CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI ĐINH DẬU 2017 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẠP VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẠP VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

THƠ TÌNH BÊN SÔNG – NỖI ĐAU XÉ LÒNG - La Thụy

    Hồ Quang - bạn TRUNG HỌC BÌNH TUY - đã thành người thiên cổ. Sinh thời, vào lúc cuối đời, Quang sống lang thang, cơ cực. Anh gửi tâm trạng u uất vào sáng tác thơ văn và gửi đăng trên tạp chí Văn Nghệ Bình Thuận, báo Bình Thuận với bút danh Hoài Quang. Nhân mùa Phục Sinh, La Thụy đăng lại bài mình viết về tập THƠ TÌNH BÊN SÔNG của Hoài Quang, như thắp lên nén nhang lòng tưởng niệm người bạn giang hồ hiện giờ chắc đang lãng du vào vùng trời miên viễn

                                                                 

         THƠ TÌNH BÊN SÔNG –  NỖI ĐAU XÉ LÒNG 

                    “Quân tại Tương giang đầu 

                     Thiếp tại Tương giang vĩ
                     Tương tư bất tương kiến
                     Đồng ẩm Tương giang thủy”    
                                                           
     Những câu thơ cổ chợt hiện về trong tôi – như tiếng thở dài não nuột của đôi lứa yêu nhau da diết, mà đành cách trở đôi dòng, người đầu sông kẻ cuối bãi, ngậm ngùi trông nhau luyến nhớ - khi đọc THƠ TÌNH BÊN SÔNG của Hoài Quang .
     
Người xưa, dù vời vợi ngàn trùng cách biệt vẫn  được diễm phúc “ đôi bên “ cùng đẫm lệ, hướng mặt gởi tấm lòng son sắt về nhau. Người nay, bi thiết hơn, con sông Dinh, đôi bờ hẹp nhỏ, cách nhau chỉ một chuyến đò ngang, chỉ bằng nửa tầm tay với,  thế mà "riêng ai" lại quặn lòng, đau đáu dõi trông. Ôi ! "Cái gần gụi tấc gang ấy là cái gần gụi muôn đời không hội điểm của hai con đường sắt" (Mai Thảo)Biết làm sao, khi : 

                Ta đi em ở lỡ làng

                Mới hay khuya đã sang ngang cùng đò 

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

MỘT TRƯƠNG - Tạp bút của Chu Vương Miện


                     

                   
                MỘT TRƯƠNG   
                                               "Trích trong Vĩ Văn"

Trong nguyệt san Kiến Thức Ngày Nay, khi không xuất hiện một bài biên khảo ký tên là Phan Khắc Khoan, nội dung là tiên sinh phát hiện ra rằng hai câu Kiều của Nguyễn Du :
Cung thương lầu bậc ngũ âm (câu 29)
Nghề riêng ăn đứt Hồ Cầm một chương (câu 30)
Theo ý của tiên sinh Phan Khắc Khoan san định Văn Học thỉ câu thứ ba mươi phải là "Một Trương", vì bên Trung Quốc có một vị nhạc sư tên là Trương (con thứ nhất) nên thiên hạ mến mộ tài năng thường gọi là Một Trương, người này chuyên trị Hồ Cầm, thuộc vào loại danh sư số một .
"kỳ sau đăng tiếp"
Rồi không thấy bài của tiên sinh đăng tiếp nữa, để xem Mr Một Trương là nhân vật như thế nào ? Sống vào thời nào ? mà chỉ thấy bài của học giả An Chi… đánh phủ đầu, sau đó thì tiên sinh Phan Khắc Khoan đương sống "chuyển qua từ trần", thành ra công trình phát hiện san định Văn Học đến đây là un point final. Cũng tưởng nhắc qua chút đỉnh về thi sĩ Phan Khắc Khoan, tiên sinh sinh vào khoảng juin 1916 ở làng Yên Lãng, Yên Thành (Nghệ An). Mồ côi mẹ từ thủa bé, năm 15 tuổi thì cha bị mù. Học trường Huyện, Trường Vinh có bằng Thành Chung, đã đăng thơ ở Phong Hóa (ký Chàng Trương), Thế Giới, Tri Tân thơ ký Hồng Chương, ngoài ra con vài vở kịch thơ nổi tiếng như Phạm Thái và Trần Can… (phần tiểu sử trích đoạn trong Thi Nhân Việt nam của Hoài Thanh và Hoài Chân) 

