BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI KỶ HỢI 2019 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2019

NHỮNG LỚP HỌC BAN C TRƯỜNG QUỐC HỌC CỦA TÔI (1973-1975) / Đoàn Minh Phú


           
                    Tác giả bài viết Đoàn Minh Phú


NHỮNG LỚP HỌC BAN C TRƯỜNG QUỐC HỌC CỦA TÔI
                                      (1973-1975)

Không như những bạn đồng môn trường Trung Học Quốc Học Huế cùng trang lứa, họ bắt đầu được học ngôi trường danh tiếng này qua kỳ thi tuyển vào các lớp đệ thất niên khóa 1968 – 1975, tôi vào học các lớp đệ nhị cấp ban C qua việc chuyển trường.

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

CHÚT TẢN MẠN VỀ CÁC ĐOẢN VĂN “TỰU TRƯỜNG” CỦA ANATLOLE FRANCE, “TÔI ĐI HỌC” CỦA THANH TỊNH VÀ “CẢM THU” CỦA ĐINH HÙNG - La Thụy


      

CHÚT TẢN MẠN VỀ CÁC ĐOẢN VĂN “TỰU TRƯỜNG” CỦA ANATLOLE FRANCE, “TÔI ĐI HỌC” CỦA THANH TỊNH VÀ “CẢM THU” CỦA ĐINH HÙNG
                                                                                            La Thụy

Ngày khai trường với kỷ niệm mơn man làm tôi nhớ đoản văn LA RENTRE'E DES CLASSES (TỰU TRƯỜNG) của nhà văn Anatole France - trích từ quyển “Le Livre de mon ami” (Cuốn Sách Của Bạn Tôi). Đoản văn TỰU TRƯỜNG của nhà văn Anatole France có ảnh hưởng lớn tới tâm hồn nhà văn Thanh Tịnh, khi ông viết truyện ngắn TÔI ĐI HỌC. Hình ảnh chú bé A.France trong ngày tựu trường khơi dậy những tình cảm trong sáng, bỡ ngỡ và êm ái của tuổi thơ. Bởi hơn đâu hết, chính những thầy giáo vỡ lòng, thông qua trang hồi kí tuyệt vời ấy, đã đánh thức ở họ những xúc cảm đầu đời: niềm đam mê học hành và tình yêu văn chương nghệ thuật.

Xin trích dẫn các bản dịch của Phạm Tất Đắc, Bùi Bảo Trúc và bản tiếng Pháp Anatole France

* Bản dịch của Phạm Tất Đắc:

“Tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì gợi cho tôi nhớ lại hàng năm bầu trời chập chùng của mùa thu, những bữa cơm chiều đầu tiên ăn dưới ánh đèn và những chiếc lá đang úa vàng dần trong những chòm cây run rẩy. Tôi sẽ kể bạn nghe mình đã nhìn thấy gì khi qua vườn Luxembourg vào những ngày đầu tháng mười, khi phong cảnh hơi buồn và đẹp hơn bao giờ hết, vì đó là những ngày mà lá cây rơi từng chiếc một trên bờ vai trăng trắng của các pho tượng… Điều tôi nhìn thấy lúc đó, trong vườn ấy, là một chú bé con, tay đút túi quần, cặp sách trên vai, đang bước tới trường, vừa đi vừa nhảy nhót như một chú chim sẻ. Chỉ tâm tư tôi nhìn thấy chú bé, vì đó chỉ là một bóng hình. Đó là bóng hình tôi cách đây hăm lăm năm…”
                                           (Trích một đoạn dịch của Phạm Tất Đắc)

KÝ ỨC VỀ NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG THỜI TIỂU HỌC Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975 - Phan Văn Phước

Nguồn:
https://trithucvn.net/van-hoa/ky-uc-ve-nhung-bai-hoc-thuoc-long-thoi-tieu-hoc.html


        Bài học thuộc lòng “Chiếc áo ấm” trong sách giáo khoa trước 1975 ở miền Nam

KÝ ỨC VỀ NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG THỜI TIỂU HỌC Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

Dân miền Nam, những ai bây giờ chừng 55 tuổi trở lên, chắc đều nhớ rõ cách tổ chức độc đáo ở các lớp bậc tiểu học cách đây hơn bốn thập niên. Hồi đó, cách gọi tên các lớp học ngược lại với bây giờ, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Lớp Năm là lớp Một ngày nay, rồi đến lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, trên cùng là lớp Nhứt. Lớp Năm, tức là lớp thấp nhất, thường do các thầy cô giỏi nhất hoặc cao niên, dồi dào kinh nghiệm nhất phụ trách.
Sở dĩ như vậy là vì bậc học này được xem là vô cùng quan trọng, dạy học trò từ chỗ chưa biết gì đến chỗ biết đọc, biết viết, biết những kiến thức cơ bản đầu tiên, nghĩa là biến từ chỗ không có gì đến chỗ bắt đầu có.


