BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI KỶ HỢI 2019 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRẦN KIÊM ĐOÀN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRẦN KIÊM ĐOÀN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2019

AI VỀ QUẢNG TRỊ ĐÔNG HÀ - Trần Kiêm Đoàn

Kỷ niệm 35 năm Mùa Hè Đỏ Lửa (1972-2007), viết tặng các học sinh Nguyễn Hoàng và thanh niên Hồng Thập Tự Quảng Trị

                                                                                  Trần Kiêm Đoàn


      
                 Tác giả Trần Kiêm Đoàn bên bờ Bắc cầu Bến Hải 
                                          – Mùa Hè 2007


AI VỀ QUẢNG TRỊ ĐÔNG HÀ 

Ai về Quảng Trị Đông Hà,
Hỏi o lòng thả, heo bà… lặt chưa ?!

Hồi còn làm trưởng Thanh Niên Hồng Thập Tự Quảng Trị thời Hồi Cư năm 1973, các em học sinh và đoàn sinh của tôi vẫn thường đặt bày hát “đía” như thế để chọc mấy em nữ sinh bán quán lòng thả ở Hải Lăng, Diên Sanh. Và nghe đâu, giới giàu kinh nghiệm món lòng thả cho rằng, giống heo đực lặt… tiệt sau ba tháng, đem nấu lòng thả mới ngon tuyệt cú mèo (?).

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

TẾT NGUYÊN TIÊU - Trần Kiêm Đoàn


     

        TẾT NGUYÊN TIÊU

Hình ảnh và nội dung tết Nguyên tiêu vẫn còn là một khái niệm tương đối xa lạ với phần đông người Việt Nam thuộc thế hệ trẻ, nhất là người Việt tại hải ngoại.

Vậy sau tết Nguyên Đán thì tết Nguyên Tiêu là gì?

Tết Nguyên Tiêu - Rằm tháng Giêng Âm lịch - là ngày lễ hội cổ truyền tại Trung Quốc và là tết Thượng Nguyên tại Việt Nam. Lễ hội trăng rằm từ giữa đêm 14 trọn ngày 15 và kéo dài cho đến nửa đêm 15 ( có trăng Rằm vằng vặc) vào tháng giêng âm lịch.

Ở Việt Nam, ngày rằm Tháng Giêng là dịp dân chúng lên chùa cúng sao giải hạn, cầu nguyện điều lành; mặc dầu tín lý nhà Phật không nói đến. Các chùa thường tụng kinh Dược Sư với sự quy tụ quần chúng Phật tử cùng tụng niệm và hồi hướng công đức để thế giới được an lành.

Lễ hội đêm trăng rằm hiện được nhiều nơi Việt Nam khôi phục truyền thống văn hóa cổ, tổ chức đêm Nguyên tiêu của Ngày Thơ Việt Nam. Cho đến nay tinh thần “Thơ Nguyên Tiêu Việt Nam” đã thành nếp sinh hoạt văn nghệ rất đẹp ở nhiều địa phương.

Đặc biệt tại Huế, tết Nguyên tiêu vẫn được duy trì và tổ chức dưới hình thức lễ hội như một ngày truyền thống đầu năm. Hầu hết các chùa đều có có mở Đàn Tràng Dược Sư để cầu an và cầu nguyện sự an vui trong năm mới.

Những năm về sau này, tết Nguyên tiêu ở Huế đã trở thành một lễ hội mang tính nghệ thuật đầy thú vị trong đại chúng. Địa điểm được chọn là núi Ngự Bình. Đêm rằm Nguyên tiêu, thường có rất nhiều người, đặc biệt là giới trẻ văn nghệ Huế, hẹn nhau lên núi Ngự Bình để uống rượu thưởng trăng trên núi Ngự Bình mà người ta thường cho rằng đây là hình ảnh mặt trăng treo trên bầu trời trong sáng và đẹp nhất trong năm. Những hình thức và tục lệ khả ái, mỹ thuật như làm thơ, ngâm thơ, vịnh thơ, bình thơ, thả thơ... cũng được nhiệt tình hưởng ứng.