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

TÔI ĐỌC THƠ LA THUỴ - Cảm nhận của Trần Mai Ngân


                



                            TÔI ĐỌC THƠ LA THỤY

... Tôi cũng được nhà giáo, nhà thơ La Thuỵ tặng quyển THƠ ĐỜI NGÂN VỌNG.
Tập thơ không dài, không ngắn. Tròn bốn mươi lăm bài. Theo tôi, mỗi bài là một tiếng ngân vọng khác nhau - vì thế, đã tạo nên một âm thanh du dương, trầm bổng trong lòng người đọc rất tuyệt vời...
Với tôi, tôi yêu thích nhất là bài THẢ của La Thuỵ. Tôi đọc bài THẢ khi buồn, khi vui và cả khi hồn mình thanh thản hay đang tuyệt vọng...

         Chừ đây mình thả hương nồng
         Phiêu phong hoài vọng rêu rong cõi người 

Không biết có phải tác giả muốn nói hãy THẢ vào cuộc sống này những "hương nồng" cho nhau dẫu chỉ còn là "hoài vọng" trong cuộc đời ta...
"Hương nồng" này không phải chỉ dành cho tình yêu mà là cả tình người trong tất cả chúng ta! 
Đọc hai câu này tôi cảm nhận được thiện tâm của nhà thơ - thật chan hoà, nhân ái. Mà tại sao lại không cho nhau để...

        Mai kia thả nốt tuổi trời
        Thời gian cuốn hút phận đời mong manh
 
... Đời người tưởng dài nhưng đôi khi như thoáng qua và mong manh lắm ! La Thuỵ nói đúng . 
Hãy bỏ hết đi những đôi mắt trần gian , những tia nhìn ganh ghét , thù hằn - để ta nhẹ nhàng và sống trong yêu thương chân thành nhất . Vì đời vốn vô thường , vốn hợp tan... 

        Sắc không ừ thả bồng bềnh
        Mộng lòng dù đã ươm xanh ... thả dần
 
Cuối cùng là gì...
Là sắc không, không sắc... trong đạo thuyết của nhà Phật - trong Bát Nhã tâm kinh...
Ta không quá vui, quá đau buồn khi được mất. Hãy hiểu, hãy thấu "phận đời mong manh" lắm ! 
Và có yêu thuơng đến đâu, oán hận đến đâu cũng có một lúc ta phải buông và thả đi... Thiết tha cũng vậy , cách xa cũng vậy . 
Tôi xin được bắt chước nhà thơ La Thuỵ... 

       "Mộng lòng dù đã ươm xanh ... thả dần"

Đây là cảm nhận của riêng tôi về bài thơ THẢ. Tôi viết lên như một lời cảm ơn gửi đến La Thuỵ quý mến.
Nếu có sai sót hoặc không đúng ý nhà thơ mong không chấp nhé ! 
Chúc La Thuỵ luôn thành công và hạnh phúc trong cuộc sống . 
Thân mến !


           



                               THẢ
                          (Tặng TMN)


              Chừ đây mình thả hương nồng
              Phiêu phong hoài vọng rêu rong cõi người
              Mai kia thả nốt tuổi trời
              Thời gian cuốn hút phận đời mong manh.
              Sắc không ừ thả bồng bềnh
              Mộng lòng dù đã ươm xanh... thả dần.

                                                           La Thuỵ

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

CHIẾC GIÀY PHA LÊ CHÂN TRÁI - Lê Duy Đoàn

       
              
                                  Tác giả Lê Duy Đoàn



            CHIẾC GIÀY PHA LÊ CHÂN TRÁI

                                                                               Lê Duy Đoàn

         Bên kia sông, nỗi nhớ nhung,
         Ngày xưa hoa mộng tưởng chừng mới qua,
         Em đi trong "cõi người ta",
         Khi mô về lại quê nhà hỡi Em ?

Trần gởi tặng Vân mấy câu lục bát khi tìm ra địa chỉ email của nàng. Bài lục bát mở đầu ba chữ “bên kia sông” là tên một bài hát của Nguyễn Đức Quang nàng hay hát nho nhỏ Trẩn nghe. Nàng hát bài này thay đổi lời một chút “ hát cho vừa mình anh nghe thôi” để kết thúc bài với ánh mắt tình tứ. Đó là âm vang và hình ảnh thân thiết của hai người trong một thời lửa đạn. Bên kia sông là nhớ nhung.
Vân trả lời ngay:
“Làm răng anh tìm ra em hay rứa? Bao nhiêu năm rồi anh hí? Nhớ ngày xưa quá anh ơi, đúng là những ngày tươi đẹp ít ỏi trong suốt cuộc đời của em. Mấy mươi năm rồi, trải qua bao nhiêu dâu bể sóng gió cuộc đời, những ngày xưa ấy dù chỉ còn là kỷ niệm nhưng đó là thời gian em trân quý nhất. Cõi người ta anh nói đó đúng là “của người ta” chứ không phải của mình. Em lưu lạc quê người và lạc lõng ngay chính trong căn nhà của mình anh à. Lòng em khi mô cũng như còn rớt lại trên mảnh đất quê nhà, nơi chúng ta có những ngày đẹp đẽ bên nhau.Chưa về hưu nên em ít về. Về một lần nhiêu khê phức tạp lắm anh ơi. Khi nào về em chắc chắn em sẽ đến thăm gia đình anh. Anh mấy con mấy cháu rồi?”

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

NGÀY TẾT VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở QUÊ TÔI - Hoàng Đằng



Tác giả Hoàng Đằng


NGÀY TẾT VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở QUÊ TÔI 

                                                                                              Hoàng Đằng

       Trong ngôn từ, Tết thường đi theo với sự nghỉ ngơi, sự vui chơi, sự hưởng thụ – nghỉ Tết, chơi Tết, hưởng Tết. Tuy nhiên, phần lớn người ta nghỉ Tết là chỉ ngưng công việc mưu sinh; nói phần lớn mà không nói tất cả vì một số người vẫn tận dụng dịp Tết để kiếm thu nhập: tham gia gian hàng ở hội chợ, chủ sòng bài, xem bói …  
       Thực tế trong ngày Tết, những người lớn tuổi phải làm những công việc tổn hao sức lực, đôi khi với nhịp độ còn cao hơn ngày bình thường.
      Mỗi người cứ tự ngẫm trường hợp bản thân của mình. Riêng tôi,  một người cao tuổi ở vùng quê, thì nhiều việc lắm, mệt mỏi lắm. Mời bạn đọc nghe tôi kể nhé!
Tôi chỉ giới hạn thời gian trong ngày MỒNG MỘT THÁNG GIÊNG.

        Từ tối hôm trước (30 tháng Chạp) cho đến giờ giao thừa, người cao tuổi quê tôi không ngủ, loay hoay chuẩn bị lễ cúng: têm cau trầu, xếp vàng bạc, giấy áo … bên cái TV bật sẵn để theo dõi tin tức đón Tết từng giờ ở các địa phương trong nước và trên thế giới, chờ nghe lời chúc đầu năm của vị nguyên thủ quốc gia; lời chúc Tết này quan trọng lắm vì đó là thông điệp phác họa những hướng đi của quốc gia trong thời gian tới. Chúng ta hãy ngẫm lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong lời chúc đọc giao thừa Tết Mậu Thân, có mấy câu “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua; thắng lợi tin vui khắp mọi nhà …” là qua ngày mồng một nổ ra cuộc tổng công kích vào các đô thị miền Nam.
          Con dâu nấu xong lễ cúng giao thừa, ra mâm ra dĩa: xôi, chè, cháo thánh - ở nhiều nhà, thêm con gà trống tơ để nguyên con luộc chín, lấy giò, cúng xong, xem quẻ đầu năm. Lễ cúng bưng đặt ở 2 nơi: bàn thờ gia tiên trong nhà và bàn thờ đặt bên ngoài, giữa trời, nên dân gian dùng từ “Cúng Giữa Trời”, “cúng giữa trời” dâng lên các vị thần linh điều hành mọi việc trong năm mới, các âm hồn cô hồn vãng lai, hay quanh quẩn trong vườn ngoài ngõ. Kể một chuyện “hơi tệ” nhưng có thật: Trước đây, kinh tế khó khăn, việc ăn uống thiếu thốn, cúng xong lễ này, con cháu đang ngủ say, các cụ cao tuổi lợi dụng cơ hội xử nguyên cả con gà cho “đã thèm thịt”. Bây giờ thì khác rồi, các cụ bưng vô đặt giữa bàn ăn, tìm lồng bàn đậy lại, sáng mai ai xử thì xử, rồi nằm xuống nghỉ lưng cho đỡ mỏi.
        Sáng mồng một Tết, các cụ dậy hơi trưa hơn thường ngày vì do thiếu ngủ, rửa ráy mặt mày, bận quốc phục vào, ngắm lui ngắm lại, xem đã tề chỉnh chưa, bật căng dù che lên nếu trời có mưa xuân lất phất hay nắng gắt, nếu không mưa thì xếp dù cầm ở tay; từ các đường xóm, các cụ ra đình làng, đốt hương, lễ bái thần linh của làng, rồi đi thăm các cơ quan công quyền đóng trên lãnh thổ địa phương: Ủy Ban Xã, Trạm Xá, Trường Học. Ở những nơi này, vị đứng đầu cơ quan thường có mặt đón tiếp; có nơi, các cụ còn nhận được tiền lì xì – người ta gọi là tiền mừng thọ - đựng trong phong bì đỏ do các trưởng cơ quan trao tặng. Các cụ hãnh diện lắm, mừng lắm, vì có thêm tiền để chơi cờ sau này; chốc nữa, về đến nhà, các cụ khoe ngay với các cụ bà.
          Nhận phong bì xong, cụ nào thuộc họ nào thì về từ đường họ của mình, đốt hương, lễ bái Tổ Tiên.  Các cụ cũng làm như vậy  ở các nhà thờ chi, phái; nếu chưa có nhà thờ chi, phái thì đến các nhà đang thờ gia phổ chi, phái.
          Tới lúc này, nếu còn khỏe, các cụ đi thăm nhà con cháu nội ngoại; sự xuất hiện của các cụ ở nhà con cháu nào thì con cháu ấy rất tự hào; các cụ là biểu tượng của “Ông Thọ” – một trong 3 biểu tượng cho 3 điều ước của mọi nhà: Phúc, Lộc, Thọ. Nếu đã mệt, các cụ về nhà, ngồi tiếp các cụ bạn đồng trang lứa, người thân thích, con cháu tới thăm, chúc Tết. Những con cháu “ăn nên làm ra” đều không quên chuẩn bị sẵn phong bì lì xì cho các cụ. Nhờ thế, cái túi của một số cụ tối đến là căng đầy. Các cụ đưa tay xoa túi, rồi mỉm cười ra vẻ hạnh phúc lắm.
         Đến xế chiều, các cụ trở lại tập trung ở nhà thờ họ để cúng đưa Tổ Tiên. Tổ Tiên đã được rước về trong lễ cúng sáng 30 tháng Chạp. Lễ đón Tổ Tiên thường có cỗ bàn để dân họ liên hoan tất niên; còn lễ đưa, xưa kia có bánh trái, bây giờ chỉ hương, đèn, cau trầu và rượu. Việc sắm sửa các lễ cúng ở nhà thờ họ, ngày trước có định mức rõ ràng, lấy từ hoa lợi của ruộng hương hỏa do Tổ Tiên khai phá, tậu mua để lại, bây giờ, ruộng hương hỏa không còn vì đã đưa vào hợp tác xã, thành thử, dân họ, đến dịp, đóng góp; được nhiều thì lễ cúng sắm nhiều; được ít thì lễ cúng sắm ít. Theo đà tiến hóa của xã hội và theo cách nghĩ của các lớp trẻ sau này, việc cúng tế Tổ Tiên chắc chắn càng ngày càng giảm dù người ta đang có chủ trương duy trì “bản sắc văn hóa” truyền thống. Mỗi thời đại mỗi thay đổi; đó là cái đà lịch sử, ai mà cản được!
          Ngày đầu tiên của Tết trôi qua như thế. Ngoài việc đi thăm và tiếp đón khách, các cụ phải 3 lần - sáng, trưa và tối - cúng mứt, trà, bánh, trái trên bàn thờ gia tiên. Người ta quan niệm: Sau lễ cúng “lên nêu” ngày 30 tháng chạp năm trước, gia chủ đã mời gia tiên về cùng ăn Tết, thế nên đến bữa phải dọn mời các Ngài. Trước đây, phụ nữ trong mỗi gia đình phải nấu cơm, đồ ăn để dâng cúng từng bữa, nay, phần đông các gia đình đã cho qua việc nấu cúng. Kể ra đó cũng là một điểm đáng ghi nhận trong công cuộc giải phóng phụ nữ.

