CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI ĐINH DẬU 2017 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 22 tháng 4, 2017

NHỚ MỘT NGƯỜI THÔI - Thơ Vĩnh Thuyên, nhạc Trần Quang Khen


                  

                         Thơ: Vĩnh Thuyên.
                         Phổ nhạc: Trần Quang Khen.
                         Ca sĩ trình bày: Lâm Trí Tú. 
                         Video clip: Phú Đoàn.


                        NHỚ MỘT NGƯỜI THÔI
                             (Tặng Kha Tiệm Ly)

                        Nhớ em muốn chết cho rồi !
                        Uống say nằm ngủ,
                        thức ngồi nhớ em

                        Xin gởi gió nụ hôn lên tóc
                        Vì má môi là của người rồi
                        Gió từ chối đông về bấc lạnh
                        Chờ hạ sang lâu lắm gió ơi !

                        Mấy mươi năm một lần lầm lỡ
                        Lỡ một lần nghìn xót ngàn xa
                        Đêm trở giấc vòng quanh phố chợ
                        Chợ vắng người phố chẳng ai qua

                        Nhớ em nhớ đủ trăm bề
                        Bỏ đi trăm thứ muốn về thăm em

                                                       Vĩnh Thuyên

           
                 

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

CÕI TỊCH LẶNG TRONG “IM LẶNG”, THƠ XUÂN LY BĂNG - Châu Thạch


                  
                    Nhà bình thơ Châu Thạch

CÕI TỊCH LẶNG TRONG “IM LẶNG”, THƠ XUÂN LY BĂNG
                                                                                    Cảm nhận của Châu Thạch

Nhà thơ Hàn Mặc Tử đã được xem  là nhà thơ của đạo Thiên Chúa vì thơ ông chính là “nguồn trong trẻo vô biên” phát ra từ sự cảm xúc bởi đức tin trong tim. Nhà thơ không chủ ý sáng tác để tôn thờ Thiên Chúa hay để truyền bá Phúc âm nhưng Thiên Chúa đã chiếm ngự linh hồn ông, nên thơ ông tự nhiên đầy dẫy Thánh Linh. Tôi tìm được người thứ hai có phong cách như thế trong bài thơ “Im Lặng” của nhà thơ Xuân Ly Băng. Im lặng theo định nghĩa của từ điển là không có lời nói, không có tiếng động nào. Sự im lặng nầy chỉ xảy ra ở bên ngoài nhưng trong tâm vẫn còn xao động bởi muôn vàn hỷ nộ, ái ố của chính mình.  Im lặng theo triết lý Phật giáo là “tỉnh lặng như chánh pháp”, nghĩa là tâm thức vẫn hoạt động nhưng tự mình hướng cho tâm thức quay về nẻo thiện, tránh nỗi đau và tìm sự an lạc.
Bây giờ hãy đi vào thế giới “Im Lặng” của Xuân Ly băng:

                 Dáng ngọc lượn về trong giấc êm
                 Nhẹ tựa hoa bay chốn nguyệt thiềm
                 Đường vào im lặng mê ly quá
                 Lót toàn tơ lụa cõi thần tiên  
   

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

VỊNH LẠI THƠ TIÊU TƯƠNG BÁT CẢNH - Thơ Nguyễn Khôi


          
                   Nhà thơ Nguyễn Khôi

Thân gửi : Nhà thơ La Thụy ,
 Nhã My là nữ thi sĩ  miền Nam Việt Nam, hiện định cư ở Hoa Kỳ, nàng có một series Thơ về Sông Tương... mà Nguyễn Khôi đọc như tìm thấy "Người Tình trong mộng". Sông Tương tuy ở bên Trung Hoa nhưng đã đi vào hồn thơ Hán Việt trên 1000 năm (do giao lưu văn hóa) Nhạc sĩ Văn Giảng (Huế) đã có một bài hát bất hủ về sông Tương... ở làng quê NK (Bắc Ninh )cũng có một dòng sông cổ tích: sông Tiêu Tương trước mặt chảy lặng thầm, gắn với sự tích Trương Chi- Mỵ Nương, đã được Nhạc sĩ Văn Cao sáng tác bài hát "Trương Chi" tuyệt hay... là Trai Đình Bảng/ Nguyễn Khôi nhiều lúc thơ thẩn bên dòng Tiêu Tương mộng mơ, cất lên tiếng Sáo vẩn vơ... nay là Thơ gửi tặng Nhã My / Người  tình trong mộng ở bên kia bờ Đại dương... vô vọng... xin được chia sẻ cùng các bạn thơ :
1)- Sơn thị tình lam: hơi mù sương buổi trời tạnh nơi chợ núi.
2)-Ngư thôn tịch chiếu:bóng chiều rọi thôn chài.
3)-Giang thiên mộ tuyết: tuyết chiều trên sông.
4)-Yến sự văn chung: chuông chiều ở chùa cao trong mây.
5)- Bình sa lạc nhạn:Nhạn sa bãi cát phẳng.
6)-Viễn phố quy phàm: thuyền dong buồm về bến xa.
7)-Tiêu Tương dạ vũ: nửa đêm trên sông Tiêu Tương.
8)-Động Đình thu nguyệt: trăng thu trên hồ Động Đình.

       
                      Nhà thơ Nhã My

              VỊNH LẠI THƠ TIÊU TƯƠNG BÁT CẢNH
                            (Tặng Nhã My)             

              *Người đi xa lắm
               Tôi chờ
               Tiêu Tương một dải
               bơ sờ tóc sương.
               *Người đi xa lắm
               Tôi thương
               "Tình lam / sơn thị" chợ cồn núi xa.
               *Người đi xa lắm
               Tôi ca
               "Ngư thôn tịch chiếu" chiều sa thôn chài.
               *Người đi xa lắm
                nguôi ngoai
               "Giang thiên mộ tuyết" tôi hoài hoài mong.
               *Người đi xa lắm
               Tôi trông
               "Văn chung/ yến sự" mấy tầng chuông mây.
               * Người đi xa lắm
               Tôi say
               "Bình sa lạc nhạn" cát đầy mắt chim.
               * Người đi xa lắm
               Tôi nhìn
               "Quy phàm / viễn phố" cánh buồm tít xa.
               *Người đi xa lắm
               Tôi mơ
               "Tiêu Tương dạ vũ" thẫn thờ riêng tôi.
               * Người đi xa lắm
               bên Trời
               "Động Đình thu nguyệt" trăng rơi đáy hồ.
               * Người đi xa lắm
               Tôi thơ
               "Tiêu Tương bát cảnh" ỡm ờ với ai ?
           
                          Quê Bắc Ninh 21-7-2014
                                NGUYỄN KHÔI

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

PHỤC SINH - Thơ Xuân Ly Băng


               


            PHỤC SINH 

              Trói Tử thần vào chân cây thập giá
              Diệt tử thần khi Ngài tung huyệt đá
              Là Chúa ôi! Khi rạng rỡ Phục sinh
              Chúng con đây tất cả được biến hình.

              Dù lây lất trong vũng đời đau khổ
              Uống nước mắt và ăn cơm độn gỗ
              Và dòi bọ có rúc rỉa thân mình
              Ngày thứ ba chúng con sẽ mặc áo quang vinh.

              Chúa Phục sinh vũ trụ nổ rền như pháo Tết
              Trời đất vỗ tay hát lên cuồng nhiệt
              Trong lạnh lùng bóng tối biền biệt đi
              Hết đất rồi ở lại nữa làm chi!

              Ngày thứ ba tôn vinh ngày của Chúa
              Nhạc Phục sinh bùng lên như núi lửa
              Và thanh sắc và tất cả hương hoa
              Chất một trời rất trọng thể nguy nga.

                                               Xuân Ly Băng

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

NGƯỜI BẠN LẠ ĐỜI - Kha Tiệm Ly


         
                            Nhà văn Kha Tiệm Ly


NGƯỜI BẠN LẠ ĐỜI

Tôi với nó bản tính khác nhau một trời một vực, như đen với trắng. Thế mà định mệnh lại xui khiến tôi phải là bạn thân với nó suốt hơn mười năm trời, kể từ những năm đầu tiểu học, cho đến ngày ghi danh vào đại học. Bản tính khác nhau, chơi nhau là khó. Đàng nầy tôi và nó lại là đôi bạn thân suốt một thời gian dài, nghĩ cũng lạ.
Tôi thì chăm chỉ, cần mẫn; nó thì lưòi biếng, cẩu thả. Tôi thì keo kiệt, nhút nhát; nó thì rộng rãi, gan dạ. Tôi thì ưa câu mâu những chuyện nhỏ nhặt, còn nó thì không để ý những điều tiểu tiết. Nói chung, hai đứa không có cái gì hạp nhau, mà lại rất thân nhau, “biết” nhau, rõ thật lạ đời!
Tôi chưa thấy nó học bài ở nhà bao giờ. Khi thầy kêu trả bài, thì nó… mới bắt đầu học! Nhìn vẻ mặt khẩn trương của nó lúc nầy thật tội nghiệp. Nếu nó xui xẻo mà bị thầy kêu lên lần đầu tiên, thì “ăn trứng vịt” là cái chắc; nhưng nếu thầy kêu nó sau vài ba bạn thì nó đọc cũng khá xuôi tai! Dù thế nào, vẻ mặt thầy cũng tạm hài lòng với đứa học trò “siêng năng” nầy, bởi những con muỗi mà nó đập và kẹp vào tập mỗi tối, đã đủ chứng minh rằng nó đã có học bài!