                              Một lớp học cấp tiểu học của miền Nam trước 1975

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2019

ÔNG TÀU BÁN PÁNH PÒ VÀ ÔNG PHƯƠNG KẸO KÉO - Đinh Hoa Lư


         
                                   Tác giả Đinh Hoa Lư


    ÔNG TÀU BÁN PÁNH PÒ VÀ ÔNG PHƯƠNG KẸO KÉO

Rồi cũng về lại phố xưa
Về trong mùa thu bồi hồi làn mưa lối vắng
Rồi cũng về lại phố quen
Về trong tình em dịu dàng, dịu dàng ...
                                    Về Lại Phố Xưa
                                 Tác giả: Phú Quang

ÔNG TÀU BÁN PÁNH PÒ

Có những người Tàu ly hương từ thời ông vải ông cố chúng ta. Họ sống ở Việt Nam quá lâu nên tuy nói tiếng Tàu mà họ vẫn dùng tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ. Ai cũng biết người Tàu thích mua bán; ví dụ quanh chợ Quảng Trị có những tiệm người Tàu. Nhưng không phải người Tàu nào cũng mua bán lớn như ở chợ Quảng Trị. Có mấy ông Tàu quanh năm suốt tháng vẫn trung thành với cái nghề thủ công của mình không hề thay đổi.
Đó là lý do người viết muốn dùng chữ "pánh pò" thay cho bánh BÒ

BẠN BÈ nhắn với tôi rằng nên viết lại một bài về ông Tàu bán Pánh Pò, một thời Quảng trị.
Quý bạn nói đúng; tôi nghĩ  nên nhắc lại chuyện ông Tàu này.  Tôi muốn gợi cho bạn bè cùng trang lứa bất kể trường nào, dù Nguyễn Hoàng, Bồ Đề hay Thánh Tâm hình dung lại hình ảnh một ông già bán dạo, một thời khó quên.
Minh Hương hay Tiều cũng là người dân Quảng Trị cùng một thời góp tiếng cùng đồng cam cộng khổ dưới bầu trời mưa gió sụt sùi hay nắng nam Lào cay nghiệt.

       
                                         Bánh bò

ÔNG TÀU BÁN 'PÁNH PÒ'
Ông Tàu Pánh Pò làm cư dân Quảng Trị không biết từ bao giờ. Ông ở đâu? có thể có số bạn người QT biết? Nhưng có điều tôi chắc chắn ông Tàu này là người Tàu lưu lạc, không hội đoàn như nhóm "Trung Hoa Hội Quán' trên chợ Quảng Trị
Ông người cao lỏng khỏng, nước da đồng cua đen bóng vì dãi dầu nắng mưa chẳng gì làm lạ. Ông hư một mắt, đó là điều đặc biệt để nhớ về ông. Hình ảnh để nhớ về ông là chiếc áo ka ki vàng cũ cùng cái quần đùi ông bận.
Bánh bò của Ông bán từ trường Bồ Đề về đến phố Quảng Trị. Chiếc xe đạp giàng và lồng kiếng pánh pò ông cột đàng sau. Ít khi ông về đến phường tôi ở. Người viết còn nhớ bánh ông đó là năm Mậu Thân gia đình lên tạm trú tại phường Đệ Nhất. Miếng bánh bò thơm nhẹ, nở đều ngọt tan vào từng góc lưỡi. Đố ai bắt chước được? bởi thế, tôi đoán không lầm rằng ông "độc chiêu, độc quyền' bán bánh bò rong.

