CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI ĐINH DẬU 2017 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn QUÊ HƯƠNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn QUÊ HƯƠNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

BIỂN MAI HỒNG - La Thuỵ

 
               


                  BIỂN MAI HỒNG

                  Hòn Bà ngắm sóng trầm tư
                  Đồi Dương ửng nắng liễu ru ven bờ
                  Sương lam sực tỉnh hồn mơ
                  Chao mình theo gió lượn lờ cùng mây.
                  Cỏ xanh, mượt trải đất dày
                  Dã tràng xe cát lạnh gầy dấu chân
                  Bay cùng cánh mộng bâng khuâng
                  Tình thơ ý nhạc như lần tuôn ra.
                  Tiếng lòng xưa vẫn mặn mà 
                  Ồ sao gờn gợn âm ba nỗi mình
                  Lặng lờ rùa biển đinh ninh
                  Nghìn năm hóa kiếp đọng tình rong rêu.
                  Dạt dào biển dậy niềm yêu
                  Lung linh khói sóng phiêu diêu mộng lòng.
                                                                  LA THUỴ                                         

                 

                           Thơ : La Thuỵ
                           Nhạc: Bùi Tuấn Anh
                           Trình bày: Xuân Liễu
                           Video clip: Quay trực tiếp năm 2005


             


Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

ANH CHỊ CAO HUY THUẦN VỀ THĂM LA GI


      Sau nhiều năm xa cách, từ nước Pháp, anh chị Cao Huy Thuần trở về Việt Nam thăm lại cố hương Huế. Trước khi lên phi cơ quay lại nước Pháp, ngày 20/2/2012 anh chị đã ghé thị xã La Gi, Bình Thuận thăm O Sáo (tức là mẹ mình) và toàn thể gia đình mình. Cùng đi với anh chị Cao Huy Thuần có anh chị Cao Huy Tấn, anh chị Cao Huy Hóa (các em trai và em dâu anh Thuần). Là một trí thức nổi tiếng, nhưng anh Thuần vẫn tỏ ra giản dị, gần gũi với thân tộc. Không khí các buổi họp mặt ấm cúng, thân ái. 
     Các anh chị đã ở lại La Gi nghỉ dưỡng 4 ngày. Trong thời gian này, anh Đỗ Hồng Ngọc vốn là người "bản địa" đã liên lạc qua điện thoại di động. Do phải chăm sóc vợ đang điều trị bệnh ở Sài Gòn, nên bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc dù nhiệt tình, cũng chỉ giới thiệu các thắng cảnh ở La Gi, không trực tiếp về La Gi  được. Sau đây là vài hình ảnh chụp lưu niệm với các anh chị Thuần, Tấn, Hóa. Nhiều hình ảnh lưu niệm có đầy đủ các thành viên gia đình mình được chụp từ máy ảnh của chú Vững (em trai út của mình), chưa thấy chú Vững gửi 

                   
                                Anh Cao Huy Thuần và La Thụy
                      
                   Chị Thuần, Mẹ La Thụy, La Thụy, a Hóa, a Tấn, a Thuần, chú Lợi

                       
                    Mẹ La Thụy, La Thụy, anh Hóa, anh Tấn, anh Thuần, chú Lợi (em trai La Thụy) 
                     
                     Mẹ La Thụy, chú Lợi (em trai La Thụy), anh Hóa, anh Tấn
                     
                          Anh Hóa, anh Tấn, anh Thuần, chú Lợi (em trai La Thụy)
                    
                    Bốn chị em dâu: chị Tấn, chị Hóa, chị Thuần, thím Lợi
                   
                  Bốn chị em dâu (Chị Cẩm Tú, Chị Dung, Chị Liên, Thím Sữu)
                  
                    Anh Cao HuyThuần, Đoàn Minh Lợi (em trai La Thụy)
                  
                                Anh Thuần, chú Lợi ( em trai La Thụy)

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

ẤM MÃI TÌNH QUÊ - Hoàng Hữu Bản, Ngô Hướng

       Vừa qua, anh Ngô Hướng - bạn đồng môn Trung Học Nguyễn Hoàng Quảng Trị ( khối 1964 - 1971), ghé khu resort Quốc Tế, thị xã La Gi, Bình Thuận cùng với gia đình và bạn bè Sài Gòn của anh để nghỉ dưỡng. Nhận lời mời của anh Hướng, một số anh chị em đồng môn NH La Gi - Hàm Tân cùng đến họp mặt giao lưu. Là nguyên hiệu trưởng trường Đại Học Ngân Hàng thành phố Hồ Chí Minh, nhưng anh Hướng vẫn tỏ ra rất giản dị, hoà đồng, gần gũi thân mật với anh chị em đồng môn NH La Gi - Hàm Tân. Buổi giao lưu họp mặt thắm đượm tình quê hương và say men tình bạn đồng môn qua từng điệu hò, câu ca, tiếng ngâm thơ... hào sảng, thoáng đạt. Chị Ngô Hướng cùng gia đình, bè bạn anh Hướng rất lịch thiệp niềm nở, thân tình trong giao tiếp. Thi hứng dâng trào, cảm xúc dào dạt , những người bạn đồng môn vong niên cùng dệt những vần thơ kỷ niệm về lần họp mặt này.



               


                                 ẤM MÃI TÌNH QUÊ
                                (Thân gởi anh chị Ngô Hướng)

                                  Giữa biển trời bao la
                                  Lagi vào mùa lá rụng
                                  Vodka ngọt tình quê
                                  Hơn trái cơm rượu làng miềng
                                  Gió ru hồn chúng ta
                                  Quạt hương đồng môn một thuở
                                  (Nguyễn Hoàng Quảng Trị buổi can qua)
                                  Ta nghe chừng mát dạ
                                  Ấm rọt ấm gan
                                  Chảy băng vào huyết quản
                                  Băng qua bỉ ngạn
                                  Vượt không, thời gian
                                  Còn lại đây: răng, ri, mi, tau, mô, rứa
                                  Trời Nguyễn Hoàng chớp lửa
                                  Đá Thạch Hãn còn trơ
                                  Hoa non Mai vẫn nở
                                  Dòng trong mãi lặng lờ
                                  Sáng một trời tha hương
                                  Thuỷ chung hương lan toả
                                  Cảm ơn! Cảm ơn! Ngô Hướng!
                                  Điệu hò người ấm áp
                                  Ủ tình quê
                                                       Hoàng Hữu Bản



        
                       

                                   KHÔNG ĐỀ
                                    Cho dù năm tháng có mòn
                             Sông quê vẫn đậm tiếng còn ru nhau
                                    Ngọt bùi như thể trầu cau
                             Uống năm ba chén để sau khỏi buồn
                                     Mờ xa Mai Lĩnh mây tuôn
                             Thạch Hãn ơi có gọi nguồn mưa mau
                                     La Gi một buổi tìm nhau
                             Biển trời lồng lộng sang giàu có chi
                                    Gặp nhau là rứa, tau, mi
                             Hồn quê thắm đượm mấy thì trăng sao
                                    Dù cho mưa giận sấm gào
                             Cứ thương nhau, sẽ còn nhau suốt đời
                                                                   Ngô Hướng


Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

HỒI CƯ - Trần Kiêm Đoàn


      Sau bài TẢN CