BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI ĐINH DẬU 2017 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

NGÀY TẾT VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở QUÊ TÔI - Hoàng Đằng



Tác giả Hoàng Đằng


NGÀY TẾT VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở QUÊ TÔI 

                                                                                              Hoàng Đằng

       Trong ngôn từ, Tết thường đi theo với sự nghỉ ngơi, sự vui chơi, sự hưởng thụ – nghỉ Tết, chơi Tết, hưởng Tết. Tuy nhiên, phần lớn người ta nghỉ Tết là chỉ ngưng công việc mưu sinh; nói phần lớn mà không nói tất cả vì một số người vẫn tận dụng dịp Tết để kiếm thu nhập: tham gia gian hàng ở hội chợ, chủ sòng bài, xem bói …  
       Thực tế trong ngày Tết, những người lớn tuổi phải làm những công việc tổn hao sức lực, đôi khi với nhịp độ còn cao hơn ngày bình thường.
      Mỗi người cứ tự ngẫm trường hợp bản thân của mình. Riêng tôi,  một người cao tuổi ở vùng quê, thì nhiều việc lắm, mệt mỏi lắm. Mời bạn đọc nghe tôi kể nhé!
Tôi chỉ giới hạn thời gian trong ngày MỒNG MỘT THÁNG GIÊNG.

        Từ tối hôm trước (30 tháng Chạp) cho đến giờ giao thừa, người cao tuổi quê tôi không ngủ, loay hoay chuẩn bị lễ cúng: têm cau trầu, xếp vàng bạc, giấy áo … bên cái TV bật sẵn để theo dõi tin tức đón Tết từng giờ ở các địa phương trong nước và trên thế giới, chờ nghe lời chúc đầu năm của vị nguyên thủ quốc gia; lời chúc Tết này quan trọng lắm vì đó là thông điệp phác họa những hướng đi của quốc gia trong thời gian tới. Chúng ta hãy ngẫm lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong lời chúc đọc giao thừa Tết Mậu Thân, có mấy câu “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua; thắng lợi tin vui khắp mọi nhà …” là qua ngày mồng một nổ ra cuộc tổng công kích vào các đô thị miền Nam.
          Con dâu nấu xong lễ cúng giao thừa, ra mâm ra dĩa: xôi, chè, cháo thánh - ở nhiều nhà, thêm con gà trống tơ để nguyên con luộc chín, lấy giò, cúng xong, xem quẻ đầu năm. Lễ cúng bưng đặt ở 2 nơi: bàn thờ gia tiên trong nhà và bàn thờ đặt bên ngoài, giữa trời, nên dân gian dùng từ “Cúng Giữa Trời”, “cúng giữa trời” dâng lên các vị thần linh điều hành mọi việc trong năm mới, các âm hồn cô hồn vãng lai, hay quanh quẩn trong vườn ngoài ngõ. Kể một chuyện “hơi tệ” nhưng có thật: Trước đây, kinh tế khó khăn, việc ăn uống thiếu thốn, cúng xong lễ này, con cháu đang ngủ say, các cụ cao tuổi lợi dụng cơ hội xử nguyên cả con gà cho “đã thèm thịt”. Bây giờ thì khác rồi, các cụ bưng vô đặt giữa bàn ăn, tìm lồng bàn đậy lại, sáng mai ai xử thì xử, rồi nằm xuống nghỉ lưng cho đỡ mỏi.
        Sáng mồng một Tết, các cụ dậy hơi trưa hơn thường ngày vì do thiếu ngủ, rửa ráy mặt mày, bận quốc phục vào, ngắm lui ngắm lại, xem đã tề chỉnh chưa, bật căng dù che lên nếu trời có mưa xuân lất phất hay nắng gắt, nếu không mưa thì xếp dù cầm ở tay; từ các đường xóm, các cụ ra đình làng, đốt hương, lễ bái thần linh của làng, rồi đi thăm các cơ quan công quyền đóng trên lãnh thổ địa phương: Ủy Ban Xã, Trạm Xá, Trường Học. Ở những nơi này, vị đứng đầu cơ quan thường có mặt đón tiếp; có nơi, các cụ còn nhận được tiền lì xì – người ta gọi là tiền mừng thọ - đựng trong phong bì đỏ do các trưởng cơ quan trao tặng. Các cụ hãnh diện lắm, mừng lắm, vì có thêm tiền để chơi cờ sau này; chốc nữa, về đến nhà, các cụ khoe ngay với các cụ bà.
          Nhận phong bì xong, cụ nào thuộc họ nào thì về từ đường họ của mình, đốt hương, lễ bái Tổ Tiên.  Các cụ cũng làm như vậy  ở các nhà thờ chi, phái; nếu chưa có nhà thờ chi, phái thì đến các nhà đang thờ gia phổ chi, phái.
          Tới lúc này, nếu còn khỏe, các cụ đi thăm nhà con cháu nội ngoại; sự xuất hiện của các cụ ở nhà con cháu nào thì con cháu ấy rất tự hào; các cụ là biểu tượng của “Ông Thọ” – một trong 3 biểu tượng cho 3 điều ước của mọi nhà: Phúc, Lộc, Thọ. Nếu đã mệt, các cụ về nhà, ngồi tiếp các cụ bạn đồng trang lứa, người thân thích, con cháu tới thăm, chúc Tết. Những con cháu “ăn nên làm ra” đều không quên chuẩn bị sẵn phong bì lì xì cho các cụ. Nhờ thế, cái túi của một số cụ tối đến là căng đầy. Các cụ đưa tay xoa túi, rồi mỉm cười ra vẻ hạnh phúc lắm.
         Đến xế chiều, các cụ trở lại tập trung ở nhà thờ họ để cúng đưa Tổ Tiên. Tổ Tiên đã được rước về trong lễ cúng sáng 30 tháng Chạp. Lễ đón Tổ Tiên thường có cỗ bàn để dân họ liên hoan tất niên; còn lễ đưa, xưa kia có bánh trái, bây giờ chỉ hương, đèn, cau trầu và rượu. Việc sắm sửa các lễ cúng ở nhà thờ họ, ngày trước có định mức rõ ràng, lấy từ hoa lợi của ruộng hương hỏa do Tổ Tiên khai phá, tậu mua để lại, bây giờ, ruộng hương hỏa không còn vì đã đưa vào hợp tác xã, thành thử, dân họ, đến dịp, đóng góp; được nhiều thì lễ cúng sắm nhiều; được ít thì lễ cúng sắm ít. Theo đà tiến hóa của xã hội và theo cách nghĩ của các lớp trẻ sau này, việc cúng tế Tổ Tiên chắc chắn càng ngày càng giảm dù người ta đang có chủ trương duy trì “bản sắc văn hóa” truyền thống. Mỗi thời đại mỗi thay đổi; đó là cái đà lịch sử, ai mà cản được!
          Ngày đầu tiên của Tết trôi qua như thế. Ngoài việc đi thăm và tiếp đón khách, các cụ phải 3 lần - sáng, trưa và tối - cúng mứt, trà, bánh, trái trên bàn thờ gia tiên. Người ta quan niệm: Sau lễ cúng “lên nêu” ngày 30 tháng chạp năm trước, gia chủ đã mời gia tiên về cùng ăn Tết, thế nên đến bữa phải dọn mời các Ngài. Trước đây, phụ nữ trong mỗi gia đình phải nấu cơm, đồ ăn để dâng cúng từng bữa, nay, phần đông các gia đình đã cho qua việc nấu cúng. Kể ra đó cũng là một điểm đáng ghi nhận trong công cuộc giải phóng phụ nữ.