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

THỜI NHÀ SÀN - Thơ Chu Vương Miện


      
         Chu Vương Miện


       THỜI NHÀ SÀN
  
       sống mọi cà lơ
       du canh du cư vài năm rồi bỏ
       vào tuốt rừng sâu chặt cây vạt cỏ
       dựng túp nhà sàn ở tạm dăm năm
       có khỉ dòm nhà có chó leo thang
       trâu gõ mõ chim bắt cô trói cột
       nương bắp nương khoai ăn bằng muối hột
       hết mỡ mầu cuốn gói ra đi
       bây giờ tắm xong cùng biệt cùng ly
       duyên đã tận tình chia hai ngả
       con thuyền ra khơi chả gì non nả

       mừng cho nhau ngày hai đứa lâm hành

                              CHU VƯƠNG MIỆN

Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2017

NÍU, BUÔNG, XẢ... - Thơ La Thụy


     
                             Tác giả La Thụy


       NÍU
       Níu mây dừng bước phiêu linh
       Níu trời hẹp bớt mông mênh tình sầu
       Níu trăng ngơ ngẩn đêm sâu
       Níu tình huyền mộng bên cầu sắc không

       BUÔNG
       Buông thân đẫm bụi ta bà
       Buông tình sóng cuộn hải hà giận yêu
       Buông hồn theo gió phong phiêu
       Trí buông xuôi nốt tàn chiều vô ngôn

       NÍU BUÔNG
       Níu, buông… mòn mỏi dặm về
       Níu: còn nuối tiếc cơn mê
       Buông sao rời rã mệt mề tình xa
       Ừ thì tin nhạn la đà
       Níu buông, buông níu… yên hà huyễn hư

       XẢ
       Xả lòng vơi nhẹ tục căn
       Suối nguồn xả gột trần tâm não phiền
       Xả tình hồn trí an nhiên
       Xả hương tục lụy xuôi miền vô ưu


                                         LA THỤY

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

CÁT VÀ ĐÁ - Thơ 4 Sinh Ngữ Việt, Anh, Pháp, Tây Ban Nha của Phước Tuyền Ngô Quang Huynh



              

Bài thơ nầy dựa vào Youtube "Câu chuyện Cát và Đá" được tóm tắt như sau: Hai chàng thanh niên đi trên sa mạc, ban đầu vui vẻ trò truyện, nhưng sau đó, không biết ly do gì sinh ra cãi vã, rồi chàng A tức giận đánh chàng B... Chàng B không nói gì, vội viết ngay trên cát sự cố vừa xảy ra.
Hai chàng vẫn tiếp tục cuộc hành trình... và gặp một hồ nước, chàng B liền xuống khoát nước rửa mặt cho đỡ nóng, chẳng may trượt chân té xuống hồ sâu... Chàng A vội nhảy xuống cứu bạn mình... Sau khi lên bờ, chàng B liền lấy dao khắc trên đá hành động cứu người của bạn mình... Chàng A ngạc nhiên hỏi chàng B lý do nào khi thì viết trên cát lúc lại khắc trên đá...


                                CÁT VÀ ĐÁ
     Thơ 4 Sinh Ngữ  (Việt - Anh - Pháp -Tây Ban Nha)

     1. Cát và Đá. (Việt nam)
     2. Sand and Rock. (English)
     3. Sable et Pierre. (Français)
     4. Arena y Roca. (Español)



     CÁT VÀ ĐÁ

     Bạn đánh tôi rồi, đau đớn thay !
     Tôi ghi trên cát phút giây nầy,
     Để đừng nhớ lại hành vi ấy,
     Thời điểm đau buồn dễ vụt bay..

     Bạn giúp vài điều, tôi cũng ghi,
     Ghi giờ ghi phút bất cứ gì,
     Phen nầy tôi lại khắc trên đá
     Để nó đừng phai, gió cuốn đi..

     Bạn làm mỗi chuyện, tôi chép luôn,
     Ghi cả hân hoan lẫn khổ buồn,
     Hầu nhở nhắc tôi ngày tháng lại,
     Nhưng tùy nơi viết dễ nhìn trông.

     Lâu nay bạn đã giúp tôi nhiều,
     Thoải mái tuổi già lúc quạnh hiu.
     Trao đổi tâm tình như ruột thịt,
     Ân cần thăm hỏi sớm hay chiều.

     Chiều nay tôi định ra biển ngồi,
     Viết hết nỗi lòng trên bãi thôi.
     Để sóng dồn lên hay gió thổi,
     Những gì không đẹp cuốn nhanh trôi.

     Phước Tuyền Ngô Quang Huynh
                   (Feb. 4, 2009)

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

ĐỌC “TÔI NẰM XUỐNG”, THƠ XUÂN LY BĂNG - Bình thơ của Châu Thạch


               
                             Châu Thạch


                      ĐỌC “TÔI NẰM XUỐNG”, THƠ XUÂN LY BĂNG 
         
Một trăm bài thơ nói về sự chết thì một trăm bài thơ bi quan, cho dầu có bài thơ nói đến sự phiêu diêu miền cực lạc, hoà nhập với trăng sao nhưng lại xem thế gian là nơi đầy đau buồn mà mình vừa trút bỏ. Lần đầu tiên tôi đọc một bài thơ diễn tả cõi sống và cõi chết đều tràn lan niềm vui. Nhà thơ Xuân Ly Băng đã siêu thoát ngay tại thế gian nầy trong bài thơ “Tôi nằm Xuống”, một bài thơ nói về sự chết mà không có tiếng chuông báo tử, không có tiếng mõ cầu siêu, không có tiếng khóc thút thít nhưng cả thế gian có ánh sáng, có màu sắc, có âm thanh rộn ràng, tích cực và tươi thắm, khiến cho người nằm xuống như khởi hành một chuyến viễn du đầy hạnh phúc tại nơi đi và đầy nguồn vui tại nơi đến.
 Bài thơ có 13 khổ thơ, mỗi khổ đều có cụm từ “Tôi nằm xuống” ở mỗi câu đầu. Lần lượt 13 câu đầu của mỗi khổ thơ như sau:

     - Tôi nằm xuống, quả đất vẫn quay đều
     - Tôi nằm xuống, hoa vẫn nở bốn mùa
     - Tôi nằm xuống, vẫn tiếng hót chim trời
     - Tôi nằm xuống màu, biển xanh cứ xanh
     - Tôi nằm xuống Hòn bà vẫn hiên ngang
     - Tôi nằm xuống, vẫn cuồn cuộn dòng sông
     - Tôi nằm xuống, lịch sử cứ vận hành
     - Tôi nằm xuống con trẻ cư sinh ra
     - Tôi nằm xuông vẫn chảy dòng sông Dinh
     - Tôi nằm xuống vẫn uốn khúc Li Li
     - Tôi nằm xuống chuông vẫn vọng thánh đường
     - Tôi nằm xuống có ai khóc thương tôi?
     - Tôi nằm xuống cuộc đời vẫn cứ đi

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

BA BÀI THƠ VUI TẶNG HAI BẠN THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VÀ LẠI QUẢNG NAM - Nguyễn Khôi


  

     Ba bài thơ vui tặng hai bạn thơ Chu Vương Miện và Lại Quảng Nam
     
     1- XUÂN HÀ NỘI
     "Khách xa gặp lúc mùa xuân chín "  
                              Thơ Hàn Mạc Tử

      Mưa phùn ướt đẫm áo em
      Môi thì nhợt nhạt, tóc mềm rủ thương
      Mịt mờ sương phủ hồ Gươm
      Chừng xa nghe vọng tiếng chuông Tây Hồ
      Nhớ xuân xưa đón Giao thừa
      Ta đi "hái lộc" bên bờ Thiền Quang
      Xuân mưa thả cái dịu dàng
      Bên nhau hơi ấm từ nàng tỏa ra
      Mưa phùn quấn quít hai ta...
                 

     2- PHÊ BÌNH CÁI ĐÈO NGANG
        "Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà"
              Thơ Bà Huyện Thanh Quan

     Một cái Đèo Ngang bao tranh cãi
     Cứ hoài hoài Quốc Quốc với Gia Gia
     Tới đây "đứng" lại hay "ngoảnh" lại ?
     Đâu "chợ" bên sông,"rợ" mấy nhà ?
     Chỉ thấy
     Núi trơ trụi, bãi sim mua cằn cỗi
     Bặt cánh chim, ầm ĩ biển vỗ bờ...
     Anh hay cãi
     Anh ăn sóng / nói gió
     Nổ "phê bình"... phải/ trái gió bay
     Ai yêu nước / ai Việt gian bán nước ?
     Hay gì cuộc Nội Chiến dằng dai ? !
     Ôi,
     đường Nam Tiến gánh gồng đi chiều dọc
     mà "phê bình" lại quay ngoắt
    Đèo Ngang !?!

                 
     3- CẢM THƠ LÊN ĐỈNH ĐÈO NGANG
           "Lòng một tấc son còn nhớ nước
            Tóc hai phần bạc vẫn thương thu"
                                    Thơ Hương Sơn

     Thực chẳng  may sinh ra là Người Việt
     ở Miền Trung nắng gió Trời đày
     Qua sông Gianh lại đến duềnh Bến Hải
     máu Việt tuôn thù hận ngút trời mây...
     Ta ở đây mơ sang Úc / Mỹ
     "Thế giới Tự do" được quyền làm Người
     được làm việc dưới Mặt trời chói lọi
     Lao động hết mình và được xả hơi...
     Ta ở đây dẫm chân tại chỗ
     lên Cao Tầng lại ngó xuống chân
     Ôi con "lộ" như đóng băng: xe cộ đứng
     lên đỉnh Đèo Ngang
     ca khúc "4000 năm
     Ta lại là Ta"
     chợt nghe tiếng Gia Gia / Quốc Quốc
     vạch Trời lên
     GÀO
     một tiếng
    Thầm !  (1)

     Hà Nội 15/3/2017
     NGUYỄN KHÔI

    ----

    (1) Đáo địa nhất vô thanh.

