BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI MẬU TUẤT 2018 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2018

GÓP PHẦN DỰNG TIỂU SỬ NHÀ THƠ PHẠM VĂN BÌNH (1940 – 2018) - Hoàng Đằng


          
                   Tác giả Hoàng Đằng


GÓP PHẦN DỰNG TIỂU SỬ NHÀ THƠ PHẠM VĂN BÌNH                                                (1940 – 2018)
                                                                                    Hoàng Đằng

Nhà thơ Phạm Văn Bình - người quê tôi – đã qua đời ngày 22/7/2018. Đông Hà – quê tôi – có nhiều người làm thơ. Mà không riêng gì quê tôi, trên cả nước Việt Nam, nơi nào cũng vậy; Việt Nam là “cường quốc thơ” mà!
Tôi không có may mắn và điều kiện đọc nhiều, nên không biết trong số người làm thơ ở quê tôi những ai có tác phẩm hay; chỉ biết  anh Phạm Văn Bình từng nổi tiếng về thơ trong thập kỷ 1960 và thập kỷ 1970, đặc biệt, anh có 2 bài thơ được nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy phổ nhạc: Đó là bài “Chuyện Tình Buồn” và “Mười Hai Tháng Anh Đi”; và có lẽ với hai bài thơ này, anh sẽ lưu danh thiên cổ.
Sau này, sự nghiệp của anh đã có tác phẩm của anh làm chứng; còn cuộc đời của anh chắc sẽ ít người biết rõ. Vì vậy, là người đồng hương với anh, tôi muốn góp phần dựng lại tiểu sử của anh qua tìm hiểu những mảnh đời, chặng đời của anh mà người Đông Hà và một số thân nhân của anh biết kẻo rồi thời gian có thể xoá mất.

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

NGÀY TẾT VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở QUÊ TÔI - Hoàng Đằng


                            Tác giả Hoàng Đằng


       NGÀY TẾT VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở QUÊ TÔI
                                                                        Hoàng Đằng

       Trong ngôn từ, Tết thường đi theo với sự nghỉ ngơi, sự vui chơi, sự hưởng thụ – nghỉ Tết, chơi Tết, hưởng Tết. Tuy nhiên, phần lớn người ta nghỉ Tết là chỉ ngưng công việc mưu sinh; nói phần lớn mà không nói tất cả vì một số người vẫn tận dụng dịp Tết để kiếm thu nhập: tham gia gian hàng ở hội chợ, chủ sòng bài, xem bói … 
       Thực tế trong ngày Tết, những người lớn tuổi phải làm những công việc tổn hao sức lực, đôi khi với nhịp độ còn cao hơn ngày bình thường.
      Mỗi người cứ tự ngẫm trường hợp bản thân của mình. Riêng tôi,  một người cao tuổi ở vùng quê, thì nhiều việc lắm, mệt mỏi lắm. Mời bạn đọc nghe tôi kể nhé!
Tôi chỉ giới hạn thời gian trong ngày MỒNG MỘT THÁNG GIÊNG.
        Từ tối hôm trước (30 tháng Chạp) cho đến giờ giao thừa, người cao tuổi quê tôi không ngủ, loay hoay chuẩn bị lễ cúng: têm cau trầu, xếp vàng bạc, giấy áo … bên cái TV bật sẵn để theo dõi tin tức đón Tết từng giờ ở các địa phương trong nước và trên thế giới, chờ nghe lời chúc đầu năm của vị nguyên thủ quốc gia; lời chúc Tết này quan trọng lắm vì đó là thông điệp phác họa những hướng đi của quốc gia trong thời gian tới. Chúng ta hãy ngẫm lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong lời chúc đọc giao thừa Tết Mậu Thân, có mấy câu “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua; thắng lợi tin vui khắp mọi nhà …” là qua ngày mồng một nổ ra cuộc tổng công kích vào các đô thị miền Nam.
          Con dâu nấu xong lễ cúng giao thừa, ra mâm ra dĩa: xôi, chè, cháo thánh - ở nhiều nhà, thêm con gà trống tơ để nguyên con luộc chín, lấy giò, cúng xong, xem quẻ đầu năm. Lễ cúng bưng đặt ở 2 nơi: bàn thờ gia tiên trong nhà và bàn thờ đặt bên ngoài, giữa trời, nên dân gian dùng từ “Cúng Giữa Trời”, “cúng giữa trời” dâng lên các vị thần linh điều hành mọi việc trong năm mới, các âm hồn cô hồn vãng lai, hay quanh quẩn trong vườn ngoài ngõ. Kể một chuyện “hơi tệ” nhưng có thật: Trước đây, kinh tế khó khăn, việc ăn uống thiếu thốn, cúng xong lễ này, con cháu đang ngủ say, các cụ cao tuổi lợi dụng cơ hội xử nguyên cả con gà cho “đã thèm thịt”. Bây giờ thì khác rồi, các cụ bưng vô đặt giữa bàn ăn, tìm lồng bàn đậy lại, sáng mai ai xử thì xử, rồi nằm xuống nghỉ lưng cho đỡ mỏi.
        Sáng mồng một Tết, các cụ dậy hơi trưa hơn thường ngày vì do thiếu ngủ, rửa ráy mặt mày, bận quốc phục vào, ngắm lui ngắm lại, xem đã tề chỉnh chưa, bật căng dù che lên nếu trời có mưa xuân lất phất hay nắng gắt, nếu không mưa thì xếp dù cầm ở tay; từ các đường xóm, các cụ ra đình làng, đốt hương, lễ bái thần linh của làng, rồi đi thăm các cơ quan công quyền đóng trên lãnh thổ địa phương: Ủy Ban Xã, Trạm Xá, Trường Học. Ở những nơi này, vị đứng đầu cơ quan thường có mặt đón tiếp; có nơi, các cụ còn nhận được tiền lì xì – người ta gọi là tiền mừng thọ - đựng trong phong bì đỏ do các trưởng cơ quan trao tặng. Các cụ hãnh diện lắm, mừng lắm, vì có thêm tiền để chơi cờ sau này; chốc nữa, về đến nhà, các cụ khoe ngay với các cụ bà.
          Nhận phong bì xong, cụ nào thuộc họ nào thì về từ đường họ của mình, đốt hương, lễ bái Tổ Tiên.  Các cụ cũng làm như vậy  ở các nhà thờ chi, phái; nếu chưa có nhà thờ chi, phái thì đến các nhà đang thờ gia phổ chi, phái.
          Tới lúc này, nếu còn khỏe, các cụ đi thăm nhà con cháu nội ngoại; sự xuất hiện của các cụ ở nhà con cháu nào thì con cháu ấy rất tự hào; các cụ là biểu tượng của “Ông Thọ” – một trong 3 biểu tượng cho 3 điều ước của mọi nhà: Phúc, Lộc, Thọ. Nếu đã mệt, các cụ về nhà, ngồi tiếp các cụ bạn đồng trang lứa, người thân thích, con cháu tới thăm, chúc Tết. Những con cháu “ăn nên làm ra” đều không quên chuẩn bị sẵn phong bì lì xì cho các cụ. Nhờ thế, cái túi của một số cụ tối đến là căng đầy. Các cụ đưa tay xoa túi, rồi mỉm cười ra vẻ hạnh phúc lắm.
         Đến xế chiều, các cụ trở lại tập trung ở nhà thờ họ để cúng đưa Tổ Tiên. Tổ Tiên đã được rước về trong lễ cúng sáng 30 tháng Chạp. Lễ đón Tổ Tiên thường có cỗ bàn để dân họ liên hoan tất niên; còn lễ đưa, xưa kia có bánh trái, bây giờ chỉ hương, đèn, cau trầu và rượu. Việc sắm sửa các lễ cúng ở nhà thờ họ, ngày trước có định mức rõ ràng, lấy từ hoa lợi của ruộng hương hỏa do Tổ Tiên khai phá, tậu mua để lại, bây giờ, ruộng hương hỏa không còn vì đã đưa vào hợp tác xã, thành thử, dân họ, đến dịp, đóng góp; được nhiều thì lễ cúng sắm nhiều; được ít thì lễ cúng sắm ít. Theo đà tiến hóa của xã hội và theo cách nghĩ của các lớp trẻ sau này, việc cúng tế Tổ Tiên chắc chắn càng ngày càng giảm dù người ta đang có chủ trương duy trì “bản sắc văn hóa” truyền thống. Mỗi thời đại mỗi thay đổi; đó là cái đà lịch sử, ai mà cản được!
          Ngày đầu tiên của Tết trôi qua như thế. Ngoài việc đi thăm và tiếp đón khách, các cụ phải 3 lần - sáng, trưa và tối - cúng mứt, trà, bánh, trái trên bàn thờ gia tiên. Người ta quan niệm: Sau lễ cúng “lên nêu” ngày 30 tháng chạp năm trước, gia chủ đã mời gia tiên về cùng ăn Tết, thế nên đến bữa phải dọn mời các Ngài. Trước đây, phụ nữ trong mỗi gia đình phải nấu cơm, đồ ăn để dâng cúng từng bữa, nay, phần đông các gia đình đã cho qua việc nấu cúng. Kể ra đó cũng là một điểm đáng ghi nhận trong công cuộc giải phóng phụ nữ.
          Những điều viết trên đây là dựa vào phong tục tập quán ở quê tôi. Có thể mỗi nơi mỗi khác. Bài viết chỉ để chia xẻ và trao đổi.
                                                          Hoàng Đằng
                                 11/02/2015 (23 tháng Chạp năm Giáp Ngọ)

