dịch ông có dùng từ Hán Việt : “tương phùng”, “mộng trùng lai”, toàn bài dịch hơi thoát ( thêm câu “ Mộng trùng lai không có ở trên đời”). Riêng nhạc sĩ Phạm Duy thì trừ cái tựa bài nhạc “Mùa thu chết” là dịch có khác với nguyên ngữ, còn lại lời nhạc toàn bài dịch khá sát với nguyên tác. Lời dung dị nhưng cảm động. Phạm Duy khi phổ nhạc thì ở phần ca từ có thể chuyển dịch vị trí các câu thơ và có thể thay đổi từ ngữ, nhưng nhờ vậy bản nhạc có sắc thái riêng làm cho bài thơ được phổ có sức sống mới và giới yêu nhạc đón nhận nồng nhiệt, chính ngay nhiều tác giả có thơ được phổ nhạc cũng đồng tình như thế. Riêng Bùi Giáng, chính trong bài “Lời vĩnh biệt “ ông lại chuyển dịch 2, 3… lần nữa thậm chí chuyển dịch ra lại tiếng Pháp. (Mời xem tiếp phần sau: "BÙI GIÁNG BÌNH THƠ APOLLINAIRE" và vài hình ảnh HOA THẠCH THẢO cũng trong bài viết này.)
            Khi bản nhạc MÙA THU CHẾT xuất hiện, nhiều người cho rằng Phạm Duy đang ám chỉ điều gì đó, có không ít ý kiến phản hồi. Riêng nhạc sĩ Châu Kỳ sáng tác bản nhạc " MÙA THU CÒN ĐÓ" với ca từ như sau :

             MÙA THU CÒN ĐÓ
             Cảm xúc vì nghe mùa thu chết 
             Tôi viết bài này thương tiếc bởi mùa thu 
                                                            Châu Kỳ

             Mùa thu ơi! Nghe nói rằng em đã chết
             Mùa thu ơi! Em còn đó hay chết rồi
             Em còn đó, em còn đó hay chết rồi…
             Thu! Em hãy nói, em hãy nói, nói đôi lời
             Rằng mùa thu vẫn sống dài trên sông núi
             Hồ thu xưa, trăng nhìn nước vẫn sáng ngời…
             Xin đừng nói, xin đừng nói thu chết rồi
             Không ! Thu vẫn sống, em vẫn sống, sống đời đời…
             Lạc vào vườn thu nghe lá vàng rơi xao xác
             Lạc vào vườn thu thương nai buồn đang ngơ ngác
             Dáng thu xưa vẫn chưa mờ, vẫn chưa mờ
             nói sao vừa, nói sao vừa
             nỗi mong chờ, đến bao giờ
             Này thu ơi, thương bóng hình em năm đó...
             Dù thu đi, trăng và gió vẫn ngóng chờ
             Xin đừng nói, xin đừng nói thu chết rồi !
             Không, thu vẫn sống
             Đem hình bóng cho cuộc đời…

                                                        Châu Kỳ
     

         

             BÙI GIÁNG BÌNH THƠ APOLLINAIRE 

                   Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
                   Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi

                   L'ADIEU
                   J’ai cueilli ce brin de bruyère
                   L’automme est morte souviens-t’en
                   Nous ne nous verrons plus sur terre
                   Odeur du temps brin de bruyère
                   Et souviens-toi que je t’attends.
                                         AP0LLINAIRE

                  Và nhớ nhé! Ta đợi chờ em đó

         Bài thơ chỉ vẽn vẹn chỉ có năm câu. Năm câu phiêu hốt mang thiên nhiên nằm giữa nền thi ca Tây Phương Hiện Đại – năm câu cũng đồ sộ như toàn khối Đường Thi Trung Hoa hay mấy vần tứ tuyệt của một Thôi Hộ.

                   Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
                   Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
                   Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
                   Mộng trùng lai không có ở trên đời
                   Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
                   Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó…

         Dịch ra làm sáu câu, tôi có phần áy náy. Nhưng không biết phải làm sao. Cái chất đạm nhiên bát ngát trong bài thơ Apollinaire đang trừ khử hết mọi lối dịch diễn, dịch di, dịch tinh, dịch thể. Cứ thử liều một trận xem sao.

                   Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
                   Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
                   Chúng ta sẽ chẳng nhìn nhau trên đất nữa
                   Hương thời gian nhành thạch thảo tí hon
                   Và nhớ nhé ta đợi chờ em nhé…

         Cũng tạm gọi là được. Nếu ta đem bài thơ bát ngát kia đặt vào giữa nguồn thơ mênh mông của Apollinaire ắt ta dám dịch nó ra làm lục bát Huy Cận, lục bát Nguyễn Du hoặc làm thất ngôn Du Nguyễn.