          Những điều viết trên đây là dựa vào phong tục tập quán ở quê tôi. Có thể mỗi nơi mỗi khác. Bài viết chỉ để chia xẻ và trao đổi.

                                                                                        Hoàng Đằng
                                                                 11/02/2015 (23 tháng Chạp năm Giáp Ngọ)

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

THƯ THĂM THẦY HỒ XUÂN DIỆN NHÂN NGÀY 20/11/2014 - Hoàng Đằng


                        
             
                  Tác giả Hoàng Đằng

 Đông Hà, ngày 12 tháng 11 năm 2014
Thầy Hồ Xuân Diện thân kính,

Ở Việt Nam, đã phảng phất không khí ngày NHÀ GIÁO VIỆT NAM – 20/11. Có người gọi đó là Ngày Tết của thầy cô giáo, vì học trò đang nô nức mua hoa, mua quà tặng thầy cô. Nhìn cảnh ấy, tự nhiên em bùi ngùi xúc động, nhớ đến Thầy nhiều hơn.

Thầy đến dạy em – thuộc khóa đầu tiên của trường bán công Đông Hà – từ 1957. Năm học 1957 – 1958 ấy, em đã lên đệ lục (lớp 7 bây giờ). Cũng gọi là trường, nhưng bán công Đông Hà, về cơ sở vật chất, chỉ có một dãy gia binh dành cho vợ con lính đi theo chồng bỏ lại. Vách xây qua loa, không tô trát, mái lợp tôn đã ố rỉ, nền đất. Trước đó, dãy nhà này chia ra bao nhiêu “căn hộ” không biết, khi dùng làm nơi học, được phân thành hai phòng học: một dành cho lớp đệ thất (lớp 6) và một dành cho lớp đệ lục (lớp 7), không có chỗ nào nữa làm nơi nghỉ ngơi cho các thầy ngồi chờ trước khi dạy. Thế mà vì chúng em, Thầy đã đáp lời mời đến với trường. Năm học đó, trường có 3 giáo sư: thầy Nguyễn Viết Trác, thầy Trần Tu và Thầy. Cụ Nguyễn Khắc Thảo – người có công lớn trong việc vận động mở trường – vừa dạy Hán Văn, vừa làm giám thị, vừa quản lý văn phòng.

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

NHÂN SỰ VIỆC CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN - Hoàng Đằng


               chau-ban-trieu-nguyen-7715-1406697974.jp
Trưởng đại diện văn phòng UNESCO Hà Nội, bà Katherine Muller Marin trao bằng công nhận Di sản tư liệu Châu bản triều Nguyễn thuộc chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam, ông Nguyễn Thái Bình.                                                                               Ảnh: Quỳnh Trang


       NHÂN SỰ VIỆC CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN


Ngày 30/7/2014 vừa rồi, chính phủ Việt Nam đón nhận “Bằng Di Sản Tư Liệu Thuộc Chương Trình Ký Ức Thế Giới Khu Vực Châu Á – Thái Bình Dương” do UNESCO trao tặng công nhận đối với Châu Bản Triều Nguyễn.
Châu Bản Triều Nguyễn là những văn bản hành chánh quan trọng quản lý nhà nước về mọi mặt dưới triều Nguyễn (1802 – 1945) từ vị vua đầu tiên là Gia Long đến vị vua cuối cùng là Bảo Đại; những văn bản này gọi là Châu Bản vì có bút phê cho ý kiến bằng mực màu son đỏ (châu) của vua.
Trong Châu Bản, phần có tính thời sự nhất hiện thời là sự xác lập chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang có tranh chấp quyết liệt với Trung Quốc. Trung Quốc là một nước lớn, mạnh hơn nước ta nhiều lần về mọi mặt. Việc đấu tranh chỉ trông cậy về mặt pháp lý và ngoại giao. Vì vậy, những gì còn ghi trong Châu Bản được đánh giá là bằng chứng lịch sử có giá trị cao.

          
Châu bản triều Nguyễn không chỉ là di sản chứa đựng những sự kiện lịch sử có giá trị, mà còn là minh chứng về chủ quyền biển đảo

Các vị vua triều Nguyễn đặc biệt là 2 vị đầu: Gia Long và Minh Mạng có tài năng, có kiến thức về trị nước, có tâm huyết với giang sơn. Hai vị vua ấy đã thống nhất trọn ven lãnh thổ quốc gia không những trên đất liền mà còn vươn ra các đảo xa trong vịnh Bắc bộ, trong biển Đông và trong vịnh Thái Lan. Hai vị vua ấy còn có công kiện toàn bộ máy quản lý lãnh thổ mà cho đến ngày nay dấu vết còn in ở một vài lãnh vực.    

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

DỰ GẶP MẶT TRƯỜNG TRIỆU PHONG LẦN III - Hoàng Đằng


Tác giả Hoàng Đằng


DỰ GẶP MẶT TRƯỜNG TRIỆU PHONG LẦN III

Sáng 22/6/2014, mình được mời dự GẶP MẶT THÂN MẬT các thế hệ học sinh trường trung học Triệu Phong 1960 – 1975 tại nhà hàng khu Sinh Thái Tích Tường - thị xã Quảng Trị.