Thứ Ba, 14 tháng 3, 2017

TRAO ĐỔI VỚI ÔNG CHU VƯƠNG MIỆN - Lại Quảng Nam


                
                 Nhà biên khảo Lại Quảng Nam


Kính gởi  ông Chu Vương Miện 

1
Trưa nay nằm đọc lại email trên laptop, tôi kinh ngạc về lời trong thư của ông. Phàm khi muốn tranh luận với ai về một đề tài gì thì nguyên tắc chung là chỉ trích xuất các từ trong văn bản đó mà thôi. Vậy mà Ông đã sai ngay từ đầu. Trước khi tôi phản hồi với ông tôi xin nhắc lại hai điều mà tôi cảm  nhận về ông. 

THƯ GỬI ANH LẠI QUẢNG NAM - Phiếm đàm của Chu Vương Miện


             
                   Nhà thơ Chu Vương Miện


                THƯ GỬI ANH LẠI QUẢNG NAM
                                     

Kính Anh!

Rất hân hạnh được đọc bài viết của anh do anh Nguyễn Khôi chuyển lại, không có đầu đề, chẳng qua là nối điêu "tiếp theo bài viết của nhà thơ Quách Tấn"
Qua nội dung của bài viết của anh, chúng tôi ghi nhận được vài điều xin ghi lại để tiện trao đổi :
1- An Chi là " học giả đừờng phố ".
2- Tiến sĩ thời nhà Lê Trần Danh Án là Việt Gian.
3- Xỉ vả không thương tiếc  Ban Giáo Sư Tiến Sĩ đã biên tập và chú giải một cách nhếch nhác về bài thơ này trong Ngữ Văn lớp Bảy (7) mấy mươi năm qua.
4- Các  giáo sư ngày trước (có nghĩa là trước 1975) đã không toàn tâm toàn ý... để hầu như 99% đều đọc là "Rợ mấy nhà".
5- Ngoài ra các lớp đàn anh, họ còn dựa vào Phép Ngụy Biện "Van vái tứ phương".
Đọc xong bài viết của anh Lại Quảng Nam, tôi Chu Vương Miện rất cảm động về tấm lòng yêu nước và tha thiết với văn học Việt Nam của anh, nhưng hoàn cảnh đất nước đổi thay, sách báo miền Nam bị tịch thu và đốt hết, tất cả các tác phẩm của các tác giả miền Nam "in thành sách" đều bị liệt kê vào loại sách Phản Động "cấm lưu trữ và lưu hành". Tôi (CVM) vần C, đứng gần đầu sổ, và trên 200 văn nghệ sĩ bị đi tù, có người đã chết như thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn...
Nhưng bài viết của anh quá ngắn và lại "không trích dẫn "Nhà văn An Chi là Nhà Văn Đường Phố". Nhà văn đường phố là loại nhà văn gì ? Tiến sĩ Trần Danh Án là Việt Gian ? Việt Gian ở chỗ nào ? Việt Gian cho ai ?
Rồi đến các vị soạn sách Giáo Khoa, sau 1954 đến 1975 thì Nam hay Bắc cũng giống nhau, đó là thời kỳ loạn lạc, trường học, lớp học cũng lôi thôi, có nhiều miền trong "vùng giải phóng" phải học ban đêm, dưới ánh đèn dầu.
Chu Vương Miện di cư vào Nam, giữa năm 1954, nhưng đến tháng 12 năm 1955 trường Trung Học Trần Quốc Tuấn Quảng Ngãi mới khai giảng, lý do là trường đang xây cất bị bão làm sập, thầy hiệu trưởng là thầy Nguyễn Văn Nghi, chỉ là giám thị trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang, chỉ có bằng Trung học rồi sửa thành bằng Tú Tài, sau một năm nội vụ bị phát giác thì bị cách chức hiệu Trưởng nhưng lại thăng làm Quận Trưởng quận Tư Nghĩa, giáo sư Hà Như Hy (em ruột của giáo sư Hà Như Chi; anh ruột của bác sĩ Hà Thúc Như Hỷ) về làm hiệu trưởng, lúc đó trường chỉ có duy nhất giáo sư Bùi Đức Chu người Quảng Ngãi, giáo sư Bảo Phốc (người Huế)  và giáo sư Chu Duy Kham (cháu của giáo sư hiệu trưởng trường Nguyễn Hoàng tỉnh Quảng Trị là giáo sư Chu Duy Khánh) là có bằng Tú tài 2, phần còn lại toàn là Tú Tài 1 (tương đương  lớp 11 bây giờ) và các giáo viên tiểu học. mãi đến năm 1958 mới có các giáo sư tốt nghiệp Sư Phạm cấp tốc một năm về giảng dạy cho lớp Đệ Tam (đệ nhị cấp).
Xin bạn Lại Quảng Nam mở lòng từ tâm, mà chấp nhận  đất nước của chúng ta trong hoàn cảnh như thế, loạn lạc gần trọn một thế kỷ! Có chuyện cần làm ngay mà cũng có chuyện làm từ từ, chuyện người trước chưa làm xong thì để cho người đời nay làm. Trước làm sai thì sau sẽ số gắng làm cho đúng.
Theo cách bạn viết thì Học Giả An Chi "câm mồm không dám nói, không dám phản biện với bạn”, vì ngu quá ? Ban soạn sách giáo khoa toàn Tiến Sĩ cũng im luôn.
Suy nghĩ như vậy bạn tự trở thành một thứ Đông Phương Bất Bại, trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, và Độc Cô Cầu Bại trong Thần Điêu Đại Hiệp, không ai dám lên tiếng với bạn, vì họ ngu dốt qúa,hèn hạ quá! Còn những người đã qua đời như tiến sĩ Trần Danh Án và những vị soạn sách giáo khoa mà bạn chê cũng đành ngậm cười nơi chín suối!
Ý kiến của người viết bài này, rất thô lậu quê mùa, bài bạn viết hay những bài bạn đã viết, không ai dám lên tiếng ! Lý do giản đơn như sau :"là trong bài viết về Văn Học, Văn Hóa của bạn có quá nhiều Từ Ngữ "Chợ Búa Hàng Tôm, Hàng Cá & Đường Phố Bến Xe; Vỉa Hè, nên đa số dân cầm bút văn chương "trói gà không chặt" không hiểu là bạn nói cái gì ? bạn viết cái gì ? và bạn chửi cái gì ? và cũng hoàn toàn không đủ chữ nghĩa Hè Phố để bồi đáp bạn, " trao đổi với bạn ", đành chịu thua bạn.
Bạn là dân Quảng Nam, con dân của một miền đất có truyền thống cách mạng, là một nơi Địa Linh Nhân Kiệt,  nhiều Công Thần Danh Tướng, nhiều nhà Nho Lỗi lạc,  nhiều phong trào Văn Thân, Cần Vương, Duy Tân, bạn là một người có ăn học và  có học vị "Cao Học", lại là một người cầm bút nổi danh, chuyển dịch thơ Đường, các bài biên khảo giá trị. Bạn phải giữ tư cách cho bạn, Văn Chương; Văn Học đâu có phải là chỗ đầu đường hay bến xe  để cho bọn Chí Phèo Tung Hoành.
Viết đến đây có lẽ cũng cạn lời, bạn coi kẻ viết những dòng chữ tâm huyết này là thù hay bạn cũng tốt! Dù sao đi nữa thì giữa tôi và bạn cũng có môt thời coi nhau như bằng hữu.
                                                                                                  Kính
                                                                                         Chu Vương Miện

Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017

AI LÀ TÁC GIẢ KỊCH THƠ BÓNG GIAI NHÂN - Hồi ký của Hoàng Cầm


      
                        Nhà thơ Hoàng Cầm

    ĐÍNH CHÍNH NHỮNG NHẦM LẪN TRONG VĂN HỌC
                          Gửi Yến Lan, một nỗi nhớ, một niềm thương
                                                                 Ký tên Hoàng Cầm  

              AI LÀ TÁC GIẢ KỊCH THƠ BÓNG GIAI NHÂN  
                                                                            Hoàng Cầm

  1941 tôi đã chính thức bước vào cái “nghiệp của văn chương” được vài năm. Cuối năm ấy tôi được xem vở kịch thơ đầu tiên công diễn trên sân khấu nhà hát lớn Hà Nội, do nhà đạo diễn Chu Ngọc dàn dựng. Việc được xem một vở kịch thơ tề chỉnh trên sân khấu có chuẩn mực lần ấy với tôi là một bước ngoặc quyết định trong công việc sáng tác kịch thơ của tôi…
.
   Vở kịch thơ ấy có tên là “Bóng giai nhân”. Trong chương trình ghi là hai tác giả Nguyễn Bính và Yến Lan. Với Nguyễn Bính tôi đã quen. Đối với các bậc đàn anh nổi tiếng, tôi coi như cây cao bóng cả. Tôi chưa gặp Yến Lan bao giờ, chỉ biết anh là một thi sĩ đáng kính nể với bài Bến My Lăng, mà anh đang sánh vai đồng hành với đại thụ như Hàn Mặc Tử, Bích Khê…nhóm thơ Bình Định nổi tiếng trong phong trào thơ mới. 

Thứ Bảy, 11 tháng 3, 2017

NGỒI RU VÕNG TÌNH - Bình thơ của Nguyễn Hùng Dũng




    NGỒI RU VÕNG TÌNH 

    Thôi ta phiền muộn lắm rồi
    Đừng lay ta dậy mộng đầu xa xôi
    Đừng môi đừng mắt gọi mời
    Vòng tay ngày đó rã rời nỗi đau

    Bèo mây gặp gỡ đời nhau
    Gió lên con nước trôi mau cuối trời
    Tình vui phút chốc tình rờI
    Ngỡ ngàng bao nỗi cuộc cờ thế gian

   Ta về xếp lại ngổn ngang
   Tạ ơn ai dẫu còn mang mối sầu
   Ta ngồi lặng giữa đêm thâu
   Trời không tháng bảy mưa ngâu sụt sùi

   Tạ ơn ai lần nữa thôi
   Thiên thu giọt lệ đắng môi giả từ
   Bóng ta lẫn bóng sương mù
   Cánh hoa nở muộn ngồi ru võng tình…

                                               Lara Ngo

Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

HỎI ANH - Thơ Nguyễn Ngọc Thìn


     


Người bạn vong niên của La Thụy, anh Nguyễn Ngọc Thìn (1940-1992) lãng du vào miền miên viễn đã 25 năm rồi. Tưởng nhớ đến anh, xin đăng bài thơ HỎI ANH được anh viết trong ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3 năm 1988
      
       HỎI ANH

       Con ta nay đã lớn rồi 
       Cửa nhà cũng chẳng thua người bao nhiêu 
       Chừ đây em hỏi đôi điều
       Yêu con, yêu vợ hay yêu bạn bè

       Rượu chè còn nghĩa phu thê
       Có nên đi sớm về khuya không mình ?
       Bao nhiêu nắng của bình minh
       Bấy nhiêu hạnh phúc cuộc tình đôi ta 

       Anh ơi còn thấy đậm đà
       Còn vui như buổi pháo hoa em về
       Bây giờ nhiều kẻ ngủ mê
       Trong bia rượu với bạn bè hư thân 

       Vì con, em mới ân cần 
       Vì anh, em mới nghĩ gần nghĩ xa
       Nói đi anh… chuyện cửa nhà
       Tương lai : con, vợ, mẹ, cha đang chờ
       Hỏi anh, anh trả lời sao ?

                                   Nguyễn Ngọc Thìn
                                               1988

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

TÁM MƯƠI DƯ - Thơ Hoàng Hương Trang


Tên thật: Hoàng Thị Diệm Phương
Năm Sinh: 1938
Quê quán: Vân Thê - Hương Thuỷ - Thừa Thiên Huế
Tốt nghiệp cao đẳng Mỹ Thuật 1960, Sư Phạm Mỹ Thuật 1961
Nghiên cứu Mỹ Thuật Á châu (Tokyo1963)
Giải thưởng:
- Nam Phương Hoàng Hậu
- Giải hội hoạ vẽ biểu mẫu nhà máy xi măng Long Thọ Huế 1958
- Giải văn học vì trẻ thơ do hội nhs văn việt Nam tạp chí vì trẻ thơ và Uniceff tổ chức 2000 - 2001 (Hà Nội)
Cựu giáo viên các trường trung học, cựu giáo sư trường Đại học Mỹ Thuật Sài Gòn TP. HCM
Tác phẩm: 6 tập thơ từ 1964 - 2002
In chung trên 30 tuyển tập thơ văn trong và ngoài nước
Có tên trong thi nhân Việt Nam thế hệ 1954 - 1973


     TÁM MƯƠI DƯ
       (Quý tặng La Thụy)

     Ngó lên, ta thua người trăm tuổi
     Nhìn xuống, tớ hơn lũ bảy mươi.
     Mắt không mờ
     Tai không nghễnh
     Răng không rụng
     Lưng không còm
     Tự hào “tứ quý” trời cho.
     Thơ hơn chục cuốn, vạn bài
     Văn ngoài dăm quyển, ngàn trang
     Họa sáu mươi niên, dư vài trăm bức
     Nhạc điểm xuyết mấy khúc ca.
     Ngâm nga gần bảy chục năm, Tao Đàn nổi tiếng
     Hát hò chưa ca sĩ, bạn bè vẫn vỗ tay khen.
     Ghét bonsai, cây thiếu đất
     Chê chim cá, cảnh chậu lồng
     Không chơi non bộ, trò núi giả
     Chỉ thích rừng sâu biển cả
     Chỉ ngắm cá nước chim trời.
     Đoạt bảy giải thưởng suốt đời, gồm đủ Thơ Văn Nhạc Họa
     Hỏi ai kẻ bằng ta?
     Sống tám chục năm qua, hiếm khi bệnh tật.
     Tình một mối hẹn hò, trải dài ba kiếp tái sinh
     Nhà một mái đơn sơ, đi về tự do tự tại.
     Tiền không tỉ phú, nhưng “hồ hết lại có, hồ vơi lại đầy”
     Túi chưa bao giờ rỗng đáy
     Đời chẳng lên xe xuống ngựa
     Mà chân đi khắp mọi miền, Bắc Trung Nam đều bước tới.
     Tuổi tám mươi dư, không còn gì hơn ở kiếp này
     Kỳ vọng Nợ Duyên kiếp sau tròn mộng.
     Bạn bè khắp năm châu bốn biển, tính đến vạn kẻ thân quen
     Học trò trong nước ngoài nước, đếm quá ngàn, tình thân chí thiết.
     Giao lưu cuối đất cùng trời, từ Âu sang Á…
     Cũ mới mọi thời
     Hẹn ước chỉ một người, ngự trong tim vĩnh viễn.
     Đầu xuân Đinh Dậu, nghe gà gáy, gẫm lại đời mình
     Làm thơ tặng mình, mình đọc cười chơi
     Xuân sang nâng chén soi gương
     Tóc bay bạc trắng, ta rót ta say túy lúy.
     Chắp tay cám ơn Trời Phật
     Cho ta dư tuổi tám mươi
     Cúi đầu tạ ơn Tiên Tổ
     Đã ban tài nghệ vẹn toàn ngoài mơ ước.
     Kiếp này tạm mãn nguyện rồi
     Xin hẹn kiếp sau sẽ hơn thế nữa

    Đầu xuân Đinh Dậu, Sài Gòn 2017
    Mừng tuổi Đinh Sửu, 81 mùa xuân

    HOÀNG HƯƠNG TRANG
    ĐT: 0164 7588407

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

QUAN HOÀI - Xuân Ly Băng, La Thụy


                

Ôi! Đêm Bê - lem rạng ngời tinh tú, các tầng trời vang vọng tiếng hoan ca. Nhưng hỡi ôi! Sao chiều Núi Sọ lại buồn đau chất ngất? Mặt đất thảm sầu run rẩy, như sụp nứt theo hố huyệt bi thương. Chúa ơi! Lòng con lịm tím “quan hoài


         
                                 Thơ: Xuân Ly Băng.
                                 Giọng ngâm: La Thụy.


                                  QUAN HOÀI

                   Đây Bê - lem nhắn về chiều Núi Sọ
                   Vươn tay dài riết chặt lấy tình thương…
                   Tình một trời bát ngát tựa thiên hương,
                   Thu gọn lại? đành thở dài bất lực!

                   Bê - lem sầu… trăng sao ngồi thổn thức
                   Ước một giờ vạn kỷ có như không!
                   Khi sương đêm run rẩy trên cánh đồng,
                   Còn nghe thấy cung buồn hoa cỏ dại…

                   Sầu Núi Sọ từ bao năm tê tái,
                   Vỡ ngọc rồi luyến tiếc bạc đầu non!
                   Ai qua đồi vào những buổi hoàng hôn
                   Nghe tiếng khóc rên từng hòn đá nhỏ!

                   Bê - lem ơi! Tím chiều lên Núi  Sọ
                   Hỏi ân tình còn chút nữa dư hương
                   Đá lạnh lùng không đáp nữa ca thương,
                   Bên sọ trắng từng chồng cao ngất nghểu!

                   Và Núi Sọ bao đêm trường hắt héo
                   Cổ quan hoài nghiêng xuống hỏi Bê - lem
                   Sáng tìm trời còn giữ nữa không em
                   Sao khuya ấy có khi nào xuất hiện?