ÔNG PHƯƠNG KẸO KÉO

- Kẹo kéo, kẹo kéo đây!!!
Hôm nay ngồi định tâm edit lại bài, người  viết xin nhắc lại với bạn đọc có một ông bán kẹo kéo tên Phương nhưng không phải là Ông Tàu Minh Hương trong đoạn trên. Ông Phương này người Việt và cũng là cái dáng cao lỏng khỏng nhưng nước da không đen bằng Ông Tàu.
Cái giá xếp móc bên vai, giờ ông bỏ xuống. Ông đặt cái thùng kẹo lên đó xong bắt đầu kéo kẹo tay ông lia lịa làm việc. Khúc kẹo kéo một đồng to bậm, con nhà có tiền mua thôi. Chúng tôi chỉ mua 'năm giác' (nửa đồng) là thường sự nhất.
Ôi! cái tay ông Phương sao 'dẻo queo'? Miếng vải phin vàng úa theo thời gian, ông dùng để 'kéo' kẹo dài ra... to nhỏ đường kính tùy theo một đồng hay 'năm giác' (cho đến nay tôi không hiểu, nửa đồng sao gọi là năm giác?) [1]...
-  Rắc!
 Mềm mà cứng, cứng mà mềm; ông chỉ rung 'nghệ thuật' một cái là khúc kẹo đứt lìa như một 'phép lạ?
Tôi chắc chắn quý bạn và tôi nêu không có kéo thì đành chịu thua, không thể nào 'bẻ' kẹo như ông Phương được?
- Thật là 'tuyệt chiêu'!
Nói theo thời này cho cách ngắt kẹo kéo kia.

          
                                          Kẹo kéo

 Khúc kẹo bậm bạp thuờng cho chúng ta thưởng thức những hạt đậu phụng thơm giòn bên trong. Nó đang hòa lẫn với cảm giác ngọt, thơm, dẽo của lớp kẹo kéo bọc bên ngoài. Thời con nít, ăn ngon như thế, nhưng chúng ta chưa hẳn nhớ ơn ai đã cho đồng bạc hay nhớ công ông Tàu làm ra thứ bánh ngày xưa?
Ông không dùng chuông leng keng, ông chỉ rao hàng thôi. Từ xa, không đứa nào lầm lẫn được tiếng rao của ông Phương. Tới nơi, vừa đặt cái giá xếp xuống, lũ nhỏ vội tụ lại quanh ông.
Kẹo kéo là mùa học sinh đi học. Bánh Pò ông Tàu là thứ ông bán quanh chợ Quảng Trị nơi người có tiền và biết thuởng thức . Lạ thât? thời nhỏ chúng tôi ưa kẹo kéo thôi. "Tại răng" ? kẹo kéo ngoài ngon lành hơn , tôi còn tự kéo nhỏ... nhỏ hơn nữa, để 'ngứt' cho một hai đứa bạn thân mỗi đứa một 'tí tì ti' vì sáng 'nớ mạ hắn không cho hắn tiền'.
Dĩ nhiên, ông Phương hay Ông Tàu  không thấy héo lánh đến trường Nguyễn Hoàng làm gì? Tuổi trung học lớn rồi , ăn hàng kiểu này thì “ốt giột” lắm? Lớp tuổi biết yêu thường hay thấy trong mấy quán cà phê thôi. Mà cà phê chỉ một thời cho nam sinh. Phái nữ trung học thời đó ra sao? Ký cóp vài đồng cho nhau me cam thảo hay ô mai bới theo trong cặp vở là cùng. Thế thì hai ông lên đây làm chi? làm sao bán chạy hàng. Đó là tại sao khi lên trung học hình ảnh hai ông phai nhoà dần.
Cám ơn các bạn đã nhắc đến ông Tàu bán Pánh Pò và Ông Phương kẹo kéo hai hình ảnh khó nhòa trong trí óc tuổi thơ Thị Xã Quảng Trị. Sau cuộc Can Qua 1975 nghe đâu Ông Phương về lại đất xưa (khu M cũ –cầu Lòn gần Trung Đoàn I)); tuổi già xế bóng ông còn có một ‘dịp may’ giã từ trần thế trên vùng đất quê nhà nơi mà ông bao ngày rảo bước chân đi cùng tiếng rao thân quen và cống hiến vị ngọt cho đời. Còn Ông Tàu Pánh Pò, có thể bạn đọc nào đó biết tin về ông? Người viết nghe đâu ông đã về “miền miên viễn” nhưng xa vời quê cũ, nơi ông sinh ra, lớn lên cùng hòa nhịp truân chuyên với người Thị Xã.
                                  