Tại Triệu Phong, trường không còn dấu tích, buổi Gặp Mặt không biết tổ chức nơi mô, nên mới chọn khu vui chơi giải trí. Tội nghiệp! Hiện tại, huyện Triệu Phong có đến 30 trường bậc trung học: 04 trung học phổ thông và 26 trung học cơ sở; mà chẳng có trường nào nhận bà con – làm em út - trường Triệu Phong cũ!

Khu Sinh Thái nằm bên hồ nước lớn, trước mặt là mương chính thủy lợi Nam Thạch Hãn chảy qua, phủ bóng cây cối, thoáng. Gió Lào thổi từng luồng mạnh cuốn hơi nước tạt vào làm không khí mát mẻ; trời hè nóng bức mà quạt không cần sử dụng. Sướng thiệt!

Khu Sinh Thái Tích Tường ngày Gặp Mặt Triệu Phong 2014

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

ĐI TÌM NGUỒN VUI PHẦN III - Hoàng Đằng

Thầy Nguyễn Văn Thị, người cầm hoa


                                         ĐI TÌM NGUỒN VUI - PHẦN III

                                      (Viết về thầy giáo già Nguyễn Văn Thị)

Sáng 13/4/2014, tôi cho in ĐI TÌM NGUỒN VUI phần 1 và phần 2. Con trai tôi chở tôi đem lên giao cho anh đọc. Anh không xài vi tính nối mạng. Mắt anh mờ, đọc chữ được chữ mất. Anh bảo tôi đọc cho anh nghe. Anh lắng nghe chăm chú, gặp đoạn nào tâm đắc, anh cười.  


Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

ĐI TÌM NGUỒN VUI PHẦN II - Hoàng Đằng



                      Hình ảnh: Đi tìm nguồn vui
(Viết về thầy giáo già Nguyễn Văn Thị)
(Phần 1)

“Sao đời thì ngắn mà ngày thì dài!”. Dạo này, ông anh cả tôi thường thở than như vậy. Anh già quá rồi, quỹ thời gian trên đời không biết còn bao nhiêu, nhưng chắc chắn ít, không nhiều. Hàng đêm, anh ngủ không ngon giấc, hàng ngày ngồi bên bàn thờ khói hương nghi ngút, không biết làm gì; đọc sách hay xem TV thì mắt đã mờ, cũng khó khăn. Trí óc, lòng dạ anh dành cho những kỷ niệm trong quá khứ rồi ngậm ngùi. Rứa mới khổ!

Chị 78 tuổi vừa mất cách đây hai tuần (24/2/Giáp Ngọ) vì già yếu và bệnh tật, để lại anh 82 tuổi lẻ loi. Đối với người trẻ tuổi, vợ mất, sau một năm tang mãn, đi tìm vợ mới. Đó là nói những người đàn ông sống có lễ giáo, còn những người sống buông thả, vợ chưa mất, đã cặp bồ với tình nhân này qua tình nhân nọ, nói chi đến khi vợ mất, nói chi đến chuyện cư tang.
Anh tôi đặc biệt trung thành với vợ suốt đời; mấy chục năm qua, vợ bệnh, anh quanh quẩn trong nhà, ít khi đi ra ngoài. Anh nói với tôi:
- Đi mô vắng mặt ở nhà, lỡ chị có chuyện chi, hối hận cả đời.
Bây giờ, chị không còn trên cõi đời; để giết thì giờ, anh đi. Anh nhờ người chở trên xe máy, vào ngồi hàng giờ bên mộ chị. Anh thuê xe taxi rủ tôi đi đây đi đó, hai anh em trên xe, kể cho nhau nghe những chuyện tếu, “chuyện hoang”, kể rồi cười, cười rồi kể. Thời gian qua nhanh, mới sáng đã trưa, mới trưa đã chiều. Nhờ thế, anh khuây khỏa.