                   Vòng trời đất đã hơn một lần biến chuyển
                   Nhạc ân tình trên tháp trắng reo cao…
                   Đêm lẫn chiều không với được vì sao
                   Đang thiêu đốt đến tận cùng thiên địa

                                                XUÂN LY BĂNG

THƠ TÌNH BÊN SÔNG – NỖI ĐAU XÉ LÒNG - La Thụy


    Hồ Quang - bạn TRUNG HỌC BÌNH TUY - đã thành người thiên cổ. Sinh thời, vào lúc cuối đời, Quang sống lang thang, cơ cực. Anh gửi tâm trạng u uất vào sáng tác thơ văn và gửi đăng trên tạp chí Văn Nghệ Bình Thuận, báo Bình Thuận với bút danh Hoài Quang. Nhân mùa Phục Sinh, La Thụy đăng lại bài mình viết về tập THƠ TÌNH BÊN SÔNG của Hoài Quang, như thắp lên nén nhang lòng tưởng niệm người bạn giang hồ hiện giờ chắc đang lãng du vào vùng trời miên viễn


                    


         THƠ TÌNH BÊN SÔNG –  NỖI ĐAU XÉ LÒNG 

                    “Quân tại Tương giang đầu 
                     Thiếp tại Tương giang vĩ
                     Tương tư bất tương kiến
                     Đồng ẩm Tương giang thủy”    
                                                         
     Những câu thơ cổ chợt hiện về trong tôi – như tiếng thở dài não nuột của đôi lứa yêu nhau da diết, mà đành cách trở đôi dòng, người đầu sông kẻ cuối bãi, ngậm ngùi trông nhau luyến nhớ - khi đọc THƠ TÌNH BÊN SÔNG của Hoài Quang .
     Người xưa, dù vời vợi ngàn trùng cách biệt vẫn  được diễm phúc “ đôi bên “ cùng đẫm lệ, hướng mặt gởi tấm lòng son sắt về nhau. Người nay, bi thiết hơn, con sông Dinh, đôi bờ hẹp nhỏ, cách nhau chỉ một chuyến đò ngang, chỉ bằng nửa tầm tay với,  thế mà "riêng ai" lại quặn lòng, đau đáu dõi trông. Ôi ! "Cái gần gụi tấc gang ấy là cái gần gụi muôn đời không hội điểm của hai con đường sắt" (Mai Thảo). Biết làm sao, khi :

                Ta đi em ở lỡ làng
                Mới hay khuya đã sang ngang cùng đò  

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2017

TRAO ĐỔI VỚI THẠC SĨ LẠI QUẢNG NAM - Phiếm luận của Chu Vương Miện


        
             Nhà thơ Chu Vương Miện


                      MA MỊ
          (Trao đổi với Thạc Sĩ Lại Quảng Nam)

Được biết anh, chưa tới 25 tuổi đã tốt nghiệp Cao học. Bây giờ sau 42 năm, chúng ta còn may mắn sống sót qua cuộc "kim kiếm điêu linh" thật là mừng. Xin trao đổi về từ Ma Mị, theo anh thì từ Ma không có nghĩa nào Tốt Đẹp cả.
Chu Vương Miện chỉ Thống Nhì với anh ở quan niệm này mà thôi, không thể thống nhất được. Nếu dùng từ Nhất Trí thì cũng chỉ là Nhất Trí Thôi, chớ không Nhất Trí Cao được.
Mở vài trang ở vài cuốn tự điển, thì Chu Vương Miện thấy như sau :
- Ma là một loại cây có vỏ, có thể tước ra phơi khô, xe lại thành dây để cột (như cây gai còn có tên là cây tầm ma, cây trữ ma)
- Ma có nghĩa là cha, các Hoàng Tử con của vua Khang Hy gọi Ngài là Hoàng A Ma, còn Hoàng A Nương Là Mẹ, là Hoàng Hậu"
- Ma thuật là chiến thuật tác chiến quân sự, khi ẩn khi hiện, làm cho quân địch không biết đâu là thật đâu là giả để dành lấy thắng lợi.
Chữ để diễn đạt nghĩa, không có từ nào chỉ để diễn tả cái xấu, và cũng không có từ nào chỉ để diễn tả cái đẹp ?
*
Từ MA MỊ mà nhà văn Lê Mai choàng vào thơ của nhà thơ Nguyễn Khôi, là quyền của nhà văn Lê Mai, còn đúng được bao nhiêu phần trăm lại là phần chung của người đọc, chứ không có nghĩa là ai cũng giống như nhà văn Lê Mai. Chúng tôi không có ý khen hay chê mà chỉ tham gia vào giải nghĩa từ chữ mà thôi.
Anh Lại Quảng Nam có đề cập tới Mị Nương và Mị Châu là hai Mỹ nhân có mang từ Mị, (hình như để trả lời riêng với bạn Phú Đoàn) mà không đề cập chi nhiều tới từ Ma. Vậy trước khi đi tới diễn giải từ Mị, chúng tôi xin lạm bàn về từ Ma trước.

MA
Ma Thiên Lãnh là một Ải tối quan trọng của nước Đông Liêu, tức là nước Cao Ly, vào thế kỷ thứ 7, thì Sử Trung Hoa còn chưa mở mang, họ cũng không biết nước Cao Ly là nước nào, mà họ chỉ biết nước Liêu ở Phương Bắc, tiếp giáp với Sơn Hải Quan của tỉnh Hà Bắc "bây giờ là Bắc Kinh" gần với sông Áp Lục mà qua sông này là nước Cao Ly, mà nằm về phía Đông của nước Liêu, nên họ gọi là Đông Liêu  (tức là nước nằm về phía Đông của nước Liêu). Ải Ma Thiên Lãnh là một vị trí chiến lược quan trọng vào bậc nhất, bên cạnh núi là vực thẳm của biển cả, vì nếu chiếm được Ải Ma Thiên Lãnh thì chỉ đi chừng 50 dặm nữa là đến một vùng mỏ vàng Lộ Thiên  Kim Ô, tha hồ mà tiếp thu, đó là lý do nhà Đại Đường mang quân chinh phạt nước Cao Ly. Lý do phụ là chậm ngày Cống Phẩm, đáng lẽ phái đoàn đi về phía Tây đến Lạc Dương, Hà Nam thì lại đi về hướng đông. Còn lý do chính là nước Cao Ly (Đông Liêu) có mỏ vàng lộ thiên, cứ xúc mang về nấu lỏng ra đổ vào khuôn là mang ra xài thoải mái, không phải mất nhiều sức lao động chi cả. Thành ra cứ thường xuyên lấy cớ mang quân sang chiếm "dạy cho bài học nhớ đời". Cứ bổn cũ soạn lại, đi Tiền Phong là các bạn Hỏa Đầu Quân dưới quyền Nguyên Soái Tiết Nhơn Quý, khi thành công thì toán này đi chỗ khác chơi, mà dành cho Lỗ Quốc Công Trình Giảo Kim với mấy chục chiếc xe goòng, cấp kỳ ngày đêm khuân vàng ròng lên xe, rồi chuyển xuống thuyền mang về nước Tàu. Càng học cho đến khi Mỏ Vàng Lộ Thiên hết ráo, thì người Hán không còn mang quân dạy cho nước Đông Liêu một bài học nào nữa.
- Đơn Kiếm Diệt Quần Ma là tác phẩm kiếm hiệp Chưởng cùng môn phái với đại văn hào Trà Lương Cấm Dùng.
- Lục Chỉ Cầm Ma cũng giống như trên, nhưng có xuất xứ từ pho Lục Mạch Thần Kiếm, dùng 6 đường chỉ lực để giữ con Ma lại không thì sợ con Ma biến mất!

MỊ
Thời Hùng Vương con trai Vua được gọi là Lạc Hầu (văn) và Lạc Tướng (võ), con gái gọi là Mị Nương tức Công Chúa. Vào thời Nhà Thục thừa kế nhà Hùng Vương thì gọi khác đi, con gái là Mỵ Châu. Nếu xét về từ chữ thì Mị Nương đã sai rồi , bài thơ ca dao truyền khẩu như sau :

Ngày xưa có anh Trương Chi
Người thì thậm xấu hát thì thậm hay 
Cô Mị Nương vốn ở lầu tây
Con quan Thừa Tướng ngày rầy cô cấm cung 
                                          (Lời ca dân gian) 

Như trên đã dẫn, từ Nương chỉ để dành cho con Gái nhà Vua  mà thôi (như Công nương Diana), còn con quan Thừa Tướng ai cho phép được gọi là Nương (Mị)?
Thôi bỏ qua chuyện này, chúng tôi trở lại với từ Mị, Giai nhân Mị Nương được chàng Ca Nhạc Sĩ Trương Chi ngưỡng mộ, còn Trương Chi thì cũng được ngưỡng mộ lại, nhưng khi gặp nhau thì kết quả không ra cái gì! Chàng Ca Nhạc Sĩ ôm mối tình tuyệt vọng mà thác, thân xác thì tan thành cát bụi để trộn với vôi xây lâu đài, còn trái tim thì được đục đẽo cải tạo thành cái ly uống nước trà, mỗi khi nàng Mị Nương uống trà thì hình ảnh anh chàng thuyền chài nghèo khổ mặt rỗ mắt toét, xuất hiện trên ly trà, và tiếng hát xa xưa vọng về. Mị Nương thương cảm rớt nước mắt trên ly nước, sau đó thì nước và ly nước tan ra thành nước hết.
Mị Châu là con vua Thục An Dương Vương, vì mắc vào Kế Nam Nhân nên thân bại danh liệt và bỏ của chạy lấy người. Chạy đến chân núi Mộ Dạ thì thần Kim Qui hiện lên và phán ngay rằng : "Giặc sau lưng nhà ngươi đó", thế là An Dương Vương bèn rút kiếm, chém một nhát cô con gái cưng Mị Châu đi đời nhà ma! Máu của Mị Châu từ cổ chảy lênh láng xuống biển, các loài nhuyễn thể như con trai, con sò, uống phải nên kết tinh lại thành những viên ngọc trai tuyệt đẹp tuyệt đắt giá.
Phần trên là trái tim của chàng Trương kết thành khối Ngọc Người. Phần dưới thì máu Mị Châu kết thành Ngọc Trai.
Ma Mị có nghĩa chung chung là mối tình lâm ly bi đát, có thể mang diễn thành tuồng tích hay soạn thành phim truyện để chiếu thành cinema.
Và người viết này tức Chu Vương Miện đang chờ Thạc Sĩ Lại Quảng Nam chỉ bảo cho đôi điều phải quấy.
                                                                                          Kính!
                                                                                Chu Vương Miện 