Pánh Pòn và  kẹo kéo, hai tiếng rao  xưa vang dưới một trời kỷ niệm- lứa tuổi học trò. "Rồi Cũng về Lại Phố Quen" như lời bài hát thời nay nhưng đó là niềm mong cho những ai một lần về lại Phố Xưa. Ôi lần về trong trống vắng, nhớ làm sao thanh âm ngày cũ.? Khi ta vuốt lại mái tóc hoa râm cố tìm lại đường xưa khó hay chẳng kiếm đâu ra? Ngày đó có chúng ta, những ngày tuổi nhỏ, vui bên con phố hiền hoà...
Ôi kỷ niệm ập về cho ai bước chân về phố cũ, ai đó cố uống giọt cà phê nén tiếng thở dài, sướt mướt trong lớp áo phong sương hay lụa là hoa gấm, tất cả đều cô đơn chẳng gì so bằng tuổi ngọc?
Một chặng đời, mấy lứa tuổi thơ vui chơi bình dị cùng sẻ chia hương vị  ngọt ngào của  khúc kẹo kéo đơn sơ, miếng bánh bò thơm ngọt... tất cả đều đã ra đi.
                                                                                                                                                                                                                                                                                                            Đinh Hoa Lư
                                                             20/8/2015 edition 21/9/ 2019
......

[1] Thật sự không hiểu tại sao gọi là năm giác, hình như 1/2 đồng trong nam gọi là năm cắc ? Nghe đâu hồi xưa ở SG một đồng bạc người ta xé đôi tự lưu hành vì nhu cầu nửa đồng không đủ - tôi nhớ thời tt Ngô đình Diệm đồng bạc cắc nửa đồng nhẹ và lớn. Sau này Đệ Nhị Cọng Hòa lạm phát chỉ còn lại bạc cắc 1 đồng có cây trúc và hình ông Diệm

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2019

NHƯ MỘT CHUYỆN TÌNH - Huỳnh Công Toàn


             
                                      Tác giả Huỳnh Công Toàn


                NHƯ MỘT CHUYỆN TÌNH

Chị Thảo là bệnh nhân đầu tiên của tôi, năm đó tôi học năm thứ tư trường Y, tôi gặp chị khi thực tập lâm sàng ở khoa Nội. Chị Thảo hơi gầy, dáng mảnh mai, mái tóc dài ngang lưng, khuôn mặt thanh tú, một chút kiêu sa. Cho đến giờ tôi vẫn nhớ giọng nói của chị, giọng nói "rất Huế" mà sau này tôi thường giật mình khi nghe giọng Huế đó trên cao nguyên lộng gió này, chị mới tốt nghiệp đại học sư phạm và sắp sửa đi nhận nhiệm sở ở xa. Có lẽ vì bệnh nên chị chưa đi được.

KHÚC RU TRĂNG - Thơ Văn Công Toàn


   
               Nhà thơ Văn Công Toàn



KHÚC RU TRĂNG

Lời ru kín mặt đất bẳng
Để ta ru với ánh trăng bây giờ
Phải đâu khúc hát vu vơ
Dưới trăng ai dễ hững hờ được sao ?

Mênh mông biển sóng ba đào
Tràn trên biển mặn ngọt ngào là em
Dưới trăng biển lại dịu mềm
Biển trăng như chiếc nôi êm đất bằng

Đất đai có lúc cỗi cằn
Để ta ru với ánh trăng đang chở
Bắt đầu từ những câu thơ
Người ru mặt đất và mơ sao trời

Tình ta như biển chẳng vơi
Yêu em nên đã một thời ru trăng
Lời ru kín mặt đất bằng
Cùng trời cuối biển mấy tầng thanh âm !!!

                                     Văn Công Toàn
                                  (Hoài Phong Trần)

CÔ GIÁO PHAN THỊ LAN, MỘT BUỔI GẶP KHÓ QUÊN - Võ Cẩm


                    
                        Tác giả bài viết Võ Cẩm


CÔ GIÁO PHAN THỊ LAN, MỘT BUỔI GẶP KHÓ QUÊN

Những năm cuối học Nguyễn Hoàng, trên đường từ Sãi lên tỉnh, sáng nào tôi cũng gấp chị trên chiếc xe đạp cũ không mấy đẹp.
Dù gặp chị nhiều lần, chưa học chị một giờ, chưa dám hỏi thăm chị một câu nên khoảng cách giữa cô trò khá xa. Tôi nhỏ thua chị vài tuổi.
Những lúc trời lụt bão, nhiều lần gặp chị trên chuyển đò từ Xóm Hà lên chùa Tỉnh hội (thường gọi là đập Rì Rì) giữa sóng nước mênh mông, cơn nước chảy xiết, người lái đò phải đem hết sức mình để chống chọi với nguy hiểm. Nhớ lại những chuyến đò không máy nổ, chèo bằng sức người qua một đoạn đường ngắn, phải mất gần giờ đồng hồ mà khiếp sợ, chỉ cần sơ hở một chút là cả chục mạng người về chầu diêm vương.
Đến mùa lụt, dân Vạn Chài Xóm Hà thường tập trung ghe để đưa người, phần lớn là học sinh, từ mạn Sãi lên Thị xã Quảng Trị. Đây là con đường duy nhất. Nếu không lụt thị đi qua đập Rì Rì bình thường.