          Những điều viết trên đây là dựa vào phong tục tập quán ở quê tôi. Có thể mỗi nơi mỗi khác. Bài viết chỉ để chia xẻ và trao đổi.

                                                                                        Hoàng Đằng
                                                                 11/02/2015 (23 tháng Chạp năm Giáp Ngọ)

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

THƯ THĂM THẦY HỒ XUÂN DIỆN NHÂN NGÀY 20/11/2014 - Hoàng Đằng



                       

                                                   Tác giả Hoàng Đằng

 Đông Hà, ngày 12 tháng 11 năm 2014
Thầy Hồ Xuân Diện thân kính,

Ở Việt Nam, đã phảng phất không khí ngày NHÀ GIÁO VIỆT NAM – 20/11. Có người gọi đó là Ngày Tết của thầy cô giáo, vì học trò đang nô nức mua hoa, mua quà tặng thầy cô. Nhìn cảnh ấy, tự nhiên em bùi ngùi xúc động, nhớ đến Thầy nhiều hơn.

Thầy đến dạy em – thuộc khóa đầu tiên của trường bán công Đông Hà – từ 1957. Năm học 1957 – 1958 ấy, em đã lên đệ lục (lớp 7 bây giờ). Cũng gọi là trường, nhưng bán công Đông Hà, về cơ sở vật chất, chỉ có một dãy gia binh dành cho vợ con lính đi theo chồng bỏ lại. Vách xây qua loa, không tô trát, mái lợp tôn đã ố rỉ, nền đất. Trước đó, dãy nhà này chia ra bao nhiêu “căn hộ” không biết, khi dùng làm nơi học, được phân thành hai phòng học: một dành cho lớp đệ thất (lớp 6) và một dành cho lớp đệ lục (lớp 7), không có chỗ nào nữa làm nơi nghỉ ngơi cho các thầy ngồi chờ trước khi dạy. Thế mà vì chúng em, Thầy đã đáp lời mời đến với trường. Năm học đó, trường có 3 giáo sư: thầy Nguyễn Viết Trác, thầy Trần Tu và Thầy. Cụ Nguyễn Khắc Thảo – người có công lớn trong việc vận động mở trường – vừa dạy Hán Văn, vừa làm giám thị, vừa quản lý văn phòng.

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

GIỌNG HUẾ: GẦN CẢM, XA THƯƠNG - Lê Duy Đoàn


                             