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2017

TRAO ĐỔI VỚI HAI ÔNG NGUYỄN BÀNG VÀ NGUYỄN KHÔI - Phiếm luận của Chu Vương Miện


          
               Nhà thơ Chu Vương Miện


TRAO ĐỔI

Kính gửi Huynh Nguyễn Bàng & Huynh Nguyễn Khôi.
Tiểu đệ đã đọc bài viết của Hai Huynh nặng về Ngôn Ngữ Học "kèm theo Thư Mục hoàn chỉnh của một thời quá độ mà giá trị thực tiễn không còn lại bao nhiêu" vì thời gian qua quá mau và quá nhanh, mọi sự mọi chuyện đã thay đổi, tiểu đệ mang tâm trạng của nhà thơ Phùng Quán để trao đổi với hai huynh, mục đích là tìm học tận cùng cái đích của sự hiểu biết :

           Hỡi cô bạn sinh viên trường đại học 
           Vẫn cùng tôi luận luận bàn bàn
           Kiến thức hai ta dù góp lại 
           So với đời chỉ độ tấc gang ?
                        (Thơ Phùng Quán)

Xin được vào đề ngay, từ "Ma Giáo" hay "Tà Ma Ngoại Đạo" đa số chúng ta hiểu theo những bộ trường giang tiểu thuyết dã sử của Đại Văn Hào Kim Dung (được chế độ Hoa Lục công nhận là bốn vị Đại Văn Hào số 1 của Trung Quốc thời cận đại, Kim Dung chỉ đứng sau Lỗ Tấn và đứng trước Ba Kim, còn một vị thứ tư nữa thì tiểu đệ quên mất), những điều tiểu đệ trình bày ở đây là hoàn toàn có tham khảo vài vị "Sa Môn" và "Tỳ Khưu" kiến thức đã được cập nhật mới toanh.
- Tà Ma Ngoại Đạo có nghĩa là đạo từ bên ngoài truyền vào nước Hoa Lục  từ cuối thế kỷ thứ 5 đầu thế kỷ thứ 6 là Phật Giáo Thiền Tông, thời kỳ sau nhà Đông Tấn đến Nam Bắc triều, Hỏa Giáo thì truyền vào đầu thời nhà Bắc Tống thế kỷ thứ 11, Tà theo người miền Tây Nam Bộ và người Việt gốc Miên có nghĩa là Ông Thần.
Ma thì đúng là có tới 28 nghĩa như Huynh Nguyễn Bàng đề cập ở trên, nhưng ở bài này thì tiểu đệ diễn giải theo sự hiểu biết của tiểu đệ, theo Phạn Ngữ (Pali) thì :
- Bồ Đề Đạt Ma, chữ Đạt Ma ở đây có nghĩa là người đã đạt tới cảnh giác Ngộ Đạo, chấp pháp.
- Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị Phật Sống "Hoạt Phật" ngang hàng với Ban Thiền Lạt Ma, vị Phật Tái Sinh.
Tà Ma có nghĩa là Ông Thần hiện đang còn sống, có phép mầu nhiệm cứu nhân độ thế, có nghĩa là một vị giáo chủ có võ công tuyệt luân như Trương Vô Kỵ dùng tuyệt học " Càn Khôn Đại Na Di Tâm Pháp" ghi trên tấm da dê cất dấu trong hang Quang Minh Đỉnh và bí quyết ghi trên sáu thanh Thánh Hỏa Lệnh, thắng được Lục Đại Môn Phái của Trung Thổ là Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân, Không Động và... Sau Trương Vô Kỵ trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký thì tới Đông Phương Bất Bại với tuyệt học "Quỳ Hoa Bảo Điển" một phó bản của "Tịch Tà Kiếm Pháp" và Nhậm Ngã Hành giáo chủ Nhật Nguyệt Thần Giáo với đại công phu "Hấp Tinh Đại Pháp".
Nội Giáo của người Trung Quốc, cơ bản là Đạo Khổng và Đạo Lão Trang, Đạo Khổng là một đạo nặng về Luân Lý làm người công dân, trung với nước, hiếu với vua "Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung" hoặc Quân, Sư, Phụ, làm công dân thì phải tôn trọng Vua, rồi tới Thầy sau cùng là Cha.
Quan niệm nhân sinh là như thế, từ mấy ngàn năm rồi.  Thờ Trời, mà Hoàng Đế tức là Vua, là con Trời (Thiên Tử), khi không bây giờ xuất hiện một thứ Tôn Giáo du nhập từ bên ngoài vào mà chủ trương chỉ thờ Thần Linh mà thôi. Quan niệm này nó "chõi" với chế độ phong kiến đang lưu hành lúc đó, nên bằng mọi cách bị giai cấp thống trị liệt vào dạng Ma Giáo để tiêu diệt, chả hạn giặc Phương Lạp du nhập vào từ thời Bắc Tống có ngưồn gốc từ Ba Tư  (Iran) có tên là Mani giáo, truyền sang Trung Quốc chuyển thành Minh Giáo tức Hỏa Giáo chuyên ăn chay, thờ Ma (Thần) không uống rượu, không ăn thịt, không tà dâm, y như bài "Hỏa Ca":
Sống chả có gì vui, chết chả có gì buồn, hãy mang thân xác này đốt ra tro .
Giặc Phương Lạp là giặc chuyên dùng một cái thau bằng đồng để cỏ khô thơm vào đó, rồi đốt cho khói bay lên trời, còn tín đồ thì đứng thẳng người, hai tay dơ lên mà hát Hỏa Ca, bên cạnh là những dẫy đèn cầy, Phương Lạp là tên gọi của giáo Phái đầu tiên của Minh Giáo, sau đó thì chuyển thành Nhật Nguyệt Thần Giáo (vì chữ Minh vốn là hai chữ Nhật Nguyệt ghép lại), sau đó thì một bộ phận cùng giáo phái khác tông là Di Lạc Tôn, ở Tứ Xuyên thì có một bộ phận khác là Xí Hỏa Giáo và ở Vân Nam thì có một chi phái là Ngũ Độc Giáo.
Bài trao đổi lần thứ hai này, xin tạm kết thúc nơi đây. Rất mong là chúng ta còn trao đổi dài dài. Cả một rừng sách,tha hồ mà tham khảo, tha hồ mà trao đổi, anh em ta ở không, "đáp lời sông núi", tiểu đệ sẵn sàng bồi tiếp hai huynh
                                                                                         Kính.
                                                                             Chu Vương Miện

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

TRAO ĐỔI VỀ KHẨU NGỮ "MA MỊ" - Nguyễn Khôi


    

   Thân gửi : Các Bạn thơ...

                              TRAO ĐỔI VỀ KHẨU NGỮ "MA MỊ"
             
  Theo Từ điển Hoàng Phê thì "Ma mị" là khẩu ngữ, tương tự như "ma giáo"...mà "Ma giáo = gian giảo , bịp bợm. Đó là thời điểm Tiếng Việt năm 1987, cách nay đã 30 năm  (thời kỳ CHXHCN Việt Nam đang bị "cấm vận"/ và cũng tự "đóng cửa" ; bị cô lập & tự cô lập mình ! ?). Đến nay công cuộc "đổi mới" - mở cửa cũng đã ngót 30 năm (1 thế hệ đời người) Tiếng Việt là "sinh ngữ" được Người Việt "vượt biên"/ xuất khẩu lao động / đi học ở nước ngoài giao lưu/ sử dụng khá rộng rãi nên nhiều "từ"/ thuật ngữ  cũng thay đổi ngữ nghĩa không còn  như "từ gốc "ban đầu nữa . Riêng từ "ma mị", hiện đang được các Nhà Báo, Nhà văn dùng trong nhiều trường hợp với ý nghĩa "đẹp/ huyền diệu"...xin ví dụ :
*1- Người đẹp Lâm Thùy Anh (1m75) với vẻ đẹp ma mị quyến rũ sắc đỏ : với bộ sưu tập sắc đỏ phù hợp với ý tưởng Đạo diễn đề ra, tôn lên sắc vóc đẹp xứng tầm siêu mẫu thế hệ mới Lâm Thùy Anh... Khán giả sẽ bị thôi miên từng thước hình sắc đẹp rực rỡ chiều hoàng hôn mà Lâm Thùy Anh biến hóa ma mị xứng tầm 1 tài năng siêu mẫu thế hệ mới. Nguồn : http://Ngôi sao.vn
*2- Ma mị là điều huyền  bí
*3- Sửng sốt bộ ảnh ma mị mà ám ảnh của Nhiếp ảnh gia tài năng gây ấn tượng cho người xem ngay từ cái nhìn đầu tiên ( huyền diệu / siêu nhiên)
*4- Ma mị = sức hút làm mê đắm.
*5- Ma mị : làm mê muội, quyến rũ.
*6- Nói về cô Phượng Hàng Ngang: nàng là "Tây Thi phố cổ" mang vẻ đẹp ma mị (xem Truyện "mồ cô Phượng ")
*7- Ma mị : bí ẩn, nhiều tầng nghĩa sâu sắc.
*8- Film "có yêu nhau" kể chuyện tình ma mị, ám ảnh
*9- Thung lũng Ma Thiên Lãnh ở Tây Ninh: đẹp ma mị và hoang sơ.
*10- Qua vùng Thủy Tiên- một thoáng ma mị trong lòng xứ Huế mộng mơ.
*11- BST tung MV ma mị : nhạc chất chẳng kém gì USA- UK !
*12- Say đắm trước vẻ đẹp từ đáng yêu đến ma mị của nàng "Sam Sam" Triệu Lệ Đĩnh (Film Hoa ngữ)
*13- Vẻ đẹp ma mị nơi tận cùng thế giới : nơi đây cuốn hút bởi vẻ đẹp ma mị đày bí ẩn khó lòng giải thích được ở Chi lê và Argentina.
*14- Vẻ đẹp ma mị kiêu sa của hot girl trường Đại học Điện ảnh. V.v...
  Sơ bộ kết luận : "từ"(ngữ) MA MỊ dùng theo "thì hiện tại" nó có thể giải nghĩa là :
       1/huyền bí, quyến rũ, ám ảnh
       2/ sức hút làm mê đắm
                     
 Kính các Bác, các anh, các chị xem xét... có điều  gì bất cập, xin được chỉ giáo nhằm  hoàn chỉnh giải nghĩa từ "ma mị" ?