Theo truyền thống Thả Thơ tại Trung Quốc trong dịp Nguyên tiêu thì phổ thông nhất là thể thơ Đường luật được sáng tác, ngâm vịnh, họa thơ, bình thơ và thả thơ. Thơ được làm ra viết trên giấy thả theo dòng nước hay là thả bay tung lên không gian qua nhiều hình thức khác nhau.

Các vị sính thơ tại Việt Nam thì thường dùng ba hình thức thơ phổ biến nhất là: Thất ngôn Bát cú, Song thất Lục bát và Lục bát. Vẫn có hình thức thơ tự do nhưng còn hiếm.

Sau đây, người viết những dòng này xin thả thơ với một bài Thất ngôn Bát cú “Con Cóc” như sau:

CÓC DẠ NGUYÊN TIÊU

Đêm trăng vằng vặc Tết Nguyên Tiêu,
Cóc nhớ Hằng Nga phải đánh liều.
Ra khỏi hang sâu trăng sáng quá,
Trở về chốn cũ bóng cô liêu.
Da cóc quản chi đời ấm lạnh,
Tâm trong chẳng ngại cảnh tiêu điều.
Cóc dạ Nguyên tiêu nhìn bốn hướng,
Thả thơ tặng bạn với thân yêu.

Tại Hoa Kỳ, California, nơi chúng tôi đang định cư trên 35 năm nay, tục lệ tết Nguyên tiêu thường được tổ chức trong các chùa theo môn phái Đại thừa Tịnh Độ mà các tăng ni chủ trì phần lớn xuất thân từ Huế.
Tết Nguyên tiêu năm nay, tôi được tham dự lễ hội tại chùa Kim Quang. Đây là một trong những ngôi chùa đầu tiên của người Việt Nam tại Mỹ được xây dựng sau 1975. Và theo truyền thống “Đông Tây đề huề” thì bất cứ lễ hội nào, dẫu quan trọng đến đâu tại các nước Âu Mỹ cũng phải tổ chức vào dịp Weekend - cuối tuần, nên “Nguyên Tiêu” năm nay là ngày Chủ Nhật, dẫu mới là ngày 13 tháng giêng Âm lịch.

Sau ba ngày hành lễ Đàn tràng Dược sư, Tết Nguyên tiêu kết thúc với một chương trình văn nghệ đặc biệt của Gia đình Phật tử Kim Quang với hơn 200 đoàn sinh tập luyện công phu từ nhiều tháng trước. Các cháu đã trình diễn khá xuất sắc, thu hút và tạo được sự hưởng ứng, cổ võ nồng nhiệt của đông đảo khán giả ngồi chật sân chùa.

Chào hội Nguyên tiêu và xin chúc mọi người tiếp tục hưởng một Năm Mới Kỷ Hợi 2019 sức khỏe và an vui.

                                                     Sacramento, Nguyên tiêu 2019
                                                                Trần Kiêm Đoàn

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2019

NĂM MỚI 2019 GIỞ LẠI HỒ SƠ CŨ… ĐANG ĐE DỌA TƯƠNG LAI CỦA HÀNG TRIỆU CON EM THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM - Trần Kiêm Đoàn


      
                           Tiến sĩ Trần Kiêm Đoàn


NĂM MỚI 2019 GIỞ LẠI HỒ SƠ CŨ… ĐANG ĐE DỌA TƯƠNG LAI CỦA HÀNG TRIỆU CON EM THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM

Tại sao hai ông Nghè bị ném đá

Nước Việt Nam ta tự hào có bốn nghìn năm văn hiến, nhưng mãi đến thế kỷ thứ 11, đời vua Lý Nhân Tông (1072-1076) mới có thi cử để chọn nhân tài với khoa thi đầu tiên gọi là Bác Học. Từ đó, khoa cử là con đường vinh hiển nhất để tiến thân. Bậc học cao nhất là Tiến sĩ. Người thi Đình để chính thức xếp hạng tiến sĩ được ngồi dưới mái “nghè” thường là văn phòng tứ bảo của Vua nên được vinh dự gọi là ông Nghè. Ông Nghè được vinh quy bái tổ có quyền chọn năm mẫu đất bất cứ nơi nào mình thích trong Tổng để làm nhà nên dân gian có câu: “Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng Tổng”!