                                             Tác giả Lê Duy Đoàn



                             
GIỌNG HUẾ - GẦN CẢM, XA THƯƠNG

                                                                                       Lê Duy Đoàn


I. Những chuyện bên lề:

1. Cô gái Huế hỏi: Bài " Giọng Quảng - Gần thương xa nhớ" của anh, em đã đọc nhiều lần ,nhưng lần nầy đọc lại vẫn bị cuốn hút vào câu chuyện ! Giọng Quảng thì gần thương xa nhớ, còn giọng Huế thì ra răng anh hè? Anh lậm tình cô gái Quảng rứa chơ có lậm tình với O gái Huế mô không? Có phải như người ta thường nói "Huế đi để mà nhớ , chứ không phải ở để mà ..." !
Chàng trai Huế trả lời: “Giọng Huế thì gần cảm, xa thương” em à. Ở gần nghe giọng Huế thầy thấm, có thấm mới cảm thương …nàng. Trai gái Huế thì " xa càng nhớ, ở càng thương" giống như anh với em ri nì!
Cô gái Huế nói: “ Anh nói rứa cho vừa lòng em thôi, chứ giọng Bắc sắc sảo, trau chuốt, chuẩn mực giọng nói như rót mật vào tai, giọng Nam ngọt như mía lùi như tai được rót mật răng anh không nói cảm nói thương mà cảm và thương chi “giọng Huế trọ trẹ của miềng” hở anh?
Chàng trai hơi lúng túng một chút trước câu hỏi ngược bất ngờ của cô gái, rồi cũng tìm được câu trả lời: “ Người dân ở xứ nào cũng yêu mến giọng quê của mình. Dù là người Bắc, người Nam hay người miền Trung cứ nghe giọng nói quê mình là thấy động lòng. Người Quảng động lòng giọng Quảng, người Huế động lòng giọng Huế.. Giọng quê qua miệng nói, qua tai nghe rồi đi qua tim. Giọng quê theo máu đi đến toàn thân,len lỏi qua từng tế bào rồi đi đến trú ngụ trong tâm hồn của mỗi con người.
Giọng quê miền nào cũng được người dân miền đó xem là vốn quý. Vốn quý đó được truyền thừa, bảo lưu và có tính chất bảo thủ. Như thế, giọng nói riêng của từng vùng miền không bị đồng hóa, mai một, hòa lẫn, hòa tan vào một giọng nói miền khác.
Mình là người Huế nên giọng Huế được nghe, được nói, được thấm trong máu thịt từ thuở nằm nôi. Trong gia đình và ngoài xã hội, người Huế được tưới tẩm tâm hồn bằng giọng Huế. Lớn lên đi học, giao tiếp cũng nghe cũng nói giọng Huế. Yêu cô gái Huế cũng nghe thỏ thẻ giọng Huế, cũng tỏ tình bằng giọng Huế… Như rứa, người Huế cảm giọng Huế là chuyện bình thường như mối liên hệ giữa sự sống và hơi thở. Thiếu hơi thở thì sự sống ngất ngư, thiếu chất giọng quê mình thì như người thiếu đói, què quặt. Đôi khi người ta ơ thờ với chuyện thở và sự sống đến khi tắt nghẻn hơi thở,mạch nguồn sự sống cũng đảo điên, khi đó người ta mới giật mình. Ví như người Huế xa quê chợt nghe lại giọng Huế đâu đó, cảm thấy thương giọng nói của quê mình, lòng bổng dưng ấm áp như được nối lại với mạch nguồn xứ Huế, rồi chợt bồi hồi xúc cảm thân thương.”
Em đọc mấy câu thơ trong bài “Mơ tình xứ Huế” của nhà thơ Trần Dzạ Lữ thì thấy liền:

                      Cứ mỗi lần nghe giọng của em
                      Anh lại nhớ vô cùng giọng mạ
                      Cố đô mình trong trái tim mô lạ
                      Răng thẩn thờ như thuở mới quen ?

Câu đầu “nghe giọng của em” là gần cảm. Câu hai “nhớ vô cùng giọng mạ” là xa thương đó em à.
Cô gái nghe chàng trai nói về “giọng Huế của miềng” có “ gần cảm, xa thương” ra chiều cảm khái… trái tim non chợt rung lên nhè nhẹ, hơi loạn nhịp!
Mẫu đồi thoại ở trên là của một cô gái và một chàng trai Huế chay, cả hai cũng xấp xỉ…bảy mươi tuổi rồi!!

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

TÔI VIẾT VỀ... THƠ TÔI - Đoàn Anh Kiệt


     
              Tác giả Đoàn Anh Kiệt

    (con trai út của  blogger Phu Đoan)


TÔI VIẾT VỀ... THƠ TÔI 

Dẫn: Hồi nhỏ, ba tôi làm thơ và đọc thơ khá nhiều. Và lần nào mẹ tôi cũng... chê thơ ông dở. Lúc đó không biết nên không dám bàn. Có lần ba tôi đọc thơ, bảo là thơ của nhà thơ nào đó nổi tiếng lắm (không nhớ chính xác tên), mẹ khen hay, song thật ra bài đó là ba tôi viết. Thì sau này tôi nghĩ thơ hay vì... tác giả cũng một phần từ đó mà ra.