                                                       Làng Mọc Quan Nhân (Hà Nội) 24-2-2017
                                                                    Kính bút : Nguyễn Khôi

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2017

TRAO ĐỔI VỀ CÁC TỪ 'XÁCH MÉ", "MA MỊ" - Phiếm luận của Chu Vương Miện


         
               Nhà thơ Chu Vương Miện


                 TRAO ĐỔI VỀ CÁC TỪ 'XÁCH MÉ", "MA MỊ"
                                                                       Chu Vương Miện

Cùng các niên trưởng Nguyễn Bàng, Nguyễn Khôi, các thân hữu Châu Thạch, Phạm Đức  Nhì, nhà thơ Lê Mai, tiến sĩ ngữ học Nguyễn Ngọc Kiên... Toàn là những người quen cả.
Trong thời gian vừa qua,Chu Vương Miện phần thì tang gia bối rối, phần đau, máy vi tính thì bị " Sự ông Cố ", muốn lên tiếng minh họa nhưng không được. Nay tạm ổn nên có đôi dòng viết huề vốn là không khen ai, và cũng không chê ai, mà chỉ xin được giải nghĩa hai từ  :
1. Xách mé
2. Ma mị
Đầu đuôi cũng do hai từ này mà ra!
1. Xách mé :
- Là danh từ cũ cùng thời với từ cái trống Cổ, con vịt Cồ, Cổ và Cồ đều có nghĩa là Lớn, y như con Trâu Mộng vậy, ngoài ra còn chữ Kếch Xù nữa .
Ví dụ như chúng ta VÁC trên vai "ba lô, gùi, bó mía, bó rơm. Hai tay BƯNG nồi cơm, hai tay bưng chiếc mâm (dùng 2 tay). Nhưng XÁCH thì chỉ dùng 1 tay mà thôi (tay phải hay tay trái tay nào thuận) như xách va ly, cặp táp, xách đèn (đi câu ếch).
Nhưng dùng 1 tay để XÁCH đồ vật có chứa nước thì thường là nước chảy ra lênh láng, như xách cái nồi có nước, hay xách cái chảo có nước, ý nói là không hoàn chỉnh "không hoàn hảo"
2 Ma Mị :
Ma có nhiều nghĩa, nhưng giải cho nó đúng theo cái nghĩa của tác giả Lê Mai thì Ma có nghĩa là Con, chúng tôi ở miền Tây Nguyên bốn năm, có biết đôi chút về tiếng Rhade "Ede" và tiếng Chăm. Nguyên chữ ban đầu là A Mỉ Ma Thuột rồi chuyển đến là Buôn Thuột, rồi Buôn Ma Thuột, người Kinh Việt sửa lại thành là Ban Mê Thuột. Ban Mê Thuột là do người Việt sửa cho nó thống nhất, chứ thực ra không có ý nghĩa gì cả. A Mỉ Ma Thuột là quận nội thành, còn tên chính thức địa phương của tỉnh là DakLak, người Pháp cố sửa chữ Ê Đê có nguồn gốc giống người Pháp, là DacLac có nghĩa là cái nơi có Sông và Hồ
Bây giờ xin trở lại địa danh "A Mỉ, Ma Thuột" có nghĩa là " Bà Mẹ, Con Thuột". Bà mẹ thì rõ ràng là đàn bà, nhưng Ma Thuột chỉ có nghĩa là Người Con "không nam và không nữ " cũng như Người Tây Nguyên gọi :
- Ma Gà, Ma Chó có nghĩa là Con Gà, Con Chó không phân biệt gà lớn hay gà nhỏ, Gà Đực hay gà Mái, khi mang ra chợ bán,thì giá đồng hạng, gà trống nặng chừng 2-3 ký lô giá 1 đồng, gà mái nặng từ 1 đến 2 kí cũng 1 đồng và gà con bằng nắm tay cũng giá 1 đồng, và chỉ mua một con, trả tiền xong thì mua tiếp con thứ hai,
chứ mua một lúc hai con thì ngừơi Tây Nguyên không bán, lý do là trong số đếm họ chỉ có số duy nhất số Một (1) mà thôi.
MỊ : ngủ thì nằm mộng, nhưng thức thì hết mộng
          "Khi tỉnh rượu lúc tàn canh 
           Giật mình mình lại thương mình xót xa"
                                                              (Kiều)
Còn Mơ thì có thể không cần phải ngủ, thức cũng được, như trường hợp cô Bê Rét trong truyện của La Fontaine, cô này đầu đội bình sữa bò ra chợ bán chừng 5 lít, cô vừa đi vừa nghĩ bán xong cô sẽ mua một bầy gà con, rồi gà lớn cô bán đi... nhiều tháng cô để dành mua một con Bê, con Bê lớn thành con Bò cho nhiều sữa, tha hồ mà sung sướng, nghĩ tới đó thì cô vui mừng quá bèn nhảy lên, làm bình sữa đổ mất .
MỊ theo học giả Phạm Quỳnh khi phê bình thơ của cụ Tản Đà thì như sau : "Những người mắc bệnh MỊ thì cứ có cảm tưởng mình là Trích Tiên, hay Lý Thái Bạch bị trời đầy xuống trần gian, cứ rượu vào là trăm lần y như một, giống như có nhiều Diễn Viên (kép hát) thủ diễn xong vai tuồng trên sân khấu, trở về đời thường có nhiều người còn nhập vai có khi vài tháng sau mới hết, có người thì nhập vai luôn"
Vậy Ma Mị có nghĩa là một người được xếp vào loại không là Nam  và không là Nữ, thuộc vào loại Ma như Ma Gà... và MỊ là bị bệnh tưởng  na ná giống bệnh Mộng Du vậy!
Ma Mị có nghĩa là : " Nó bị bệnh MỊ "
Đây chỉ là ý kiến của "Cá Nhân" ? Vậy còn ý kiến của "Thịt Nhân" như thế nào ? Kẻ viết bài này xin lắng tai được nghe được chỉ bảo.

                                                                                Chu Vương Miện

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017

TRAO ĐỔI VỚI CHÂU THẠCH - Phạm Đức Nhì


             
                      Anh Phạm Đức Nhì 


   TRAO ĐỔI VỚI ANH CHÂU THẠCH

Về “sức ma mị” trong thơ Nguyễn Khôi.
Cả anh Châu Thạch và bác Nguyễn Bàng đều tra tự điển và đều cho rằng hai ông Lê Mai và Nguyễn Ngọc Kiên có ý xấu khi gán cụm từ “ma mị” cho thơ NK.
Đầu tiên là anh Châu Thạch:
Trước hết tôi tra tự điển hai chữ “ma mị” và thấy giải thích như sau: Ma mị (khẩu ngữ) như ma giáo. Sau đó tôi tra tiếp chữ “ma giáo” và thấy giả thích như sau: Ma giáo (khẩu ngữ) xảo trá bịp bợm.
Sau đó là bác Nguyễn Bàng:
Tôi có cảm giác đây là một lời khen đểu mà đểu nhất ở cái từ “ma mị” bởi ma mị không chỉ như từ điển diễn giải giống như “ma giáo” mà nó còn bao hàm 3 yếu tố: Kích thích nhẹ, quyến rũ nhẹ và kinh dị nhẹ….
Và nếu đúng thế thì, nhận định ấy không chỉ coi nhẹ thơ Nguyễn Khôi mà còn coi thường người đọc thơ Nguyễn Khôi và đặc là những người yêu thích thơ ông là những người không hiểu nhiều gì về nghệ thuật thi ca mà chỉ là những người rất tầm thường, bị cuốn hút bởi những tiếng thơ như tiếng hồn ma ấy chả khác gì những kẻ sợ ma nhưng thích nghe truyện ma,
Tôi cũng tra mấy cuốn tự điển rồi dạo internet vài vòng và tìm được khá nhiều cách dùng chữ “ma mị” không xấu như anh Châu Thạch và bác Nguyễn Bàng đã đưa ra để chỉ trích hai ông Lê Mai và Nguyễn Ngọc Kiên. Xin cử ra vài chỗ:
Chất ma mị trong giọng hát của Lana Del Rey
https://www.facebook.com/YeuNhacTiengAnh/posts/238446172974157
Nổi da gà trước giọng hát ma mị của Miu Lê
http://tiin.vn/chuyen-muc/nhac/noi-da-ga-truoc-giong-hat-ma-mi-cua-miu-le.html
Ngỡ ngàng trước vẻ đẹp ma mị của Krystal (f(x)) trong MV hợp tác với thành viên ban nhạc Indie
http://tinnhac.com/ngo-ngang-truoc-ve-dep-ma-mi-cua-krystal-f-x-trong-mv-hop-tac-voi-thanh-vien-ban-nhac-indie-94358.html
Theo tôi “giọng hát ma mị”, “vẻ đẹp ma mị”, “thơ NK có sức ma mị” là những lời khen “đắt giá”, ý nói giọng hát của Lana Del Rey, Miu Lê, vẻ đẹp của Krystal hay thơ Nguyễn Khôi có khả năng xâm nhập và (đôi khi) chiếm đoạt tâm hồn người nghe, người xem, người đọc một cách phi logic – không thể giải thích được.
Nếu sự tra cứu và giải thích của tôi đúng với tâm ý của hai ông NNK và Lê Mai (tôi hy vọng là như vậy) thì khi viết câu “nó có sức ma mị” (ông Lê Mai viết, ông NNK trích dẫn) cả hai ông đều nghĩ là đang trao tặng nhà thơ NK một bó hoa hồng tươi thắm, nhưng qua sự phân tích của anh Châu Thạch và bác Nguyễn Bàng, bó hoa hồng đã biến thành một rổ cà chua trứng thối. Thật bẽ bàng cho cả người trao tặng lẫn người đưa tay đón nhận.
Dù có đúng như thế, tôi vẫn nghĩ đây là lỗi kỹ thuật trong sạch. Cả anh Châu Thạch và bác Nguyễn Bàng đều không có ác tâm, ác ý trong chuyện này.