Chị có khuôn mặt phúc hậu, duyên dáng, đẹp. Trước mắt tôi, chị là một cô giáo đẹp nhất trong các cô giáo ở vùng này kể cả các cô giáo trên tỉnh về dạy.
Năm học lớp đệ nhất, tôi trọ học ở Quảng Trị để ôn bài luyện thi, ít về làng nên không gặp chị. Dù không dạy tôi giờ nào, nhưng tôi xem chị như cô giáo của mình, lúc nào tôi cũng kính trọng, nể phục đức, tài, sắc của chị.
Học xong Tú tài, tôi rời Quảng Trị vào Sài Gòn nên không còn cơ hội gặp cô. Cuộc đời thăng trầm, vật lộn với cuộc sống, và việc học hành. Một mình tự bươn chải thế mà hàng chục năm tôi vẫn trụ vững ở đất Sài Gòn này.

               
                             Cô giáo Phan Thị Lan

Nhiều lần về quê, nhưng không gặp chị lần nào, trong tôi hình ảnh cô giáo Lan vẫn còn hiện hữu với lòng quý trọng. Sau 3 năm trong quân ngũ, tôi nếm bao đắng cay cuộc đời, bao lần thoát chết trên chiến trường khác nghiệt ở địa đầu giới tuyến, với trách nhiệm điều binh. Tôi may mắn trở lại giảng đường, và những ngày bình yên, tự mãn với công việc mình có được ở một công ty nước ngoài.

Sau 1975 tôi vẫn được trọng dụng nơi làm việc cũ và được Quyết định của UBND thành phố cho ở lại sinh hoạt bình thường nhờ xếp loại cán bộ Khoa học kỹ thuật. (Nhân khẩu trong gia đình cải tạo công thương nghiệp, phải đi kinh tế mới)Những ngày được nghỉ làm việc cơ quan, tôi thường phụ chị tôi trong cửa hàng kinh doanh giày tại nhà mình ở số 87 đường Lê Thánh Tôn.
Một hôm như thường lệ, áo quần bảnh bao, vừa bước xuống cầu thang tôi nghe tiếng quen thuộc, tiếng Quảng Trị không lẫn vào đâu được.
Tôi có linh cảm gặp người quen.? Nhìn ra phía cửa, tôi thấy một khách hàng áo quần không sang trọng, nhìn thấy quê mùa, tay cầm chiếc nón lá không lành lặn bên cô con gái khá xinh đẹp. Bước lại gần chị, dù lâu ngày không gặp, nhưng tôi nhận ra chị ngay, dáng dấp tiều tụy nhưng nét duyên dáng của chị vẫn còn, không khác lạ nhiều.
Làm sao quên được cô giáo Lan tại ngôi trường Nguyễn Hoàng tôi học và thường xuyên gặp hàng ngày trên đường cô trò cùng đến trường. Tôi đến bên chị, vui mừng như gặp được người thân, chị cũng chăm nhìn tôi và nhíu mày tìm lại trí nhớ.

Tôi hỏi chị:“Xin lỗi chị có phải là cô giáo Lan dạy Nguyễn Hoàng Quảng Trị?” Nghe hỏi, chị cười và hỏi lại: “Sao anh biết tôi?. Anh ở Quảng Trị à?”. Con gái chị nhìn tôi và không hiểu chuyện gì xảy ra.
“Em là học sinh Nguyễn Hoàng mà, mấy năm cùng đạp xe đi học với cô từ dưới chợ Sãi lên trường sao quên được.”
Tôi mời chị và con gái ngồi xuống ghế.
Tôi hỏi thăm, hiện nay chị ở đâu? Chị nói đang ở Biên Hòa. Hỏi thăm về gia đình và các cháu.
Và chính lúc nãy tôi mới biết, thầy Liệu chồng chị làm Hiệu trưởng trường Nguyễn Hoàng trước 1975. Lúc tôi học Nguyễn Hoàng thì thầy Liệu dạy ở một trường khác nên không biết mặt.
Qua câu chuyện ngắn ngủi nhưng để lại trong lòng tôi hình ảnh một cô giáo mà tôi quen biết và nể trọng, một quãng đời làm cô giáo ở ngồi trường trung học công lập duy nhất mà chính tôi có 7 năm học ở đó.
Nhìn chị tôi nhận biết hoàn cảnh khó khăn của một cô giáo sau 1975 mà thương xót, mà nghĩ về thân phận mình. Tôi nhận ra một điều là chắc chắn chị ngạc nhiên sao có một cậu học trò miền quê Triệu Phong lại có cơ ngơi như thế?
Chưa được hỏi thăm nhiều về chị, về thầy Liệu và nhiều thầy cô khác thì cô Lan chia tay. Từ đó không còn gặp Chị nữa và sau đó có tin cô và thấy Liệu qua Mỹ theo diện H.O.
Xin chúc mừng Cô thầy và nhiều cô thấy khác đã vượt qua nỗi khổ mà khi đất nước hết chiến tranh.
Bài viết này thay lời thăm hỏi quý thầy cô đã dạy dỗ tôi, và những thầy cô dạy Nguyễn Hoàng. Chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe, vạn sự như ý, thân tâm thường an lạc.

                                                                            Sài Gòn, 20/9/019
                                                                                     Võ Cẩm

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2019

MÙA HẠ XƯA - Thơ Phong Nguyễn


   
                    Tác giả Phong Nguyễn


MÙA HẠ XƯA

Tháng tư rồi...
nỗi nhớ cứ đầy lên
Để hoa phượng sắc chiều phơi nắng hạ
Con đường chia hai dãy trường là lạ
Cớ chi buồn niu níu bước chân em
Gió sông Hương pha chút hạ nên mềm
Lay tóc mái, em bềnh bồng rứa đó
Vành nón lá che nghiêng chiều bỡ ngỡ
Phong thư tình trao vội góc hoa viên
Em không nói cứ lặng lẽ đứng yên
Mà khóe mắt đã lăn tròn ngấn lệ
Cành phượng tím sắc hoa buồn đến thế
Vẫn vô tình buông rủ xuống đôi bên

Tháng tư rồi...
nắng đã se sắt thêm
Mà răng bỗng nghe lòng như tê tái
Đường phượng bay dửng dưng mà xa ngái
Biệt ly rồi năm tháng có hoài tên
Huế xưa ơi!... vẫn gác tía... Đài đền…
Vẫn thành quách...Vẫn rêu phong… Cổ kính
Và có em cõi lòng luôn giấu kín
Nét trầm tư... U nhã... Đến vô biên
Con đường nớ ! Hôm ni hoa mộc miên
Chắc đã rộ thắm hồng nơi cồn dã
Em có buồn khi mình về đôi ngã
Nợ sách đèn thôi trả với bút nghiên

Tháng tư về...
Ta nhớ tháng tư riêng
Chừ quay lại... Đã bạc đầu theo hạ
Huế mãi rứa... Cứ buồn thương là lạ
Còn mình ta… xin trả... Tuổi hoa niên...

                                     Phong Nguyễn
                                      (27- 5- 2019)

TIỄN NGƯỜI ĐI PHƯƠNG NAM - Thơ Văn Công Toàn


     
               Nhà thơ Văn Công Toàn (Hoài Phong Trần)


TIỄN NGƯỜI ĐI PHƯƠNG NAM

(Thân tặng các bạn Nguyễn Thông - Tạ Quang Sơn - Đoàn Phú ... Cùng bạn bè CHS QH đang sinh sống tại Sài Gòn và các tỉnh Phía Nam)

Mùa xuân hành Phương Nam
Nhớ người xưa sắc chàm
Vượt đèo cao chim kêu vượn hú
Đất Miền Trung bão lũ gian nan

Đường vào Nam mênh mang
Trời Miền Nam nắng xuân nồng nàn
Ta đi thăm thẳm trùng dương mộng
Tri kỷ choàng vai rượu uống tràn

Rượu giữa giang hà không vơi cạn
Bạn ta nào ta cùng bạn ngất ngây
Ngã rẻ quanh co ta tìm khung trời rộng
Canh cánh chợ đời bao nỗi đổi thay

Đi ta đi không để tơ hồng vướng
Lòng sao còn ngoảnh lại xứ cố nhân ?
Đi ta đi không đợi mùa hoang tưởng
Sao hồn ta vọng ngưỡng ánh thiên thần

Thần giới thần tiên thần tục lụy
Thần linh hạ thế nhớ ta chăng ?
Phương Nam ơ hờ Nam Phương hỡi
Cuối đất cùng trời còn gió trăng !