Việt Nam ta ngày nay có khoảng 120.000 ông bà Nghè (trung bình 800 người dân mới có một người có học vị tiến sĩ; so với Mỹ trung bình 130 người dân có một tiến sĩ). Nhưng chưa nghe ai sợ bị “đe hàng tổng” mà chỉ nghe tin các ông Nghè bị “ném đá”. Hai ông Nghè bị ném đá gần đây nhất là hai nhà giáo đã đưa sáng kiến “cải cách tiếng Việt” đang diễn ra trong nước.

Hai ông Nghè bị ném đá đó là hai vị Giáo sư Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại và Phó giáo sư Phó tiến sĩ Bùi Hiền. Nhị vị nầy có chung niềm… thú vị là cùng tuổi đời 83, cùng tốt nghiệp đại học Liên Xô trong những năm đầu 1970 và cùng bỏ ra hơn 40 năm để nghiên cứu và trình làng công trình cải cách tiếng Việt mà theo sự thâm tín của hai ông là tối tân, khoa học, hợp lý cho sự “chuẩn hóa” tiếng Việt.
Xin lần lượt “vấn an” hai vị:

Thứ Tư, 6 tháng 2, 2019

MỪNG TUỔI - Thơ Trần Kiêm Đoàn


     
                    Tác giả Trần Kiêm Đoàn


MỪNG TUỔI

Tối Ba Mươi tiễn Chó Mậu Tuất: mình tuổi mới...73,
Sáng Mồng Một đón Heo Kỷ Hợi: hoá ra 74!
Cuộc nhân sinh tưởng chừng như ảo mộng,
Trăm năm qua là chớp mắt của thời gian.

Mới xuân xanh,
Giờ tuổi đã chín vàng...
Nghe sương nắng ghi dấu hằn phế phủ.
Ôi bằng hữu thưa dần xa chốn cũ,
Đứa nghèo xơ, thằng đại phú... cũng ra đi.

Những ân tình, hội ngộ - chia ly,
Những yêu dấu - hận thù... đối mặt.
Cũng lần lượt theo nhau về đất.
Lòng mẹ hiền phủ bóng cả đàn con:
Đứa nên, đứa hư, đứa hỏng, đứa ngoan...
Khi nhắm mắt vẫn là con của Mẹ.

Tết đến ngày Xuân đường nhân thế,
Không trổ lộc non trên tấm vé một chiều.
Ta đi về sông núi cũ chân quê,
Lòng thanh thản thuở con về với Mẹ.

Sáng nay Mồng Một đầu Năm Mới,
Nhưng tính trong tuần mới Thứ Ba,
Sở làm, hàng xóm không hay biết,
Sao có Tết Tây với “Tết Ta”!

Thức dậy pha trà mai rót cúng,
Mời thơ, thơ cạn chén trà xanh.
Tâm trong như một trang sách mới,
Mừng tuổi chúc nhau vạn sự lành.

                             Sacramento, Cali,
                        Giao thừa Kỷ Hợi 2019
                     Trần Kiêm Đoàn

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

TAY HƯ KHÔNG NÊN NẮM ĐƯỢC RẤT NHIỀU - Thơ Trần Kiêm Đoàn


   


TAY HƯ KHÔNG NÊN NẮM ĐƯỢC RẤT NHIỀU

Người phàm nói: cho hết lấy gì để dùng
Người trí dạy: dùng hết còn gì để cho
Đem của đi cho
Đừng lo của mất
Đem của đi cất
Đừng tưởng của còn
Mất còn chằng phải không hay có
Trời đất mênh mông có lại không

Mất còn thế sự như sương tuyết
Sương tuyết chung nguồn nước đại dương
Mây tụ che trăng trăng biến mất
Thịnh suy còn mất thế xoay vần

Em đã già mùa xuân đã hết
Xuân về đâu
Xuân trở lại trong hồn
Hoa rất lạnh tiếng dương cầm đã cũ
Hoàng hôn rơi lớp lớp đọng mây chiều
Và cứ ngỡ bóng đêm dài lịm tắt
Soi gương cười hạnh phúc với cô liêu

Em sẽ gặp
những mùa xuân năm cũ
Cho đi em
còn mất có bao nhiêu
Buông xả hết xem đời là phấn thổ
Tay hư không nên nắm được rất nhiều

                                  Trần Kiêm Đoàn
                                       28-1-2019

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2019

TRONG SƯƠNG MÙ THẤY NẮNG ĐANG LÊN - Thơ Trần Kiêm Đoàn


     


TRONG SƯƠNG MÙ THẤY NẮNG ĐANG LÊN

Có một thuở sương mù che khuất:
Những ngày vui mờ nhạt ánh hồng.
Dưới ánh mặt trời như trong đêm tối,
Chẳng thấy gì trời đất mênh mông.

Là khi không nhìn đời bằng mắt,
Mà thấy bằng Tâm...
Tâm hoang vắng nên tinh cầu
hoang lạnh.
Tâm là ai có phải trái tim...
Trái tim đỏ nằm trong lồng ngực tối?

Tâm không phải là tim.
Bởi có người thay tim hay đeo tim máy,
Vẫn yêu thương hờn giận tuổi ban sơ,
Vẫn u mê và minh triết,
Anh kiệt và dại khờ...
Như những kẻ làm thơ:
Ngu ngơ mà bản lĩnh.

Nên Tâm là Tự Tánh.
Là bản lai diện mục nguyên sơ,
Là tình yêu rỗng không, im lặng như tờ,
Là rất phật thuở hồng hoang Phật chưa thị hiện.

Em là Huế phải không?
Đã giữ Huế trong ngần bằng Tâm Huế.
Cảnh thật mắt trần không đẹp bằng Huế trong Tâm.
Đi trên sông Hương mà nhớ sông Hương.
Vịn Trường tiền mà nhớ Trường Tiền tâm ảnh.
Nên Huế muôn đời là những cơn mưa lòng không tạnh:
Đi mà nhớ không phải ở để mà thương.
Nắng mai lên từ ngõ vắng trong sương.
Anh xa lắm mà tâm mình đang với Huế.

                              Sacramento 30-1-19
                                 Trần Kiêm Đoàn

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2019

NGƯỠNG CỬA TỬ SINH - Trần Kiêm Đoàn


     

        NGƯỠNG CỬA TỬ SINH

Chiều nay mình trở lại thăm một người bạn mà trước đây sáu tháng mình có giới thiệu và nhắc nhở trên trang Facebook này. Đó là anh Quảng Quý Huỳnh Kim Lân.
Cách nay sáu tháng, bác sĩ đã cho biết là anh chỉ còn khoảng 100 ngày nữa để sống vì anh đang ở giai đoạn cuối cùng của bệnh ung thư phổi.

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019

DẠ... THƯA: HỒN HUẾ - Trần Kiêm Đoàn


         

           DẠ... THƯA: HỒN HUẾ
                                      Trần Kiêm Đoàn

Tiếng “Dạ…thưa”: một biểu tượng nhân văn của văn hóa Huế
Nhận diện văn hóa của một đất nước hay của một vùng đất nào đó trên mặt địa cầu nầy thường có quá nhiều hình tượng và đề tài để nói: Có thể đó là “biểu tượng nhân văn” do con người dựng lên hay nhờ có bàn tay con người gìn giữ và bảo vệ sản phẩm của thiên nhiên lâu dài mới còn tồn tại. Như tháp Eiffel của Pháp, Kim Tự Tháp ở Ai Cập, lá phong ở Canada hay con chuột túi (Kanguru) ở Úc. Hoặc có khi chỉ là một âm vị của ngôn ngữ như tiếng “Ok” của Mỹ, “Amen” của đạo Chúa và “Nam mô” của đạo Phật… Nhưng rốt lại, chỉ còn một nét nào đó nổi bật nhất mà chỉ cần nhìn hay nói ra là sẽ nhận được ngay câu trả lời tên nước, tên vùng.
Chắc nhiều người còn nhớ ngày Hội Huế đầu tiên trên vùng đất thủ phủ tiểu bang California, thành phố Sacramento năm 1985, khi nhà thơ Thành Đạt đưa giải thưởng “1000 hột sen Tịnh Tâm” rất quý hiếm vào thời điểm nầy cho ai chọn “một cái gì” bình dân và đơn giản nhất mà ai cũng biết cũng quen dùng tượng trưng cho Huế. Người ta đã đưa ra nhiều hình ảnh, tiếng nói làm “biểu tượng” cho Huế như chùa Thiên Mụ, Cầu Trường Tiền, Cửa Ngọ Môn, núi Ngự Bình; hoặc tiếng nói: “Mô, Tê, Răng, Rứa”
Nhưng kết quả thật thú vị vì người trúng giải là chị Tịnh Như đã chọn tiếng “Dạ” làm biểu trưng cho Huế. Nhiều người trong cuộc Hội Huế không đồng ý vì tiếng “dạ” là tiếng Việt mà người dân trong cả ba miền Bắc Trung Nam đều dùng chứ không riêng gì ở Huế. Tuy nhiên chị Tịnh Như đã lý giải một cách đầy thuyết phục rằng: “Tiếng ‘Dạ’ là vũ khí văn hóa, nhân văn đặc thù của Huế vì nó được dùng như một phương tiện diễn đạt cảm xúc và ý nghĩ từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu, từ phục tùng đến phản kháng, từ yêu thương đến thách đố, khước từ…”