Sáng 07/4/2014 (08/3/Giáp Ngọ), tôi vừa ra khỏi giường, anh điện thoại về. Anh hỏi:
- Em khỏe không? Anh đưa xe về, em đi chơi với anh nghen.
8,30 giờ. Xe bọp còi ngoài ngõ. Tôi lên xe ngồi bên anh. Anh cho biết kế hoạch trong buổi sáng. Anh muốn thăm mộ phần của cha mẹ tôi. Anh đã có ý muốn ấy lâu rồi – lúc anh em mới kết nghĩa  12/12/2010, tuy nhiên, vì điều kiện và “lực bất tòng tâm”. Đêm 23 rạng 24/12/Quý Tỵ, mẹ tôi qua đời ở tuổi 92, anh không về thắp hương được vì lúc ấy, chị cũng trong thời kỳ hấp hối. 
Xe ngược Quốc Lộ 9 nhánh D hướng Cam Lộ. Xe chạy khoảng 4 km thì dừng lại. Mộ cha mẹ tôi nằm sát đường – “mặt tiền”. Tôi hướng dẫn anh vào, thắp hương. Trước mỗi mộ, anh cung kính vái và thì thầm trình diện. Cử chỉ và thái độ của anh khiến tôi cảm động, mấy giọt nước mắt lăn xuống má. Anh cho biết kế hoach tiếp là đến thắp hương thầy Nguyễn Viết Trác đã mất đầu năm 2010. Anh muốn đi viếng mộ thầy Trác 2 lần rồi, nhưng chưa thực hiện được; lần này phải đi cho được thôi. Tôi làm người hướng dẫn. Xe trực chỉ hướng Tây – phía Cam Lộ, chạy chưa đầy 1 km thì rẽ phải. Đường đến khu mộ thầy Trác đi theo lối này phải qua một đoạn nguyên trước là hố tập trung rác của thành phố Đông Hà vừa mới được chôn lấp và san bằng. Tài xế đưa xe vào lối, thấy trước mặt gập ghềnh, xập xậy, từ chối đi tiếp vì sợ xe lún. Kế hoạch thăm mộ thầy Trác đành tạm hủy, chờ dịp khác, miễn Trời cho anh khỏe là được. 
Xe trở đầu theo Quốc Lộ 9 về hướng Đông rồi vào Quốc Lộ 1 xuôi Nam. Chưa đến cầu Lai Phước, xe rẽ hướng Đông vào con đường nhựa nhỏ mang tên Nguyễn Hoàng. Mừng là ở Quảng Trị, kể từ khi trường trung học lớn ở thị xã tỉnh lỵ mất tên sau năm 1975, nay có con đường này dành để đặt tên Chúa Tiên – Vị Chúa đã tạo dựng ra xứ Đàng Trong, một nửa giang sơn Việt Nam. Nhưng tiếc là chưa xứng tầm. Công lao Chúa Tiên, trong lịch sử dựng nước, có thua thì chỉ thua các vua Hùng. 
Xe qua cầu Đại Lộc, một cây cầu bê-tông cốt thép mới bắc qua sông Thạch Hãn. Như vậy, qua sông Thạch Hãn bây giờ có đến 06 cây cầu: Cầu Ga xe lửa, cầu Ga ô-tô, cầu bê-tông An Mô, cầu bê-tông Đại Lộc, cầu phao An Dã, cầu bê-tông Cửa Việt, ấy là chưa kể con đập chắn sông thủy lợi Nam Thạch Hãn phía trên xã Hải Lệ. Nghĩ mà  hãnh diện cho sự phát triển hạ tầng giao thông của quê nhà. 
Đường nối vào cầu Đại Lộc ở mạn Tây chưa hoàn chỉnh, trước khi lên cầu, xe phải chạy ngoằn ngoèo. Chắc là ngân sách đầu tư công thiếu hụt. Thôi thì đành chờ vốn ODA! 
Xe chạy qua những làng mạc, những cánh đồng lúa. Nhà cửa hai bên đường đều là nhà xây, nhà đúc, rải rác có những nhà cao tầng; đời sống dân quê hiện nay đã nâng lên rõ rệt rồi, huống chi sau này dự án xây dựng nông thôn mới hoàn tất! Nông thôn và đô thị rút bớt khoảng cách giàu nghèo. Đó chắc chắn không phải là niềm mơ ước của riêng một ai. Hai bên đường, lúa đang thời thai nghén - làm đòng, trông dáng vẻ báo hiệu một mùa thu hoạch tốt. Xe theo đường tỉnh lộ 4 về hướng Cửa Việt. Qua khỏi chợ Bồ Bản, xe rẽ hướng Nam vào huyện lộ DH 41. Trong thời gian từ 1995 đến 2004, tôi đã đi lại trên con đường này nhiều lần khi làm việc cho chương trình cộng đồng của Tổ Chức Handicap International rồi World Vision International. Ngày xưa ấy, đường còn bằng đất, đá đổ lởm chởm, nhiều ổ gà, gập ghềnh, xe mô tô chạy rất cực. Bây giờ thì đường đã tráng nhựa phẳng lì, Tiếc là tôi không có cơ may hưởng lợi! 
Xe chạy khoảng 500 mét, về hướng Đông là một vùng đất cồn lăng mộ xây, cái cao cái thấp, sơn quét đủ màu sắc chen lẩn giữa những bụi cây. Xe dùng lại, anh tôi và tôi xuống xe. Đi vào nghĩa địa làng Bồ Bản, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong thăm mộ phần thân nhân bên ngoại của các cháu. Do dạo này, mắt kém, anh mất phương hướng, lại thêm,  cơn co thắt mạch vành lên do bệnh tim mãn tính, với lại, không quen đi bộ, anh quên mất vị trí những ngôi mộ mình muốn thăm. Anh xoa đầu gãi tai, chả lẽ về đây rồi mà không viếng được mộ. Bỗng dưng một sáng kiến nảy ra trong đầu. Anh nhờ tài xế bấm số máy đứa cháu gọi chị bằng o trong làng, nhờ nó ra chỉ giùm. Máy đổ chuông liên hồi mà không ai cầm ống nghe. Nghỉ một chốc, bấm lại, chuông cũng đổ, rồi đầu dây kia tắt máy. Đứa cháu vắng nhà hay không muốn nghe gọi từ số máy lạ? Thôi. Thử cố gắng rảo khắp nghĩa địa tìm, xem sao? Tôi khuyên anh kiếm chỗ im mát ngồi nghỉ, tôi đi lần theo từng lăng mộ, trước mỗi lăng mộ, dừng lại, đọc văn bia. À, đây rồi, lăng đôi nhạc phụ nhạc mẫu của anh, đây rồi lăng mộ của em gái chị mất lúc mới 16 tuổi. Thời gian tìm kiếm chưa tới 15 phút. Chắc phải có hồn thiêng những người đã khuất phò hộ, hướng dẫn, chứ không, việc tìm kiếm cũng phải mất một vài giờ.
Anh thắp hương và khấn vái thì thầm trước mỗi mộ. Đúng là ông con rể chí thảo, chí hiếu!
Anh lại hướng dẫn xe quay lại đường tỉnh lộ 4, chạy lên thị xã Quảng Trị, thăm mấy đứa em khác. Nhà mà anh và tôi đến là “biệt thự” của “cặp đôi hoàn hảo” Đỗ Tư Nhơn – Hồ thị Tú. Nguyễn Văn Nuôi từ Ngô Xá, cách 15 km, cũng có mặt tại đó. Kế hoach ban đầu của anh là chuyện trò vài phút, mục đích là thăm đứa em út Hồ thị Tú vì anh ít thấy mặt; xong, xe về nhà ở Đông Hà cho kịp bữa cơm trưa kẻo các con chờ. Ngờ đâu vợ chồng Nhơn + Tú sửa soạn bữa cơm trưa gồm nem rán, cá kho, canh cá, thịt heo, rau sống ... và mời ở lại cho kỳ được. Nhơn – Tú có tấm lòng thì anh em sẵn sàng no bụng. Tài đầu bếp của cô Tú cống hiến một bữa cơm không những bắt mắt mà còn ngon miệng. Xe về Đông Hà gần 13 giờ. Gần tối, anh điện thoại hỏi tôi:
- Em mệt không?
Cảm ơn sự quan tâm đều đặn của anh đến đứa em này./.
Hoàng Đằng
10/4/2014
                          Từ trái sang phải:  
                                             Bốn anh em kết nghĩa: Đằng, Thị, Nuôi, Nhơn



                                ĐI TÌM NGUỒN VUI
                                                                             Hoàng Đằng 

                          (Viết về thầy giáo già Nguyễn Văn Thị - Phần 2)



- Ngày ni anh em mình đi chơi nữa hi?
Anh cả gọi về khi tôi đang “nằm gắng” trên giường; lúc đó khoảng 6 giờ sáng 10/3/Giáp Ngọ (09/4/2014). Hàng đêm, anh chỉ ngủ nhiều lắm là từ 21 giờ đến 02 giờ. Anh dậy thắp hương cho chị, rồi đi lui đi tới trong nhà; chân yếu, độ bật của cơ không có, kéo lệt bệt hai bàn giữa sàn nhà, tiếng sột soạt làm cho con cháu không ngon giấc. Rõ khổ ông già nầy!
 Tôi hỏi:
- Đi bằng phương tiện gì rứa anh?
- Đi ô-tô chứ còn gì nữa. Anh tự hào trả lời.
Biết anh không làm gì có thu nhập từ lâu, trong tình anh em, tôi thật thà hỏi:
- Rứa tiền mô mà mới thuê xe đi bữa kia hôm nay lại thuê nữa? 


Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

ĐI TÌM NGUỒN VUI PHẦN I - Hoàng Đằng



Thầy Nguyễn Văn Thị, người cầm hoa


                                           ĐI TÌM NGUỒN VUI


                             (Viết về thầy giáo già Nguyễn Văn Thị - Phần 1)

                                                                                        Hoàng Đằng

Sao đời thì ngắn mà ngày thì dài!”. Dạo này, ông anh cả tôi thường thở than như vậy. Anh già quá rồi, quỹ thời gian trên đời không biết còn bao nhiêu, nhưng chắc chắn ít, không nhiều. Hàng đêm, anh ngủ không ngon giấc, hàng ngày ngồi bên bàn thờ khói hương nghi ngút, không biết làm gì; đọc sách hay xem TV thì mắt đã mờ, cũng khó khăn. Trí óc, lòng dạ anh dành cho những kỷ niệm trong quá khứ rồi ngậm ngùi. Rứa mới khổ!     

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

TRỌN TÌNH VẸN NGHĨA - Hoàng Đằng

  

                                     Hình ảnh: TIN BUỒN
Trân trọng thông báo quí Thầy Cô và các ACE CHS NH khắp nơi đc biết Cô LÊ THỊ DẠN, phu nhân thầy NGUYỄN VĂN THỊ, cựu giáo chức NH-QTrị, sau thời gian dài lâm bệnh nặng đã qua đời sáng nay lúc 0815H. 
 Lể khâm liệm chiều nay từ 1700H đến 1900H/24/3/2014. Chương trình tang lễ sẽ đc thông báo sau vì chưa đc ấn định. 
   Trân trọng kính báo.
                                                    Di ảnh cô Lê Thị Dạn



                              TRỌN TÌNH VẸN NGHĨA


Lúc 11,15 giờ, ngày 27/3/2014 (27/2/Giáp Ngọ), chiếc quan tài đựng thi hài chị Lê thị Nhạn, hiền thê ông anh kết nghĩa của tôi Nguyễn Văn Thị, đã từ từ hạ huyệt tại Nghĩa Trang Nhân Dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Đông Hà là nơi chị đã sống gần một nửa phần đời.
Chị không về nghĩa trang làng Bồ Bản, nơi Tổ Tiên chị đã yên nghỉ; chị cũng không vào nghĩa trang bên chân núi Ngự Bình, nơi yên nghỉ của các vị gia tiên chồng chị. Chị nằm đây bên cạnh chỗ nằm của anh đang để chờ; xóm giềng chị giờ đây là những người chọn Đông Hà làm quê hương.
Quả tim chị đã ngừng thở lúc 8,15 giờ ngày 24/3/2014 (24/2/Giáp Ngọ). Chị từ biệt cõi trần trong nỗi ngậm ngùi của người chồng đã chia ngọt xẻ bùi với chị 54 năm qua.   


Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

TỪ TRÒ CHƠI ĐÁ DẾ TRẺ CON ĐẾN TRÒ CHƠI CHỌI CHÓ NGƯỜI LỚN - Hoàng Đằng


                                                      
                                          
                                                 Tác giả Hoàng Đằng


        TỪ TRÒ CHƠI ĐÁ DẾ TRẺ CON ĐẾN TRÒ CHƠI CHỌI CHÓ NGƯỜI LỚN 

                                                                                                      Hoàng Đằng



Bây giờ đang là tháng 2 Âm Lịch, khoảng một tháng nữa, lúc sáng tinh mơ, ai có dịp đi ra đồng, đều nghe được tiếng dế vang lên chỗ này chỗ nọ.
Thuở trước, ở quê lão, trong những trò chơi trẻ con, có trò “đá rế” (rế là tiếng quê lão chỉ con dế). Dế đực mới đá nhau, dế cái thì không. Dế đen gọi là dế mọi, dế vàng gọi là dế lửa, dế có màu giữa đen và vàng gọi là dế pha.   


Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

PHIẾM LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI - Hoàng Đằng



      
     Ảnh tác giả:
   Thầy Hoàng Đằng (cựu giáo sư trường Trung Học Nguyễn Hoàng Quảng Trị và Trung Học Đông Hà Quảng Trị trước 1975)







               PHIẾM LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

                                         (Viết nhân ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3)


      “Em ơi có bao nhiêu. Sau mươi năm cuộc đời ...”.

      Trong một bữa cơm thân mật tổ chức tại hội trường khu phố, một bác nông dân trạc tuổi 50 lên giúp vui phần văn nghệ với bài hát “Sáu mươi năm cuộc đời” của nhạc sĩ Y Vân. Bác vừa hát vừa nhún nhẩy.  


Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

CHUYỆN THẦY TRÒ QUA ĐƯỜNG GẶP NHAU - Hoàng Đằng

            Mời đọc một truyện ngắn, thầy Hoàng Đằng gửi đến chúng tôi qua email

                           
                                         

Thầy Hoàng Đằng, cựu giáo sư trường Trung Học Đông Hà và Nguiyễn Hoàng, Quảng Trị trước 1975. Ảnh từ trang Hội ái hữu Công Lập Đông  Hà


                    CHUYỆN THẦY TRÒ QUA ĐƯỜNG GẶP NHAU
                                        (Truyện ngắn của LÃO GÀN)

Hôm ấy, Thắng đi Đà Nẵng, dự đám cưới đứa cháu gọi Thắng bằng cậu. Thắng diện bộ trang phục oách nhất: quần dài đen sẫm ống phủ lên đôi giày đen bóng, veston đen sẫm khoác lên áo sơ-mi trắng tinh, điểm thêm trước ngực chiếc cà-vạt đỏ tươi.
Đường xa gần 200 cây số. Gió thổi lồng lộng qua cửa xe mở hé, đầu tóc Thắng rối xù. Đến nơi, mới bước xuống xe, Thắng rút từ túi veston chiếc lược nhựa màu nâu. Nhìn vào kính chiếu hậu của chiếc xe vừa đậu, Thắng ngắm nghía mặt mày, nghiêng đầu qua về, chãi lại tóc.  
Bất chợt, trong kính, Thắng thấy một người đàn ông già đang cỡi chiếc xe đạp đèo hai giỏ than hầm hai bên porte-bagages – loại than thường dùng trong các thành phố để nấu nướng vào thời nhiên liệu khan hiếm.  