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

THƯ THĂM THẦY HỒ XUÂN DIỆN NHÂN NGÀY 20/11/2014 - Hoàng Đằng


                        
             
                  Tác giả Hoàng Đằng

 Đông Hà, ngày 12 tháng 11 năm 2014
Thầy Hồ Xuân Diện thân kính,

Ở Việt Nam, đã phảng phất không khí ngày NHÀ GIÁO VIỆT NAM – 20/11. Có người gọi đó là Ngày Tết của thầy cô giáo, vì học trò đang nô nức mua hoa, mua quà tặng thầy cô. Nhìn cảnh ấy, tự nhiên em bùi ngùi xúc động, nhớ đến Thầy nhiều hơn.

Thầy đến dạy em – thuộc khóa đầu tiên của trường bán công Đông Hà – từ 1957. Năm học 1957 – 1958 ấy, em đã lên đệ lục (lớp 7 bây giờ). Cũng gọi là trường, nhưng bán công Đông Hà, về cơ sở vật chất, chỉ có một dãy gia binh dành cho vợ con lính đi theo chồng bỏ lại. Vách xây qua loa, không tô trát, mái lợp tôn đã ố rỉ, nền đất. Trước đó, dãy nhà này chia ra bao nhiêu “căn hộ” không biết, khi dùng làm nơi học, được phân thành hai phòng học: một dành cho lớp đệ thất (lớp 6) và một dành cho lớp đệ lục (lớp 7), không có chỗ nào nữa làm nơi nghỉ ngơi cho các thầy ngồi chờ trước khi dạy. Thế mà vì chúng em, Thầy đã đáp lời mời đến với trường. Năm học đó, trường có 3 giáo sư: thầy Nguyễn Viết Trác, thầy Trần Tu và Thầy. Cụ Nguyễn Khắc Thảo – người có công lớn trong việc vận động mở trường – vừa dạy Hán Văn, vừa làm giám thị, vừa quản lý văn phòng.

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

NHÂN SỰ VIỆC CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN - Hoàng Đằng


               chau-ban-trieu-nguyen-7715-1406697974.jp
Trưởng đại diện văn phòng UNESCO Hà Nội, bà Katherine Muller Marin trao bằng công nhận Di sản tư liệu Châu bản triều Nguyễn thuộc chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam, ông Nguyễn Thái Bình.                                                                                                                       Ảnh: Quỳnh Trang