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2019

HUẾ GIỮA MÙ SƯƠNG - Thơ Trần Kiêm Đoàn



HUẾ GIỮA MÙ SƯƠNG

Nếu anh không về thăm lại Huế,
Sương một đời che kín Huế ngàn xưa.
Trong góc khuất những tâm hồn xa Huế,
Đi giữa Trường Tiền mà nhớ Huế bâng quơ.

Em là Huế, Huế là em thuở nớ...
Trang giấy hùn cây viết cũ gian nan,
Thư và thơ tình yêu thời mới lớn:
Quốc Học chờ Đồng Khánh chuyến đò ngang.

Huế tuổi trẻ xanh như màu ngọc bích,
Cháo gạo đồng cơm hến sắn ăn trưa,
Nghèo dễ sợ tuổi học trò thương rứa,
Quà tỏ tình thức trắng để làm thơ.

Anh và em đều có người mạ Huế,
Chắt chiu mình mà phỗng xả với
bầy con.
Mạ là nhịp cầu mây núi dòng sông,
Dẫu thua được vẫn là con của mạ.

Ôi thời gian Huế mình mau chi lạ,
Thằng Cu xưa nay tóc bạc cụ già.
Những đứa bạn xóm nghèo thời thơ ấu,
Thoáng trở về gặp lại mụ ôn... tra.

Về Huế lại hạc vàng xưa bay mất,
Huế trầm tư vang bóng cũ không còn.
Anh khờ dại nhớ em thời bím tóc,
Dẫu ăn mày quá khứ cũng trông mong.

Ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông,
Anh biết rứa răng vẫn buồn chi lạ.
Bởi một lần đi là chia ly tất cả,
Nên trở về tay trắng vẫn hoàn không.

Anh yêu Huế chẳng có gì để mất,
Khi tình yêu là sương khói mênh mông.
Dòng sông đó trái núi này vạn cổ,
Ta còn ta là tất cả vẫn đang còn.

                       Trần Kiêm Đoàn
                            9-1-2019

Cảm tác ghi mấy dòng khi nhận được chùm ảnh HUẾ GIỮA MÙ SƯƠNG.

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG NẺO VỀ CỬA KHÔNG - Trần Kiêm Đoàn


   
                  Tác giả Trần Kiêm Đoàn


        ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG NẺO VỀ CỬA KHÔNG

Đường Xưa Mây Trắng dường như là lối đi mà thật sự chẳng có lối đi nào của hành giả lên đường.
Đó là con đường tâm, luôn luôn có mặt nhưng mà cũng luôn luôn khuất nẻo giữa trần gian ta bà bụi bặm nầy. Thấy được con đường đó để lên đường mà không lo bị lạc là một hạnh phúc tuyệt vời của tinh thần tu dưỡng.

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2018

CHIỀU ĐỘC ẨM - Thơ Trần Kiêm Đoàn


    
                            Tác giả Trần Kiêm Đoàn


CHIỀU ĐỘC ẨM

Có nét phiêu du chiều độc ẩm
Bạn bè ơi tứ xứ biết phương nào
Nhà cao cửa rộng buồn quan ải
Ghế trống bàn không uống với ai

Xưa uống mười chai chưa thấm rượu
Mỗi câu cười phủi sạch mấy rừng men
Nay ta uống nửa ly chiều độc ẩm
Rượu không say mà chếch choáng nỗi buồn thêm

Khi thấy rượu không còn chi men rượu
Tửu vô tâm không phá được thành sầu
Cười ngạo nghễ lão lai thành tráng sĩ
Sau tiếng cười không biết sẽ về đâu

                               Trần Kiêm Đoàn
                                       
(Cảm tác chiều uống rượu một mình và đọc thơ vào phone 
12-12-18)

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2018

DUY ƠI, BẠN RA ĐI NHƯ BÓNG THU VỀ - Thơ Trần Kiêm Đoàn


    
                     Bác sĩ Hồ Đắc Duy


DUY ƠI, BẠN RA ĐI NHƯ BÓNG THU VỀ

“Bác… Duy thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.”

Mấy năm trước bạn ta gặp lại,
Ở quê người hải ngoại Cali,
Đọc thơ Nguyễn Khuyến – Dương Khuê,
Hứa suông sẽ “mượn ngày về tiễn nhau”.
Cứ tưởng tếu ngờ đâu lại thật,
Tin bạn hiền vừa mất hôm qua.
Quê hương, tình bạn quan hà,
Biển trời hai cõi phương xa mịt mờ.
Nhớ chi lạ thương hoài thuở nớ,
Bạn hơn mình vài tuổi ngây thơ.
Học trò Quốc Học vu vơ,
Thương o Đồng Khánh làm thơ… con mèo!
Đứa thầy thuốc đứa theo thầy giáo,
Mà tâm hồn gió bão văn chương,
Tài hoa chi giữa đời thường,
Thi ca, biên khảo… ngó đường mà đi!
Hồ Đăc Duy lương y khiêm nhã,
Hồ Đắc Duy đôi ngã văn đàn:
Hồn tự do là bóng trăng,
Mây che không khuất, gió tràn không lay.
Đường thế hệ Đông Tây kim cổ,
Đã xa rồi cái thuở Dương Khuê.
Ta quý nhau và lắng nghe,
Con đường Trung Đạo đi về an nhiên.
Mùa Vu Lan chuông thiền đồng vọng,
Bạn ra đi như bóng Thu về,
Tình người, tình bạn, tình quê,
Thương thương, nhớ nhớ, lắng nghe bụi hồng.
Không hoàn không, chân không rỗng lặng,
Cõi đi về tự tánh bình an.
Duy ơi! Có một vầng trăng,
Sao Mai vừa lặn, bóng Hằng còn đây.

Sacramento, Cali - mùa Vu Lan 2018
               Trần Kiêm Đoàn

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2018

GIẢI OAN CƠM HẾN HUẾ - Trần Kiêm Đoàn


            
                    Tác giả Trần Kiêm Đoàn

Nguồn: 
https://www.baocalitoday.com/van-nghe/giai-oan-com-hen-hue.html


   GIẢI OAN CƠM HẾN HUẾ

   Chén rượu làng Chuồn xin uống cạn,
   Giải oan cơm hến dở, ngon nầy.
  (Phóng tác thơ Tô Thùy Yên -TKĐ)

Cơm Hến Huế mang bản chất đậm đà của Huế. Hương không sang cả nhưng có sức thẩm nhập và gây cảm giác thinh thích, nghiền nghiện nhẹ nhàng cả đời. Vị ngọt ngào mà không lịm nên làm người nhớ mà không phải chạy tìm quay quắt để chóng thỏa mãn rồi lại sớm quên. Tướng không kiêu sa kiểu nem công chả phụng mà mặn mà rau cỏ toát lên từ phèn chua nước mặn của quê hương.
Hơn ba mươi năm trước, khi tôi viết bài Cơm Hến Huế;

bây giờ đọc lại bỗng hiện lên hai tảng đá to sờ sờ chặn đường khiến tiến thoái lưỡng nan. Tảng đá bi quan khi tôi cho rằng, cơm hến Huế chỉ có thể nấu với hến tươi nằm duới đáy sông Hương bao quanh Cồn Hến nên xa Huế là đành vĩnh viễn chia tay với cơm hến. Và tảng đá lạc quan khi tôi nghĩ chung chung rằng: Là dân Huế ai cũng thích cơm Hến Huế (như tôi!)


Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

TÂM SỰ MỘT NGƯỜI ĐI - Thơ Trần Kiêm Đoàn


          
                Tác giả Trần Kiêm Đoàn


(Như một “comment” về bài thơ của cô giáo GSTS. Nguyễn Thị Tịnh Thy, khoa Ngữ Văn ĐHSP Huế. Chúng tôi đã có dịp gặp Cô tại quán Sân Mây - Vỹ Dạ hồi đầu tháng 4 - 2018)

      
           Ảnh: (Từ trái sang)
           Tịnh Thy, Lê, Đoàn, Bửu Nam, Anh Nga


   TÂM SỰ MỘT NGƯỜI ĐI

   30-4-1975:
   Hằng triệu người vui,
   Hằng triệu người buồn.
   Hàng triệu nhà sum họp Bắc Nam,
   Hằng triệu nhà Đông Tây ly biệt.
   Bên thắng cuộc: ngày quê hương giải phóng.
   Bên thua thời: nước mất nhà tan.

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

ĐIẾU VĂN KÍNH VIẾNG HƯƠNG LINH THẦY HOÀNG VĂN QUẢNG - Trần Kiêm Đoàn


TIN BUỒN

Chúng tôi vừa nhận được tin buồn :
Thầy HOÀNG VĂN QUẢNG - cựu giáo sư trường Trung Học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị ( trước 1975) - sau thời gian bạo bịnh, đã mất lúc 22g30 ngày 27-10 -2013. Hưởng thọ 77 tuổi
Nhập quan : 11g ngày 28-10.
Lễ tang tổ chức tại nhà riêng C.26/5 hẻm 449 đường Lê Văn Việt, Phương Tăng Nhơn Phú, Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh
Lễ động quan cử hành  lúc 7g ngày 31-10-2013.
An táng tại nghĩa trang Đa Phước, Bình Chánh.
Thành kính phân ưu cùng tang quyến
Cầu chúc hương linh Thầy sớm siêu thoát


ĐIẾU VĂN
KÍNH VIẾNG HƯƠNG LINH THẦY HOÀNG VĂN QUẢNG
                                                                 (Thầy Trần Kiêm Đoàn)

             Trời Phương Ngoại nghe tin Thầy mất,
             Thu Cali trời đất buồn man man
             Nhớ linh xưa!
             Cùng mái ấm Nguyễn Hoàng,
             Một thuở gian nan,
             Đồng thuyền đồng hội:
             Đạn pháo kích sáng lòa đêm tối,
             Khói giao tranh che lối ngày xanh.
             Cả Đông Hà, Cam Lộ, Gio Linh,
             Và Quảng Trị, Cổ Thành, trường xưa tan tác.
             Thầy cô chung số phận,
             Với quê hương, học trò.
             Những tháng ngày lận đận
             Qua rồi như giấc mơ.
             Nhưng hỡi ơi…
             Đời người ngắn ngủi,
             Vé một chiều tàn lụi quỹ thời gian.
             Đi về thôi: Thành trụ hoại không.
             Đâu phải cúc mai mà mùa xuân trở lại,
             Một dòng xuôi Thạch Hãn chẳng quay về
             Ngậm ngùi thay!
             Cõi vô thường Thầy lặng lẽ về quê,
             Kẻ ở lại – bạn cũ trò xưa – chung ngấn lệ.
             Về thôi!
             Tình nghĩa muôn sau ca dao còn nhớ:
             “Trăm năm dù lỗi hẹn hò,
             Cây đa bến cộ con đò khác đưa.
             Cây đa bến cũ còn lưa,
             Con đò năm trước người xưa mô rồi!”