Tới giờ, chẳng tự hào gì khi nói tôi quen cũng đã vài cô bạn gái, vì bạn bè tôi đa phần đều "mồ yên mả đẹp" trong nấm mồ hôn nhân hết. Mà lạ, cô nào trước khi quen tôi đều hay khen (có khi vì lịch sự không chừng) là anh viết hay, rồi khi dính chút "cổ phần" trong đời nhau thì cô nào cũng chê thơ/văn anh... dở quá.



Chuyện cũ không nhắc làm gì, cô bạn hiện nay, dân chuyên Văn ngày trước, mỗi khi ngồi chơi, tôi hỏi [thiệt thà] em thấy anh viết thơ trên FB vầy được hông, cô ta cười đáp (nguyên văn) "thơ anh hay, có điều em đọc mệt quá", hỏi sao mệt, cô nói "thì... gật đầu chào người quen hoài nên mệt". Hic, của đáng tội, tôi thì [gần như] không bao giờ chôm thơ ai, hễ đăng đều ghi tác giả, không nhớ thì ghi st, dẫu rằng hay chơi chiêu nhập nhằng chữ st dù thơ mình viết.


Thì đọc nhiều ắt sẽ ảnh hưởng, không dính tứ thơ/ý thơ, cũng dính chút phong cách tác giả mình thích. Suy cho cùng, tôi... trí nhớ tốt, chứ tôi có phải anh chàng Trương Vô Kỵ, học Thái Cực quyền xong quên liền để mà vận dụng theo ý mình đâu. Hôm cafe' với nhau, vui miệng tôi nói thế, nhân tiện trích luôn bài thơ mình khá thích:



                  CHIA

                  Chia tay

                  em chọn nỗi sầu
                  Bán đi mua lại
                  mộng đầu chưa nguôi
                  Bỗng đâu
                  một sớm hoa rơi
                  Kiệu dâu em
                  bước bên người thảnh thơi
                  ….
                  Chia anh
                  nỗi nhớ ngày xưa
                  Bán không đặng
                  đành đổ thừa…
                  hên xui


Nghe xong cô ta bảo thơ gì nghe phát chán, từ "hên xui" bình dân vậy mà đưa vô, phân tích một hồi tôi thấy luôn bài này sao... mất giá quá! Cũng ráng nói thì mà là, song lý lẽ... của trái tim luôn chiến thắng. Đành thôi vậy! Tưởng thua rồi thì thôi, nào ngờ cô ta được nước nói thêm cái bài Không đề của anh nó tệ cực kỳ, trích đăng nguyên văn:


                  Tình thoảng qua như gió
                  Lá vui đùa xôn xao
                  Ngày phơi sầu đã ráo
                  Sao nắng còn hanh hao

                  Mùa qua tình như nắng

                  Vàng góc đời nhỏ nhoi
                  Chim xanh nào đang hót
                  Đâu ngờ ngày lẻ loi

                  Có người chân bước lỡ

                  Lạc lối tình không hay
                  Tưởng rằng mình hạnh phúc
                  Ô hay bụi… mắt cay

                  Đời trôi sao quá vội

                  Tình cứ mãi mông lung
                  Lá rơi chưa ngập lối
                  Đâu rồi tay nắm tay

                  Bao năm mình nông nổi

                  Đổ thừa đời không may
                  Chợt một ngày sám hối
                 Tình đã thành mây bay...


Đặc biệt là câu cuối, nguyên văn "người lớn còn chơi... đổ thừa". Rồi mấy bài xưa xưa nữa "phơi tình ngày nắng ráo, con tim đổ mưa rào, em ngày xưa... lỡ dại, yêu anh đời hư hao", thơ thì toàn ý người khác, lời thì cũ, tứ thì mòn. Bực quá, đành ráng... mặt dày viết bài để "em nó" khai sáng tri thức bình luận thơ ca.