NHÂN SỰ VIỆC 
CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN

Ngày 30/7/2014 vừa rồi, chính phủ Việt Nam đón nhận “Bằng Di Sản Tư Liệu Thuộc Chương Trình Ký Ức Thế Giới Khu Vực Châu Á – Thái Bình Dương” do UNESCO trao tặng công nhận đối với Châu Bản Triều Nguyễn.
Châu Bản Triều Nguyễn là những văn bản hành chánh quan trọng quản lý nhà nước về mọi mặt dưới triều Nguyễn (1802 – 1945) từ vị vua đầu tiên là Gia Long đến vị vua cuối cùng là Bảo Đại; những văn bản này gọi là Châu Bản vì có bút phê cho ý kiến bằng mực màu son đỏ (châu) của vua.
Trong Châu Bản, phần có tính thời sự nhất hiện thời là sự xác lập chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang có tranh chấp quyết liệt với Trung Quốc. Trung Quốc là một nước lớn, mạnh hơn nước ta nhiều lần về mọi mặt. Việc đấu tranh chỉ trông cậy về mặt pháp lý và ngoại giao. Vì vậy, những gì còn ghi trong Châu Bản được đánh giá là bằng chứng lịch sử có giá trị cao.

          
Châu bản triều Nguyễn không chỉ là di sản chứa đựng những sự kiện lịch sử có giá trị, mà còn là minh chứng về chủ quyền biển đảo

Các vị vua triều Nguyễn đặc biệt là 2 vị đầu: Gia Long và Minh Mạng có tài năng, có kiến thức về trị nước, có tâm huyết với giang sơn. Hai vị vua ấy đã thống nhất trọn ven lãnh thổ quốc gia không những trên đất liền mà còn vươn ra các đảo xa trong vịnh Bắc bộ, trong biển Đông và trong vịnh Thái Lan. Hai vị vua ấy còn có công kiện toàn bộ máy quản lý lãnh thổ mà cho đến ngày nay dấu vết còn in ở một vài lãnh vực.    


Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

DỰ GẶP MẶT TRƯỜNG TRIỆU PHONG LẦN III - Hoàng Đằng


Tác giả Hoàng Đằng


DỰ GẶP MẶT TRƯỜNG TRIỆU PHONG LẦN III

Sáng 22/6/2014, mình được mời dự GẶP MẶT THÂN MẬT các thế hệ học sinh trường trung học Triệu Phong 1960 – 1975 tại nhà hàng khu Sinh Thái Tích Tường - thị xã Quảng Trị.

Tại Triệu Phong, trường không còn dấu tích, buổi Gặp Mặt không biết tổ chức nơi mô, nên mới chọn khu vui chơi giải trí. Tội nghiệp! Hiện tại, huyện Triệu Phong có đến 30 trường bậc trung học: 04 trung học phổ thông và 26 trung học cơ sở; mà chẳng có trường nào nhận bà con – làm em út - trường Triệu Phong cũ!

Khu Sinh Thái nằm bên hồ nước lớn, trước mặt là mương chính thủy lợi Nam Thạch Hãn chảy qua, phủ bóng cây cối, thoáng. Gió Lào thổi từng luồng mạnh cuốn hơi nước tạt vào làm không khí mát mẻ; trời hè nóng bức mà quạt không cần sử dụng. Sướng thiệt!

Khu Sinh Thái Tích Tường ngày Gặp Mặt Triệu Phong 2014

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

ĐI TÌM NGUỒN VUI PHẦN III - Hoàng Đằng

Thầy Nguyễn Văn Thị, người cầm hoa

       ĐI TÌM NGUỒN VUI - PHẦN III
     (Viết về thầy giáo già Nguyễn Văn Thị)

Sáng 13/4/2014, tôi cho in ĐI TÌM NGUỒN VUI phần 1 và phần 2. Con trai tôi chở tôi đem lên giao cho anh đọc. Anh không xài vi tính nối mạng. Mắt anh mờ, đọc chữ được chữ mất. Anh bảo tôi đọc cho anh nghe. Anh lắng nghe chăm chú, gặp đoạn nào tâm đắc, anh cười.  

Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

ĐI TÌM NGUỒN VUI PHẦN II - Hoàng Đằng


       
                   Thầy Nguyễn Văn Thị người cầm hoa


               ĐI TÌM NGUỒN VUI
                                               Hoàng Đằng 
       (Viết về thầy giáo già Nguyễn Văn Thị - Phần 2)

- Ngày ni anh em mình đi chơi nữa hi?
Anh cả gọi về khi tôi đang “nằm gắng” trên giường; lúc đó khoảng 6 giờ sáng 10/3/Giáp Ngọ (09/4/2014). Hàng đêm, anh chỉ ngủ nhiều lắm là từ 21 giờ đến 02 giờ. Anh dậy thắp hương cho chị, rồi đi lui đi tới trong nhà; chân yếu, độ bật của cơ không có, kéo lệt bệt hai bàn giữa sàn nhà, tiếng sột soạt làm cho con cháu không ngon giấc. Rõ khổ ông già nầy!
 Tôi hỏi:
- Đi bằng phương tiện gì rứa anh?
- Đi ô-tô chứ còn gì nữa. Anh tự hào trả lời.
Biết anh không làm gì có thu nhập từ lâu, trong tình anh em, tôi thật thà hỏi:
- Rứa tiền mô mà mới thuê xe đi bữa kia hôm nay lại thuê nữa? 

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

ĐI TÌM NGUỒN VUI PHẦN I - Hoàng Đằng


      
                  Thầy Nguyễn Văn Thị, người cầm hoa


                 ĐI TÌM NGUỒN VUI
                                 Hoàng Đằng
      (Viết về thầy giáo già Nguyễn Văn Thị - Phần 1)


Sao đời thì ngắn mà ngày thì dài!”. Dạo này, ông anh cả tôi thường thở than như vậy. Anh già quá rồi, quỹ thời gian trên đời không biết còn bao nhiêu, nhưng chắc chắn ít, không nhiều. Hàng đêm, anh ngủ không ngon giấc, hàng ngày ngồi bên bàn thờ khói hương nghi ngút, không biết làm gì; đọc sách hay xem TV thì mắt đã mờ, cũng khó khăn. Trí óc, lòng dạ anh dành cho những kỷ niệm trong quá khứ rồi ngậm ngùi. Rứa mới khổ!     

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

TRỌN TÌNH VẸN NGHĨA - Hoàng Đằng

  

                                     Hình ảnh: TIN BUỒN
Trân trọng thông báo quí Thầy Cô và các ACE CHS NH khắp nơi đc biết Cô LÊ THỊ DẠN, phu nhân thầy NGUYỄN VĂN THỊ, cựu giáo chức NH-QTrị, sau thời gian dài lâm bệnh nặng đã qua đời sáng nay lúc 0815H. 
 Lể khâm liệm chiều nay từ 1700H đến 1900H/24/3/2014. Chương trình tang lễ sẽ đc thông báo sau vì chưa đc ấn định. 
   Trân trọng kính báo.
                                                    Di ảnh cô Lê Thị Dạn



                              TRỌN TÌNH VẸN NGHĨA


Lúc 11,15 giờ, ngày 27/3/2014 (27/2/Giáp Ngọ), chiếc quan tài đựng thi hài chị Lê thị Nhạn, hiền thê ông anh kết nghĩa của tôi Nguyễn Văn Thị, đã từ từ hạ huyệt tại Nghĩa Trang Nhân Dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Đông Hà là nơi chị đã sống gần một nửa phần đời.
Chị không về nghĩa trang làng Bồ Bản, nơi Tổ Tiên chị đã yên nghỉ; chị cũng không vào nghĩa trang bên chân núi Ngự Bình, nơi yên nghỉ của các vị gia tiên chồng chị. Chị nằm đây bên cạnh chỗ nằm của anh đang để chờ; xóm giềng chị giờ đây là những người chọn Đông Hà làm quê hương.
Quả tim chị đã ngừng thở lúc 8,15 giờ ngày 24/3/2014 (24/2/Giáp Ngọ). Chị từ biệt cõi trần trong nỗi ngậm ngùi của người chồng đã chia ngọt xẻ bùi với chị 54 năm qua.   


Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

TỪ TRÒ CHƠI ĐÁ DẾ TRẺ CON ĐẾN TRÒ CHƠI CHỌI CHÓ NGƯỜI LỚN - Hoàng Đằng


                                                      
                                          
                                                 Tác giả Hoàng Đằng


        TỪ TRÒ CHƠI ĐÁ DẾ TRẺ CON ĐẾN TRÒ CHƠI CHỌI CHÓ NGƯỜI LỚN 

                                                                                                      Hoàng Đằng



Bây giờ đang là tháng 2 Âm Lịch, khoảng một tháng nữa, lúc sáng tinh mơ, ai có dịp đi ra đồng, đều nghe được tiếng dế vang lên chỗ này chỗ nọ.
Thuở trước, ở quê lão, trong những trò chơi trẻ con, có trò “đá rế” (rế là tiếng quê lão chỉ con dế). Dế đực mới đá nhau, dế cái thì không. Dế đen gọi là dế mọi, dế vàng gọi là dế lửa, dế có màu giữa đen và vàng gọi là dế pha.   


Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

PHIẾM LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI - Hoàng Đằng


  



    Ảnh tác giả:
   Thầy Hoàng Đằng (cựu giáo sư trường Trung Học Nguyễn Hoàng Quảng Trị và Trung Học Đông Hà Quảng Trị trước 1975)




          PHIẾM LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
           (Viết nhân ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3)

      “Em ơi có bao nhiêu. Sau mươi năm cuộc đời ...”.

      Trong một bữa cơm thân mật tổ chức tại hội trường khu phố, một bác nông dân trạc tuổi 50 lên giúp vui phần văn nghệ với bài hát “Sáu mươi năm cuộc đời” của nhạc sĩ Y Vân. Bác vừa hát vừa nhún nhẩy.  

Thứ Năm, 26 tháng 12, 2013

TỰ CHÚC MÌNH TRÒN 75 XUÂN - Nguyễn Khôi


     
                 Nhà thơ Nguyễn Khôi

     TỰ CHÚC MÌNH TRÒN 75 XUÂN
     (Tặng Lê Vy và Bùi Huy Phác)          

     Ờ thế mà mình đã bảy lăm
     Vẫn còn khí thế chuyện thơ văn
     Ngày phi xe máy thăm đây đó
     Đêm dậy vào  Mail gõ mấy vần
     Thời thế đảo điên xem cũng khoái
      Đất trời nóng lạnh ngấm vào thân
      Đói no chia sẻ cùng bu nó
      Thất thập bơ phờ vọng cố nhân.

                              Nguyễn Khôi
      Góc thành nam Hà Nội 26-12-2013
      (Sinh ngày 26-12-1938 tại Thị xã Yên Bái)

                           HOẠ:
                 
       Bài hoạ 1

       NGẪM PHẬN GIÀ

       Già rồi, ngọng nghịu nói cà LĂM.
       Cũng gắng làm thơ với viết VĂN.
       Trời lạnh khó nằm... khua múa bút.
       Trăng thanh nổi hứng... dệt nên VẦN.
       Vịnh ngâm viết lách mong vui trí.
       Du ngoạn tắm bơi ước khỏe THÂN.
       Chả nghĩ chả lo... đời mỏi mệt.
       Cốt làm sao... sống đúng điều NHÂN./.

                                       HOÀNG ĐẰNG
                                   Đông Hà - Quảng Trị

        Bài hoạ 2

        ĐƯỢC THÊM TUỔI ĐẤY
        (Tặng bác Nguyễn Khôi)

        Bác tính theo Tây thì bảy lăm
        Mụ cho bảy sáu chẳng thành văn
        Đôi ta xe máy còn vi vút
        Bè bạn "Lời Ai" * đã nghẹn vần
        Lão giả an chi người hưởng thụ
        Website - đám rối vẫn làm thân
        Không giầu, biết đủ ta thường đủ
        Bẩy bẩy cùng ta mấy cố nhân ?