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

TIẾT VĂN KÉO DÀI 46 NĂM - Hoàng Đằng

Thầy Hoàng Đằng vừa gửi email đến chúng tôi một bài viết về TÌNH THẦY TRÒ với tựa đề thật lạ.
 Xin mời đọc


       
      Một dãy lầu của trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị trước 1975


                                       TIẾT VĂN KÉO DÀI 46 NĂM

Năm nay (2013), chiều 15/11, tôi được nhóm học sinh cũ Nguyễn Hoàng – Quảng Trị khóa 1963 – 1970 mời dự họp mặt chào mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam (20/11) tổ chức tại tư gia anh Đinh Quang Tạo ở 228 Lý Thường Kiệt – thành phố Đông Hà.
Bên ngoài, trời mưa nặng hạt. Từ Thừa Thiên-Huế vô tới Bình Định, lũ lụt rất lớn. Lớn do mưa nhiều, mưa to, do rừng rú đã mất nhiều độ che phủ và do các đập thủy lợi, thủy điện xả nước vì sợ vỡ.
Căn phòng không lớn lắm được trang hoàng cẩn thận: banderole, lẵng hoa, hệ thống âm thanh, đàn organ. Bốn chiếc bàn tròn được xếp ngăn nắp kèm ghế nhựa, cứ mỗi bàn 10 ghế.
Người tham dự, ngoài khoảng 30 anh chị em là chủ, có một số khách: về thầy cô giáo có thầy Đỗ Tư Nhơn, thầy Hoàng Đằng, về đại diện ban liên lạc Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị có anh Nguyễn Lớn, anh Nguyễn Văn Hoàng, chị Lê thị Dũng, về đại diện các khóa bạn có anh Văn Mạnh, anh Đoàn Văn Tầm, anh Lê Đình Phiến. Tất cả mọi người ngồi xây quanh đầy cả 4 bàn.
Anh Đinh Quang Tạo, một cây văn nghệ có tiếng của Nguyễn Hoàng xưa, đóng vai MC. Chương trình họp mặt chia 2 phần rõ rệt:


Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

SÔNG HIẾU - Hoàng Đằng


     Con sông quê tôi:  
                                                              


Quê tôi là Đông Hà, tỉnh Quảng Trị - nơi có dòng Hiếu Giang chảy qua.
Sông Hiếu bắt nguồn từ trên núi rừng Trường Sơn, nơi câc đồng bào dân tộc ít người: Pa-Kô và Vân Kiều sinh sống, rồi chảy qua vùng đồng bằng, tưới mát cho ruộng vườn làng mạc của đồng bào Kinh, cuối cùng đổ ra biển Đông. Con sông là dòng kết nối Kinh -Thượng một nhà.
Sông không tự mình đổ ra biển Đông. Sông chảy khoảng 70 km thì hợp lưu với sông Thạch Hãn ở ngã ba Gia Độ; sông biến thành sông nhánh của sông Thạch Hãn. Nhìn trên bản đồ, dòng chảy của Hiếu Giang và dòng chảy từ nơi hợp lưu về cửa Việt tương đối nằm trên một đường thẳng, còn dòng chảy sông Thạch Hãn vào hợp lưu tạo một nhánh “giằng xay” (gấp khuỷu); đáng lẽ sông Hiếu là sông chính, còn sông Thạch Hãn là sông nhánh. Sông Thạch Hãn được tôn lên làm sông cái vì ngoài bề rộng lớn hơn, sông Thạch Hãn trước đây chảy qua tỉnh lỵ Quảng Trị, nơi ở của quan chức. Ở đời, cái gì nhỏ phải phụ thuộc vào cái to rộng hơn, cái có uy quyền hơn.
Ngoài tên Hiếu Giang, ở thượng nguồn, sông mang tên Cam Lộ, nơi có huyện lỵ và có chợ phiên nổi tiếng; ở hạ nguồn, sông mang tên Điếu Ngao, một làng nằm cạnh sông ở mạn đông thành phố Đông Hà. 
Ngày xưa, con đường thiên lý Bắc - Nam đi ngang giữa làng này, đến mép sông, hành khách phải qua đò ngang tại bến đò Điếu; vì vậy từ “sông Đò Điếu” cũng khá thông dụng. Một con sông nhỏ mang những 4 tên; ba tên ghi dấu các địa danh dòng sông đi qua; còn tên “Hiếu Giang” thì sao? Có nguồn cho rằng sông được đặt tên như thế để ghi nhận tấm lòng của công chúa Huyền Trân đã vâng mệnh cha (Trần Nhân Tông) anh (Trần Anh Tông) vượt sông vào Nam làm vợ vua Chế Mân, nước Champa đổi lấy hai châu Ô, Lý vào năm 1306. Vào thời điểm đó, sông là biên giới giữa nước ta và nước Champa.  Chính cái tên Hiếu Giang khiến, mỗi lần nhắc đến, người ta rạo rực trong lòng cái thông điệp đạo lý: dù đi đâu, ở đâu, làm gì cũng phải nghĩ về nguồn cội – nơi mình sinh ra, nơi làm điểm tựa cho mình bay cao, bay xa. Có lẽ ít tên con sông nào trên thế giới mang nội hàm có tính giáo dục đến thế.