Thơ chủ yếu là gì? Là tạo niềm cộng hưởng với người đọc. Cùng một bài, người này cảm khác, người kia cảm khác. Đối với anh A, bài này hay nhưng với anh B thì vẫn bài đó là dở. Nhưng nếu vậy thì cần chi đến nghệ thuật phê bình? Thơ, với tôi, là cách sắp chữ, để nói lên cái mà mình không nói được! Thì đó, có thất tình đâu, có chia tay đâu, song thơ chia tay, thơ thất tình thích thì viết một ngày vài... trăm bài còn dư sức, đặc biệt là thời 26, 27 tuổi. Thẩm thơ, đâu phải chỉ "tâm tri" còn phải có "trí tri" nữa chứ. Con chữ vốn vô hồn, ai cũng học đủ bảng chữ cái, nhưng viết một bài văn cho đúng chính tả chưa chắc đã là việc dễ làm với khá nhiều người, nói chi đến viết để cộng hưởng cảm xúc được?


Hồi 26; 27 tuổi tôi gần như muốn là viết. Thơ cũng được, văn cũng xong. Phóng bút thành văn dễ ợt chứ khó gì, ráp vần ráp chữ là xong. Nhưng mà nói thật, đọc lại nhiều khi... xấu hổ lắm.


Còn phê bình, phê bình cái gì đây ngoài câu chữ hiển hiện đó? Phân tích nhịp điệu, phân tích từ ngữ để mà thấy cái dụng công của tác giả, và với bài nào "tuyệt đỉnh" thường là một câu "hồn nhiên,  thiên thành". Đạt đến mức hồn nhiên như trời có sẵn đó thì TẤT CẢ đều phải dụng công, dụng công trong từ ngữ cực nhiều. Lao tâm khổ tứ để tìm cho được một chữ ráp vô, sửa tới sửa lui, đọc đi đọc lại, rốt cục chỉ muốn đạt tới mức tự nhiên như không cần dụng công.


Tôi viết cũng không ít bài bình thơ, đa phần là thơ xưa, thơ Tàu, và tôi tự nhận cái đó là bình giấm, như một nhà phê bình người Pháp tự nhận "rượu để chua quá thì thành giấm, viết không được thì... đi bình luận vậy". Nhưng thật ra, người viết bài bình luận thì có lẽ cực hơn người viết, người viết vì một cảm xúc gì đó phóng bút là xong, còn người bình đọc xong, chờ lắng cảm xúc, tìm dẫn chứng, tìm câu văn, tìm minh họa để mà bình cho người đọc thưởng lãm. Nên tuy "ai đem phân chất một mùi hương, hay bản cầm ca tôi chỉ thương" nhưng bình thơ bình văn vẫn cần lắm. Còn đọc chê dở chê hay thì nào có khó gì? Như ngày trước tôi chê Truyện Kiều, tôi cũng phải ráng viết cho được một bài [dù] ngắn để mà chê cho... có hồn (?)


Chỉ là... bụt chùa nhà không thiêng! Hic


                                                                                    Đoàn Anh Kiệt


                                                                                        29/10/2014


Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

ĐỖ HỮU, LƠ LỬNG MỘT DÒNG THƠ - Nguyễn Khôi

              
                            


                                     ĐỖ HỮU - LƠ LỬNG MỘT DÒNG THƠ
                                    
  Thơ Việt Nam, từ sau năm1945 thường hiện hữu trên hai chiến tuyến : "Quốc gia- VNCH- chống Cộng" / "Kháng chiến - Cộng sản XHCN" cả hai đều được hệ thống thông tin báo chí (phe nào, phe nấy) quảng bá hết cỡ...
  Tuy nhiên, còn có một dòng thơ lơ lửng, không phe phái nhưng thấm đẫm hồn Dân tộc với một nghệ thuật "rất Thơ" (không  in ấn xuất bản) cứ âm thầm truyền lan trong lòng người dân Việt ở mọi phía ...Ví dụ : như Trung niên Thi sĩ Bùi Giáng (1926-1998), Thi sĩ Đỗ Hữu (1938-2009) ...
  Với Bùi Giáng, thì đến hôm nay (2014)đã được cả 2 phía coi là một trong các nhà thơ lớn của Dân tộc ? còn Đỗ Hữu thì còn rất ít người biết đến, nhất là với giới thơ văn ở Hà Nội.