ĐI TÌM BẾN MY LĂNG TRONG THƠ YẾN LAN - Hồi ký của Lâm Bích Thủy


                       
                              Nhà thơ Yến Lan


                       ĐI TÌM BẾN MY LĂNG TRONG THƠ YẾN LAN

Không biết tự bao giờ cái không gian mơ, thực đầy tình người của một bến sông tên là Bến My Lăng đến và lắng lại trong tôi...? Phải chăng một sáng nọ, khi tôi học lớp 10, thấy ông anh họ hí hoáy vẻ trên sổ tay cái tựa của một bài thơ là Bến My Lăng. Chữ Bến My Lăng anh viết bằng bút máy Trường Sơn, nét chữ thanh mảnh, mực xanh mờ dần rất nghệ thuật. Xa xa anh vẻ vài bụi cỏ có hoa nở đỏ li ti lã lướt …tôi thấy thinh thích; nhưng không biết mình thích nỗi gì?! chỉ nói: “Anh viết đẹp nhỉ!” Anh cười và hỏi: “Em biết bài thơ này của ai không?”. "Không"- tôi trả lời gọn lỏn. Vì lúc ấy bạn ơi, tôi không quan tâm đến công việc của cha mình - nhà thơ Yến Lan - đâu. Rồi sau đó, tôi lại được nghe chị cùng cơ quan - người Huế kể: "Bài thơ của ba em, trước đây, ở Huế, có một họa sĩ rất mê, anh ta đã thể hiện hình ảnh về cái Bến My Lăng bằng bức tranh vô cùng nên thơ, và lãng mạn! Bức tranh ấy hiện có thể ở đâu đó trong nhà của một gia đình thuộc dòng dõi quan lại ở Huế".  
 

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

MÊNH MANG XUÂN RẰM- Thơ La Thụy


             

                  MÊNH MANG XUÂN RẰM 
                  Rằm giêng vằng vặc ánh tơ ngần
                  Lấp loáng đào mai óng sắc xuân
                  Suối nhạc du dương nâng cánh mộng
                  Sóng thơ dào dạt dậy thuyền trăng
                  Tình đời thao thiết ngân se sẽ
                  Hồn biển bâng khuâng vọng khẽ khàng
                  Thi tứ trào tuôn dần lắng đọng
                  Đất trời giao cảm đẫm mênh mang
                                                   LA THUỴ

                                     HOẠ:

                 Bài hoạ 1 

                           NGẪU HỨNG XUÂN 
                 Giữa tháng sương giăng sắc trắng ngần 
                 Nguyên tiêu ngẫu hứng họa bài xuân 
                 Thất ngôn ngữ cảnh toan tròn mộng 
                 Bát cú ngôn từ lại khuyết trăng
                 Đành bảo mây trời bay sẽ sẽ
                 Đủ ru sóng biển vỗ khàng khàng
                 Cho thơ kết tủa tình vương đọng
                 Gửi tặng xuân rằm chút ý mang
                                                     TỐ MỸ 

                  Bài hoạ 2 

                           XUÂN RẰM GIÊNG 
                  Hằng đó nhìn trong ngọc trắng ngần 
                  Muôn đời vẫn rạo rực lòng xuân 
                  Giận chồng biền biệt ham săn quạ 
                  Xót phận xa xăm thích kiếm trăng 
                  Khởi thủy xuân lai cựu tuế hảo 
                  Kết chung đông khứ tân niên khang 
                  Nguyên Tiêu ấm áp trời và đất 
                  Ý tưởng vọng toàn luôn cứ mang

                                               VÕ SĨ QUÝ 

               

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

PHÚ ĐOÀN, LA THỤY & TRẦN MINH TẠC - Thơ Chu Vương Miện


 
                        Ảnh Phú Đoàn


        PHÚ ĐOÀN

       Ta ra đi, mười năm sau
       bạn vào lớp đệ thất

       ta năm nay 76 tuổi, cũng đang ngồi chờ chết
       nắm xương tàn xin gửi lại quê người
       chúng mình sinh ra giữa thế kỷ 20
       ngoảnh mặt lại ôi buồn da diết
       bạn xa quê nghèo định cư Phan Thiết
       quê vợ hụt cuả ta! Bình Thuận năm nao!
       bắt chước nhà thơ Bùi Quang Đoài
       ngó lên vòm trời đếm những vì sao
       bao nhiêu vì sao
       anh còn yêu em hơn thế nữa!
       chuyện vàng thau cám heo lòng chợ
       từ xưa chừ vẫn chuyện dở dang
       chuyện váy chuyện quần
       chuyện phấn chuyện son
       chuyện guốc dép mỗi ngườì mỗi nẻo
       ta đâu  phải Chế Mân chết ngoẻo
       thành quách tháp vàng thau dùng để gối đầu
       cùng voi ngựa hàng hàng xếp lớp
       chả còn gì /ngoài một cánh đồng lau
       tình với nghĩa đỏ đen nơi sòng bạc
       vào quá vui tay nhẵn lại quay về
       tình với tiền không mũ nón cũng ra đi
       ơi Bình Thuận, Bình Tuy cũng là Phan Thiết ?
       60 năm toàn ly toàn biệt

       bạn giáo viên giờ cũng về hưu
       sáng sáng, trưa trưa, rồi lại chiều chiều
       nhìn khói tàu xuyên Việt chạy qua Mương Máng
       đời chúng ta nơi nào cũng là cõi tạm
       sống ít năm khăn gói rồi dông
       bấy nhiêu năm vẫn chỉ ngọn gió nồm
       ngoảnh mặt lại chốn nào, quê hương nhỉ ?

                                        Chu Vương Miện


      
                Anh Trần Minh Tạc và La Thụy


        LA THỤY & TRẦN MINH TẠC

        Một ngườì cùng lớp đệ ngũ năm 56-57
        Một người sau mười năm mới vào lớp đệ thất
        Cũng cùng nhau nhìn một ánh trăng rằm
        Mà kẻ Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam
        La Gi, Bình Tuy, Hàm Tân 
        Trước cùng sau, chúng ta 
        đều đồng khói đồng môn
        cùng chung nhau trường trung học Nguyễn Hoàng
        thời loạn lạc mỗi người mỗi nẻo
        năm 1972 lửa bay, đạn réo
        chỉ một đường binh duy nhất
        Quảng Nam, Đà Nẵng, Sơn Chà
        Vùng cát vàng bờ bãi Tiên Sa
        dăm túp lều căng camp book
        qua chuỗi ngày chạy loạn
        sau năm 1973 chia ra từng đoàn từng nhóm
        lớp Vũng Tàu, Bà Rịa, lớp Đồng Nai
        lớp Phan Rang, Phan Thiết 
        Hướng Quảng, Đồng Xoài
        Dân mất đất biến thành dân tứ chiếng
        những bước đầu du canh du cư
        khai hoang lập ấp
        đời giáo viên, lại tiếp tục giáo hòn
        mắt rợp nhìn toàn những rừng buông
        dọc theo hai bên đường tàu xe hỏa
        thời loạn ly kẻ đi người ở
        nước non mình từ Quảng Trị vô đây
        theo gót Huyền Trân ngậm ngái tháng ngày
        bao loạn lạc rừng thiêng khí độc
        bao thương nhớ cả một đời Phan Thiết
        heo hắt buồn Hàn Mạc Tử nơi nao!
        Lầu Ông Hoàng, Ghềnh Ráng ở phương nào?
        Nhà thơ ở Quy Hoà rên xiết
        Bình Thuận, Bình Tuy vẫn quê nhà Phan Thiết
        nước non Chàm bỗng chốc lại phân hai
        chuyện anh em mình  
        vừa đồng hương đồng khói
        lại đồng môn đồng khoai...

                                       Chu Vương Miện