Ngày xưa, việc di chuyển, vận tải chủ yếu bằng đường thủy. Đường bộ không bằng phẳng, lầy lội về mùa mưa, bụi bặm về mùa nắng, khi lên đèo khi xuống dốc, qua những khu vực hoang vắng có thể gặp trộm cướp, thú dữ – nguy hiểm; phương tiện quá thô sơ, mất nhiều thời gian và nhọc xác.
Sông Hiếu là một thủy lộ địa phương quan trọng.
Cụ Trần Minh Tiết (1918 – 1990), người làng Cam Lộ Hạ, huyện Cam Lộ, một học giả uyên thâm về các vấn đề thế giới, viện sĩ viện Hàn Lâm Khoa Học Hải Ngoại nước Pháp, đã từng đưa ra đề án đào một con kênh từ sông Mê-kông cắt ngang lãnh thổ Lào đi qua Savanakhet vào sông Hiếu qua Đông Hà ra cửa Việt (Un canal dans l’isthme de Kra et un canal Mékong-Océan Pacifique par Savanakhet - Đông Hà - Cửa Việt – Nouvelles Éditions Latines, 1966, Paris). Đề án ấy nếu như được thực hiện, sông Hiếu đã trở thành một thủy lộ quốc tế. Thôi ... hãy chờ tương lai, biết đâu!
Xưa kia, thủy lộ Hiếu Giang đã từng nhộn nhịp. Chợ phiên Cam Lộ cứ 5 ngày họp một lần vào các ngày 03, 08, 13, 18, 23 và 28 Âm Lịch mỗi tháng; chợ phiên là nơi trao đổi hàng hóa giữa miền xuôi và miền ngược; trong những ngày ấy, thuyền buôn lên xuống không ngớt trên sông, kể cả ban đêm. Thuyền buồm nương theo chiều gió; vào những lúc lặng gió, thuyền lướt theo nhịp đẩy của các mái chèo. Để tránh mệt mỏi và buồn ngủ, các chị các o buôn đò dọc, hò hát, trêu ghẹo nhau rồi cười đùa khúc khích xé tan cái im lặng của màn đêm.  Một cô gái nào đó trên thuyền cất tiếng hò thánh thót lơ lửng giữa dòng sông:
“Eng ngồi mần chi côi bờ, nhìn ai mà con mắt ngơ ngác.
Lắng tai nghe em đây hát để liệu mà trả lời:
Cực lòng em lắm eng ơi!
Hãy tìm một nơi mô vắng vẻ cho đôi ta ngồi hàn huyên ...”
Một chàng trai nào đó trên bờ thấm tình thấm ý đáp lại:
“Em cực lòng thì eng cũng khổ tâm,
Hỏi: em mà  thiệt chưa ai ngỏ ý thì cho eng bỏ mâm cau trầu ...”
Nhiều trường hợp, hai bên đã đi tìm nhau theo sự thúc giục của con tim – tình yêu - rồi nên vợ nên chồng.
Hòa trong tiếng hò của thuyền buôn xuôi ngược là tiếng gõ “lòng còng” của thuyền chài đuổi cá vào lưới, tiếng ngoắt đuôi “sộp soạp” xua ruồi nhặng của đàn trâu đã no cỏ “mẹp” tắm buổi trưa hay buổi xế chiều, tiếng “rào rào” khoát nước thi đấu vào mặt nhau của lũ trẻ trần truồng giữa các bến tắm hai bên bờ sông.
Thời ấy, dân cư còn thưa thớt, nước sông trong xanh, người ta dùng nước sông để sinh hoat : uống nước sông, nấu ăn bằng nước sông, giặt rửa bằng nước sông ... Sông cung cấp tôm cá cải thiện chất lượng bữa ăn cho dân nghèo. Chỉ cần một cái rổ, bỏ ra khoảng nửa giờ sau buổi làm cỏ khoai, cỏ bắp ... là có thể xúc được một mớ hến hay “chắt chắt” làm ngọt nồi canh trưa; chỉ cần cái dũi, khi nước ròng, lội xuống đẩy dọc mép sông vài vòng là kiếm được nhúm tôm, nhúm cá kho mặn để ngon cơm.
Vào mùa hè, mặt sông xao sóng khi gió Nam Lào thổi mạnh; vào mùa đông, mặt sông gợn sóng lăn tăn khi gió đông bắc rít từng luồng. Sông hiền như người mẹ. Sông chỉ hung dữ vào mùa lũ lụt. Mưa tuôn xối xả, nước chảy mạnh bào mòn đất đá trên núi đồi và hai bên bờ, cuốn cuộn  phù sa màu hồng bạc về lắng đọng tăng độ phì nhiêu cho vườn tược ruộng đồng. Dòng nước lũ còn cuốn theo các cây gỗ trốc gốc, các loại rều rác. Dân đứng hai bờ chờ vớt, kéo về làm củi đốt quanh năm. Nhiều lúc, sông cũng gây ra tai họa: phá hủy mùa màng, cuốn trôi nhà cửa, dận đuối người và vật.