Đầu bạc đốm ta đi tình chưa trọn
Ta còn bay qua vòng xoáy tào khê
Xoáy khúc giữa để hai đầu phấp phỏng
Xoáy vào tim thuở Quốc Học bạn bè !

Tôi từ Sài Gòn về
Anh tìm Phương Nam đến
Chưa hẹn đã chia tay
Nhớ nhau ngày gặp lại

Phương Nam hề Phương Nam mê mải
Có mấy người đi tung cánh hải hồ
Rượu chưa say thơ ngâm hoài đưa tiễn
Huế khuất dần phía đèo biển Lăng Cô...!!!

                                  Văn Công Toàn
                                (Hoài Phong Trần)

BAY LÊN NHỮNG MẶT TRỜI - Thơ Phan Quỳ


    


BAY LÊN NHỮNG MẶT TRỜI    
                                          
Tôi ru giấc ngủ cho riêng tôi
À ơi mấy bận, khép mi rồi
Cơn mộng đưa tôi về viễn xứ
Đưa hồn phiêu lãng những xa xôi.

Tôi thấy tôi trôi giữa cuộc trần
Buồn vui thôi đã đủ tháng năm
Chua xót, đắng cay đắp thành núi
Vai gầy gánh nặng mấy trở trăn.

Tôi nghe Người gọi thoáng tên tôi
Vương chút mến thương chút ngại ngần
Tôi xin đáp lại bao trân quý
Từ cõi mộng nào tôi hoá thân.

Tôi tìm thấy tôi giữa điệu, vần
Bên đời cất tiếng với tha nhân
Ai đó đi qua, ai dừng lại
Một chút chân tình, chút cảm thông.

Tôi về cơn mộng của riêng tôi
Có tiếng ai đưa những ru hời
Không còn giấc ngủ cô đơn ấy
Tôi thấy bay lên những mặt trời.

                                 Phan Quỳ

CHIỀU THU LÁ ĐỎ - Thơ Nguyên Lạc


   


CHIỀU THU LÁ ĐỎ

Giọt tim nào rơi lòng em nức nở
Đâu phải cỏ cây anh cũng có tim sầu
Phiến gió chiều nay lay động nụ trúc đào
Rơi về phương ấy khúc ca dao buồn

Đâu phải cỏ cây anh cũng có tim buồn
Lệ đỏ lá chiều thu phong mắt thẫm
Nghe trong hồn vỡ bờ sóng động
Lạnh một dòng xót nỗi tàn phai!

Đúng là em chẳng phải là ai!
Tà huy đổ bóng dài tóc xõa
Điệp khúc chiều tiếng ai nức nở
Đâu phải cỏ cây anh cũng là người!

                                   Nguyên Lạc

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2019

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 3 - Nguyên Lạc


     

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 3
                                                                                      Nguyên Lạc

Phần 3

KIM VÂN KIỀU TRUYỆN THANH TÂM TÀI NHÂN

Như đã biết ở phần 2, từ thời vua Minh Mạng đến đầu thế kỷ 20 cuốn văn xuôi Kim Vân Kiều Truyện ghi tên Thanh Tâm Tài Tử, và ta đã thấy rõ 4 chữ này ở bản chụp bìa lưu tại Paris. Đó là bản ông Trương Minh Ký trao cho Abel des Michels 1884. Cuốn Kim Vân Kiều này, 478 trang, bảo quản tại Paris, được sao chép bởi Đại học Yale, và lưu trử tại thư viện QG mã số A 953 do Viện Viễn Đông Bác cổ chụp từ Pháp, thời Pháp thuộc.
Tựa đề ghi tên Thanh Tâm Tài Tử (4 chữ nhỏ ở giữa). Không biểt vì sao ai đã đổi chữ Tử thành chữ Nhân sau này? Chữ tử: làm sao viết ra thành chữ nhân: ? (Xem hình chụp bìa lưu tại Paris: Kim Vân Kiều – Thanh Tâm Tài Tử- quyển 1 ở dưới)

UỐNG RƯỢU VỚI BẠN HIỀN - Thơ Kha Tiệm Ly


   


UỐNG RƯỢU VỚI BẠN HIỀN

Chẳng đủ tiền xe nên lâu lâu gặp lại,
Rượu rót xoay vòng, cứ hai đứa cưa hai
Đừng ham nhậu mà mần nguyên một cái
Thì mấy tua sẽ ‘hộc máu Anh Đài!”