                   Đã hái nhành kia một buổi nào
                   Ngậm ngùi thạch thảo chết từ bao
                   Thu còn sống sót đâu chăng nữa
                   Người sẽ xa nhau suốt điệu chào

                   Em nhớ anh quên và em cũng

                   Quên rồi khoảnh khắc rộng xuân xanh
                   Thời gian đất nhạt mờ năm tháng
                   Tuế nguyệt ta đà nhị hoán tam.

          Dịch như thế là diễn giải một mùi hương ẩn tàng trong nếp gấp. Nhưng đâu có cần gì. Nếu như cần, thì tớ cứ buông bừa bút mực viết bừa thơ.

                   Mùa thu chết liễu nhớ chăng em?
                   Đã chết xuân xanh suốt bóng thềm
                   Đất lạnh quy hồi thôi hết dịp
                   Chờ nhau trong Vĩnh Viễn Nguôi Quên

                   Thấp thoáng thiều quang mỏng mảnh dường

                   Nhành hoang thạch thảo ngậm ngùi vương
                   Chờ nhau chín kiếp tam sinh tại
                   Thạch thượng khê đầu nguyệt điểu mang

                   Xa nhau trùng điệp quan san

                   Một lần ly biệt nhuộm vàng cỏ cây
                   Mùi hương tuế nguyệt bên ngày
                   Phù du như mộng liễu dài như mơ

                   Nét my sầu tỏa hai bờ

                   Ai về cố quận ai ngờ ai đi
                   Tôi hồi tưởng lại thanh kỳ
                   Tuổi thơ giọt nước lương thì ngủ yên.

      Dịch ra như vậy thì tiếp giáp với bài thơ “JE ME SOUVIENS":

                  Je me souviens de mon enfance 
                  Eau qui dormait dans un verre 
                  Avant les tempêtes l’espérance 
                  Je me souviens de mon enfance

                  Tôi hồi tưởng tuổi thơ ngày trước

                  Đáy ly nào giọt nước ngủ yên
                  Trước khi giông bão muộn phiền
                  Giậy cơn hy vọng cuối miền thơ ngây.

                  Je songe aux métamorphoses 

                  Qui s’épanouissent dans un verre 
                  Comme l’espoir et la tristesse 
                  Je songe aux métamorphoses 

                  C’est ma destinée que je lis 

                  Dans les reflets incertains 
                  Les jeux sont faits rien ne va plus 
                  C’est ma destinée que je lis 

                  Tôi nghĩ tới tháng ngày chuyển dịch

                  Những thay hình đổi dạng mở phơi
                  Trong ly nước mộng tuyệt vời
                  Với sầu dao động nỗi đời giao thoa 

                  Linh hồn định mệnh âm ba

                  Bóng vang khép mở đầu hoa mơ hồ
                  Hỡi ôi dâu biển xô bồ
                  Hồn trong định mệnh bây giờ đọc ra

                                       (Sương Bình Nguyên )

                                               BÙI GIÁNG

                  HOA THẠCH THẢO
                  Nguồn: Tài liệu tổng hợp từ internet

    Hoa bruyère trong thơ Guillaume Appolinaire đã được Bùi Giáng và Phạm Duy dịch là hoa thạch thảo. Tự điển Pháp - Việt giải thích hoa bruyère là một loài hoa chuông dại mọc trên cát sỏi. Nhưng ở Việt Nam, hoa Thạch thảo chính là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, Cúc Nhật. Chúng ta thử tìm hiểu về HOA THẠCH THẢO nhé!