Chiến tranh bùng phát. Các chuyến đò lên về chợ phiên thưa dần, những mối tình do dòng sông đan dệt chấm dứt, thuyền chài giăng câu bủa lưới vắng đi; ngư dân lần lượt lên bờ định cư.
Sông đã trở thành chiến trường, nơi mà ai cũng có thể bị thương vong nếu rủi ro kẹt giữa hai lằn đạn.
Ban đêm sông im lìm trong không khí ngột ngạt, thỉnh thoảng, những chiếc thuyền nan của những chiến sĩ vượt sông, lướt vội, qua lại hoạt động bí mật; những tràng đạn tiểu liên bắn vu vơ trong màn đêm đen để hù dọa găm vào dòng sông - sông đau quằn quại, rên la. Sông hứng chịu những loạt lựu đạn nổ ì ầm đều đặn quanh các chân cầu để cản người nhái. Chiếc cầu bắc qua sông nối hai bờ trên quốc lộ I, không còn hình ảnh thơ mộng “chiếc cầu là nơi hò hẹn của đôi ta”. Bên giải phóng muốn phá cầu đi để cắt đứt giao thông cho tiềm lực đối phương suy giảm, bên quốc gia muốn giữ cầu lại, dựng cầu lên để kiểm soát đất giành dân. Trong chiến dịch năm 1972, bên giải phóng định dùng cầu vượt sông nhanh thì bên quốc gia giật cầu đi để cản bước. Hóa ra người ta mặn mà với chiếc cầu chỉ vì lợi ích của phe phía mình. Cầu đã sập đi và xây lại nhiều lần. Máu bên này, máu bên kia ít nhiều đã đổ hòa vào dòng sông chảy về lòng mẹ biển Đông bao dung.
Chiến trường mỗi lúc mỗi sôi động. Sông oằn mình hứng đạn bom ... xơ xác. Tàu vận tải quân sự của Mỹ lên xuống Đông Hà -  Cửa Việt rầm rì, những con tàu gắn động cơ cỡ lớn xô những ngọn sóng cao vỗ vào hai bờ; đất chuồi lỡ, nước vẩn đục. Dân giảm dần dùng nước sông làm nước sinh hoạt. Những trận bom B52 rải thảm trên thượng nguồn, những trận pháo vào giữa đội hình vượt sông của quân đội bên này bên kia và những trận đánh bằng thủy lôi của bộ đội đặc công giải phóng vào tàu Mỹ. Giấy bút đâu mà ghi chép cho hết! Chỉ có một trận đánh trên sông được báo chí nhắc đi nhắc lại nhiều lần; người ta gọi đó là “trận Bạch Đằng trên sông Hiếu” để gợi nhớ lại trận Ngô Quyền tập kích quân Nam Hán năm 938 và trận Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn phá tan quân Nguyên Mông vào năm 1288 trên sông Bạch Đằng ở ngoài Bắc.
Giữa đoạn Đông Hà và ngã ba Gia Độ, để ngăn chận tàu Mỹ vận tải vũ khí đạn dược lương thực cho chiến trường, vào một đêm đầu tháng 3 năm 1968, quân giải phóng, lợi dụng màn đêm và tàu tuần tiễu của quân Mỹ vắng bóng, đã huy động lực lượng cắm cọc tre, cọc cây, giăng dây kẽm gai bùng nhùng, gài mìn và thủy lôi chận ngang sông; cùng lúc, các lực lượng vũ trang phục kích ở trên bờ sông; sáng ngày sau, như thường lệ, đoàn tàu Mỹ tiến từ cửa Việt lên Đông Hà; phát hiện có bãi cọc và bị quân giải phóng phục kích nổ súng tấn công; quân đội Mỹ huy động máy bay quần thảo, dội bom xuống dòng nước phá hủy vật cản để thông sông; cá to cá nhỏ chết nổi tấp trắng bờ; trớ trêu là người quê tôi gặp may, có dịp đi thu nhặt cá đến mấy ngày. Chiến tranh đã làm cho con người trơ lì vô cảm, nhiều khi nhìn chiến tranh như “một trò đùa”.

Đất nước thống nhất, hòa bình lập lại. Con sông quê tôi tưởng có cuộc sống êm đềm. Vậy mà không! Rừng đầu nguồn bị thu hẹp; người ta chặt cây vì nhu cầu xây dựng, người ta khai hoang để lập các khu kinh tế mới; vào mùa mưa, nước lũ “hỗn” hơn, xói lở đất 2 bên bờ từng mảng diện tích lớn, một số xóm làng phải thiên cư. Ai mà quên được những trận lụt 1983, 1999, 2009, 2010, nước ngập đến mái nhà; tần số lũ lụt lớn dày hơn xưa nhiều; mấy chục năm trước đó, chỉ trận lụt lớn năm 1953 là còn được nhắc đến.
Rừng đầu nguồn giảm, lượng nước ngọt giảm theo; lại thêm, các đập thủy lợi, đập thủy điện chận nguồn lại; sông bị nhiễm mặn nhiều tháng trong năm. Dân các nơi tập trung đến Đông Hà đông lên; chất thải, nước thải đổ vào dòng sông quá nhiều. Sông không còn cung cấp nước sinh hoạt nữa. Tôm cá và các nguồn thủy sản tự nhiên khác khó sống ở môi trường ô nhiễm; ngư dân đổi nghề, tất bật ngược xuôi kiếm sống trên bộ. Nước sông ô nhiễm đến nỗi dân làm giá đỗ ở 2 làng ven sông: Thanh Lương và Nghĩa An (phường Đông Thanh) bây giờ không thể ủ giá bằng nước sông như trước đây. Nước sông ô nhiễm đến nỗi các hồ nuôi tôm ở làng Điếu Ngao, làng Đông Lai, làng Lạng Phước, thành phố Đông Hà cũng thất bại – tôm chậm phát triển và chết. Cả một vùng hồ đào lên rồi bỏ không; đất lúa, đất khoai nuôi dân trở thành đất vô dụng; người ta từng lập luận: trồng lúa đất sinh lợi ít, phải nuôi tôm xuất khẩu kiếm ngoại tệ để nước mau giàu !
Nước sông có màu xanh lá cây không rõ nét, trông mà rờn rợn. Thuyền gắn động cơ lên về chợ Đông Hà ồn ào, khuấy động dòng nước. Sông chỉ dành cho thuyền chở khách và phà chở cát – hình ảnh quá khô khốc, cứng đờ. Chính con người làm mất vẻ hoang sơ và nên thơ của con sông.
Tuy nhiên, cuộc sống thay đổi không ngừng; ai mà cản được. Giờ thì con người chỉ còn có việc: phải tạo cho con sông một vẻ đẹp hiện đại. Như một phụ nữ thời nay phải thường xuyên vào thẩm mỹ viện tắm gội, nắn mũi, sửa tóc, xóa sẹo, tàn nhang, trang điểm một chút phấn son, sông muốn đẹp thì con người phải giữ sạch dòng sông; không đổ rác xuống sông, không thải nước khi chưa xử lý xuống sông; phải thiết kế xây dựng làm sao tạo cho  bờ sông vẻ mỹ quan: kè đá 2 bên bờ để chống xói lở, xây dựng các công trình dân sinh xa sông một khoảng cách hợp lý, trồng cây tạo bóng mát rồi lập vườn hoa hai bờ, biến cái cù lao giữa sông phía trên cầu thành một công viên hay một một khu ẩm thực cao cấp.
Mọi người tự giác bảo vệ môi trường để nước sông quê ta không trở qua màu đen ngòm, bốc mùi hôi nồng nặc, mặt sông không lềnh bềnh những bao nylon, bao lác, bên trong chẳng ai biết chứa những gì.
Mừng là chính quyền đã và đang ra tay. Bờ bắc sông đang được kè và  những việc còn lại hy vọng sẽ tiếp tục, nhưng khốn nỗi: một số không nhỏ người dân còn xem con sông như bãi rác hay nơi phóng uế. Thay đổi nếp nghĩ của người dân mới là chuyện khó!
Để kết thúc bài viết, xin có lời mách, nhắn với những người xa quê để an tâm:
Ở tận xứ người em có biết?
Quê hương ta có một dòng sông.
Anh mãi gọi với lòng tha thiết:
Hiếu Giang ơi hãy mãi sạch  trong ...
                                                                                       Hoàng Đằng - TP. Đông Hà