                              Bùi Huy Phác
                 (Phố Vũ, 16h, 26-12-2013)

         * Lời Ai : Điếu văn

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

CHUYỆN THẦY TRÒ QUA ĐƯỜNG GẶP NHAU - Hoàng Đằng

Mời đọc một truyện ngắn, thầy Hoàng Đằng gửi đến chúng tôi qua email
       
               
Thầy Hoàng Đằng, cựu giáo sư trường Trung Học Đông Hà và Nguyễn Hoàng, Quảng Trị trước 1975. Ảnh từ trang Hội ái hữu Công Lập Đông  Hà

             CHUYỆN THẦY TRÒ QUA ĐƯỜNG GẶP NHAU
                                                      (Truyện ngắn của LÃO GÀN)

Hôm ấy, Thắng đi Đà Nẵng, dự đám cưới đứa cháu gọi Thắng bằng cậu. Thắng diện bộ trang phục oách nhất: quần dài đen sẫm ống phủ lên đôi giày đen bóng, veston đen sẫm khoác lên áo sơ-mi trắng tinh, điểm thêm trước ngực chiếc cà-vạt đỏ tươi.
Đường xa gần 200 cây số. Gió thổi lồng lộng qua cửa xe mở hé, đầu tóc Thắng rối xù. Đến nơi, mới bước xuống xe, Thắng rút từ túi veston chiếc lược nhựa màu nâu. Nhìn vào kính chiếu hậu của chiếc xe vừa đậu, Thắng ngắm nghía mặt mày, nghiêng đầu qua về, chãi lại tóc.  
Bất chợt, trong kính, Thắng thấy một người đàn ông già đang cỡi chiếc xe đạp đèo hai giỏ than hầm hai bên porte-bagages – loại than thường dùng trong các thành phố để nấu nướng vào thời nhiên liệu khan hiếm.  

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

TIẾT VĂN KÉO DÀI 46 NĂM - Hoàng Đằng

Thầy Hoàng Đằng vừa gửi email đến chúng tôi một bài viết về TÌNH THẦY TRÒ với tựa đề thật lạ.
 Xin mời đọc


       
      Một dãy lầu của trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị trước 1975


           TIẾT VĂN KÉO DÀI 46 NĂM

Năm nay (2013), chiều 15/11, tôi được nhóm học sinh cũ Nguyễn Hoàng – Quảng Trị khóa 1963 – 1970 mời dự họp mặt chào mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam (20/11) tổ chức tại tư gia anh Đinh Quang Tạo ở 228 Lý Thường Kiệt – thành phố Đông Hà.
Bên ngoài, trời mưa nặng hạt. Từ Thừa Thiên-Huế vô tới Bình Định, lũ lụt rất lớn. Lớn do mưa nhiều, mưa to, do rừng rú đã mất nhiều độ che phủ và do các đập thủy lợi, thủy điện xả nước vì sợ vỡ.
Căn phòng không lớn lắm được trang hoàng cẩn thận: banderole, lẵng hoa, hệ thống âm thanh, đàn organ. Bốn chiếc bàn tròn được xếp ngăn nắp kèm ghế nhựa, cứ mỗi bàn 10 ghế.
Người tham dự, ngoài khoảng 30 anh chị em là chủ, có một số khách: về thầy cô giáo có thầy Đỗ Tư Nhơn, thầy Hoàng Đằng, về đại diện ban liên lạc Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị có anh Nguyễn Lớn, anh Nguyễn Văn Hoàng, chị Lê thị Dũng, về đại diện các khóa bạn có anh Văn Mạnh, anh Đoàn Văn Tầm, anh Lê Đình Phiến. Tất cả mọi người ngồi xây quanh đầy cả 4 bàn.
Anh Đinh Quang Tạo, một cây văn nghệ có tiếng của Nguyễn Hoàng xưa, đóng vai MC. Chương trình họp mặt chia 2 phần rõ rệt:

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

SÔNG HIẾU QUÊ TÔI - Hoàng Đằng



      SÔNG HIẾU QUÊ TÔI

Quê tôi là Đông Hà, tỉnh Quảng Trị - nơi có dòng Hiếu Giang chảy qua.
Sông Hiếu bắt nguồn từ trên núi rừng Trường Sơn, nơi câc đồng bào dân tộc ít người: Pa-Kô và Vân Kiều sinh sống, rồi chảy qua vùng đồng bằng, tưới mát cho ruộng vườn làng mạc của đồng bào Kinh, cuối cùng đổ ra biển Đông. Con sông là dòng kết nối Kinh -Thượng một nhà.