Bọn chúng ta không thằng nào là tiến sĩ,
Nên chẳng dám ba hoa nói chuyện trời ơi.
Mà bày đặt búa xua bằng tiếng Tây tiếng Mỹ,
Thỉnh thoảng giận đời tức khí “xổ nho” chơi!

Cũng chẳng thằng nào là quan to, quan nhỏ.
Nên chẳng quan tâm xây ngàn tỷ một tượng đài.
Cũng chẳng thèm làm những công trình quy mô rồi bỏ xó,
Vơ vét tỷ tỷ đồng bèn kiếm cách gút bai! (good bye)

Bọn chúng ta cũng chẳng thằng nào là văn sĩ,
Nên không sợ người coi, rồi hả miệng hả răng cười,
Chẳng thằng nào biết làm bút điếm, bút hèn, bút bồi, bút đĩ,
Chỉ lúc ngà ngà hứng chí viết chơi thôi.

Bọn chúng ta cũng chẳng ai được gọi là... “sĩ sĩ”
Nên chẳng ra gì dưới mắt các danh gia.
Mình chẳng sợ ai lầm thiên thần thành ác quỷ.
Giữa cuộc đời Phật Phật ma ma!

Bọn chúng ta chỉ là phường cơm rau, áo vá,
Uống nước mắt quê hương, xỉn xỉn vỗ bình ca.
Vậy mà biết thương đồng bào miền trung đói lả,
Đau đáu cõi lòng khi tổ quốc mất Hoàng Sa!
Thôi bỏ đi, chuyện đời, chuyện nước,
Rót nữa thêm, đêm vẫn còn dài.
Cứ cạn chén, mình say rồi mai tỉnh,
Còn hơn những thằng không uống, suốt đời say!

                                                     Kha Tiệm Ly

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2019

UỐNG RƯỢU - Thơ Trần Mai Ngân


    


UỐNG RƯỢU

Một ly rượu sáng trăng rằm
Một ly rượu dẫn về quanh cõi đời...
Một ly rượu uống gọi người
Quên quên nhớ nhớ khóc cười chính tôi

Một ly tình bạc như vôi
Sầu đong đầy chén đơn côi say mềm
Con trăng đứng ở ngoài thềm
Cười tôi ngốc nghếch lại thêm dại tình!

Thôi thì tự chuốc say mình
Đêm nay, đêm nữa...vẫn hình bóng xưa!

                                       Trần Mai Ngân

MỘT THỜI KẸO XÓC - Đinh Hoa Lư



                                                    Dĩa kẹo xóc


    MỘT THỜI KẸO XÓC
    (Cám ơn bạn Trần Tài đã nhắc Kẹo Xóc Trường Nam Quảng Trị)

Những đứa học trò Trường Nam Quảng Trị làm sao quên được kẹo xóc Ôn Phổ?
Có nhiều điều đáng nhớ cho các cậu nam sinh (xin mở ngoặc ra đây không có các cô), đó là hai cái cổng trường. Nhộn nhịp nhất là cổng sau ngó ra đường chính Trần Hưng Đạo. Cái cổng chính ngó ra bờ sông ít ai đi, tuy là chính nhưng nó quạnh hiu nhất.

MÙA ĐI - Thơ Phan Quỳ


   


MÙA ĐI

Ta chở mùa đi trên vai nhỏ
Thương nhớ hao gầy một ý thơ
Ai mang ngày mộng về xa ngái
Để lại phương nầy những ngẩn ngơ.

Ta đếm mùa đi mấy vội vàng
Đông tàn, ngày hạ đến xuân sang
Thu phai, nắng nhạt lên màu má
Chiều rơi tĩnh lặng với thênh thang.

Ta thấy mùa đi với hương ngàn
Tay mềm khôn níu đc thời gian
Một mai soi bóng, nhìn không nói
Ta vuốt tóc buồn, nhớ mênh mang.

Ta gọi mùa đi, gọi mùa đi
Đã quá xa xôi buổi xuân thì
Một cõi thinh không giữa đời vắng
Ta ngồi... thôi biết nói năng chi.

Ai đem ngôn ngữ về đâu tá
Chỉ nghe cây lá mãi thầm thì
Hương yêu còn đọng mềm sương khói
Tóc xoả vai buồn hoen ướt mi.

                                            Phan Quỳ