* Hoa thạch thảo ở Việt Nam
          Hoa Thạch thảo (Aster amellus L) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Tại Việt Nam , người miền Nam hay gọi là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, người Bắc gọi là Thạch thảo. Thạch thảo hay mọc thành bụi, nhiều bông với cánh đơn xoè rộng ra. Hoa Thạch thảo có ba màu chính: tím, hồng, trắng. Thạch thảo ngày nay được lai tạo thêm thành loại hoa cánh kép. Hoa Thạch thảo cánh mối cũng như các loại hoa cúc thường nở vào mùa Thu, khi mà đa số các loại hoa khác đã tàn.
          Như vậy, hoa Thạch Thảo (hay cúc Sao, cúc Nhật, cúc Cánh Mối) là 1 tên Việt của loài Aster amellus L. thuộc họ Cúc (Asteraceae), tên Anh ngữ là Aster và Pháp là Astère.
          Nhóm Cúc (cả trồng làm hoa hay mọc hoang) thường được gọi chung là Chrysanthemum/Aster, trong đó các loài mọc hoang thường có 1 chùm lông ở cuối mỗi hột (khi trái chín) và phát tán nhờ gió (nên mọc hoang, rải rác vào mùa xuân khi có nắng ấm ở Âu châu, hoa chỉ sống trong vài tháng!). Các loài cúc trồng thì không phát tán tự nhiên được vì hột không có lông như Vạn Thọ (marigold), cúc Giấy (zinnia). Có loại được trồng từ hột, có loại trồng bằng củ; cúc Thạch Thảo (cúc sao/Aster), và nói chung loại nhiều loại cúc thường trồng từ cây con nhảy chồi (do mọc thành bụi, hoa thường bất thụ)


                        
                                     Hoa thạch thảo (cúc cánh mối)

            

           
                                           Hoa thạch thảo (cúc sao)

           

          





* Hoa Thạch Thảo ở Âu Châu

      Hoa Thạch thảo Âu châu là thuộc cây Bruyère (tiếng Pháp) hay Heather (tiếng Anh) còn gọi là Common Ling hay Briar.

Từ điển Sinh Học Anh Việt và Việt Anh, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật dịch heather là cây thạch nam. Erica. Trung hoa gọi là Hồng phương bách hay Thạch nam. Từ điển phổ thông Pháp Việt gọi là cây Thạch thảo.
Phân loại:
        Tất cả các loại thạch thảo đều trong gia đình Ericaceae, có một  loại hoa thạch thảo duy nhất thuộc giống Calluna, ngoài ra là loại Erica. Dưới đây là một số giống Erica khác nhau trong hàng vài trăm loại khác nhau trên thế giới.
        Loại Calluna vulgaris là loại thạch thảo thật sự (true heather), loại cây nhỏ, có hoa nhỏ hình chuông màu tím, hay hồng nhạt.
Loại Erica gồm nhiều giống khác nhau từ giống cây nhỏ mọc từng bụi nhỏ hoặc có thể là cây lớn.
        - Erica arborea, treeheath, briar, brier: cây nhỏ ở vùng Địa Trung Hải có chùm hoa trắng hình chùy, thơm và có rễ cứng như gỗ được dùng để làm ống điếu hút.
        - Giống Erica carnea, spring heather, winter heather, là loại cây hoa nhỏ mùa đông hay mùa xuân, ở Âu châu có hoa hình chuông màu đỏ hay hồng.
        - Giống E. cinerea: loại thạch thảo có lá nhỏ, hoa hình chuông màu đỏ tím
        - Giống E. tetralix, bellheather, cross-leaved heath là loại cây nhỏ lùn có hoa màu hồng
        - Giống E. vagans hay còn gọi là Cornish heath là loại thạch thảo mọc cả bụi có hoa màu hồng hay trắng thường thấy ở cánh đồng hoang tại Cornish và đông nam Ấu châu.
        - Giống E. lusitanicahay Portugese heath, Spanish heath mọc rậm rạp ở vùng bán đảo Iberia , có hoa trắng hồng.
        - Giống E. perspicua hay Prince of Wales heath mọc rất nhiều ở Anh quốc và Nam Phi châu, có hoa màu trắng. Hoa dài và trông tựa như chùm lông của huy hiệu trên Coat of Arms của Hoàng tử xứ Wales- Anh Quốc, nên mang tên Prince-of-Wales heath
        - Erica mammosalà loại Erica có nhiều màu nhất từ màu trắng, tím, cam đến màu đỏ. Hoa chuông đặc biệt dài hơn các loại Erica khác

        
              Calluna vulgaris                                                Erica arborea  


                  

          Erica carne                              Erica cinerea                        Erica tetralix 














           

           Erica lusitanica                    Erica perspicua                        Erica mammosa

                           

Nếu nói về ý nghĩa của màu hoa thạch thảo thì thạch thảo trắng tượng trưng cho sự che chở, cho sự mong mỏi. Thạch thảo mầu hồng tượng trưng cho may mắn, và màu xanh lạt lavender tượng trưng cho cô đơn, sự hâm mộ thán phục.
Mùa thu về, nhìn lá vàng chao nghiêng trong gió, thấm đẫm nắng hanh vàng, bất chợt bừng trải lòng lắng nghe tiếng thu man mác bâng khuâng                                                        
                                                                                   LA THỤY                
                                                                            (Sưu tầm và biên tập)