             Ô hô, ly biệt!
             Lần cuối một đời,
             Xin đưa tiễn hương linh về cõi tịnh.
             Rỗng lặng – Bình an.
             Đồng nghiệp tiếc thương,
             Học trò bái biệt.
                                        
                        Sacramento, Cali. 10-27-13
                               Trần Kiêm Đoàn
                   (Thầy giáo Nguyễn Hoàng 70-75)


MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ LỄ TANG THẦY HOÀNG VĂN QUẢNG  


            






         




                


                     

            
                
                                   

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG - Trần Kiêm Đoàn

Tin Melbourne - Một trong những nhạc sĩ lão thành của Việt Nam, nhạc sĩ Văn Giảng tên thật là Ngô Văn Giảng, pháp danh Minh Thông, vừa từ trần tại Melbourne, Úc Đại Lợi ngày 9 tháng 5 năm 2013, hưởng thọ 89 tuổi. Tang lễ được cử hành tại chùa Quang Minh vào ngày 12 & 13-05-2013, sẽ được hỏa táng vào lúc 8 giờ sáng ngày Thứ Ba 14-05-2013. Xin giới thiệu bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn về vị nhạc sĩ tài danh này

        
                         Nhạc sĩ Văn Giảng (Thông Đạt)
    

         NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG

          Thầy Ngô Văn Giảng vừa tạ thế tại Úc, hưởng thọ 89 tuổi. Tin buồn loan ra, tôi bâng khuâng nhớ về 54 năm trước, năm 1959, thầy là giáo sư âm nhạc của chúng tôi tại trường Hàm Nghi, Huế. Thuở ấy, thầy mới ngoài 30, dáng điệu phương cường, đi chiếc xe gắn máy hiệu Zunndapp của Ðức nổ bịch bịch nổi bật cả sân trường.
            Tôi còn nhớ ngày đầu tiên khi Thầy bước vào lớp đệ Thất B1 của chúng tôi, trò Trương Phước Ni bắt tay làm loa đứng dậy chào thầy bằng câu: “Ðường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…” Thầy cười rất tươi cho cả lớp, nhưng cũng lập nghiêm nhìn chú học trò rắn mắt ở dãy bàn cuối lớp. Ðây là câu mở đầu của hùng ca Lục Quân Việt Nam, một trong những bài ca mang tiết điệu hành khúc, hùng tráng nổi tiếng nhất của Thầy – nhạc sĩ Văn Giảng – như Thúc Quân, Ðêm Mê Linh, Qua Ðèo, Nhảy Lửa…
            Thầy đã là một nhạc sĩ thành danh, nổi tiếng trong cả nước, trước khi trở thành giáo sư âm nhạc của trường Hàm Nghi. Nhưng nhiều người chỉ biết Văn Giảng qua những bản hùng ca. Bởi thế, vào mấy năm đầu thập niên 1950, khi bản nhạc để đời của Thầy, Ai Về Sông Tương, trở thành một bản tình ca thời danh với tên tác giả là Thông Ðạt thì ít ai để ý rằng, trong góc khuất của những tâm hồn nghệ sĩ thì bên cạnh nhịp đời hào hùng vươn tới vẫn có tiếng thở dài chan chứa điệu buồn.

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

TRÊN ĐƯỜNG BỤI PHẤN - Trần Kiêm Đoàn

Chúng tôi xin giới thiệu một bài viết mới của thầy Trần Kiêm Đoàn mà thầy vừa gửi qua email

        


             TRÊN ĐƯỜNG BỤI PHẤN 
                                        Trần Kiêm Đoàn

Bình luận về một bài viết rất chi là “sư phạm chơn ngôn” của thầy Lê Duy Đoàn, một đóng góp văn chương kỷ niệm 45 năm Đại Học Sư Phạm Huế, dưới nhan đề “Sư Phạm -  một con đường”, thầy Đoàn Ứng Viên bèn ra thơ… nóng hổi:

rằng hay thì thật là hay
không hay sao lại đỗ ngay sư...phàm
bây chừ con cháu càm ràm
phải chi không học chắc làm quan to

(Đoàn Ứng Viên. Email: Vào 13:52 Ngày 01 tháng 4 năm 2013)


 
                         Sư Phạm Đại Học Huế 
           - Một cảnh trại Hè, khóa Phan Châu Trinh 1970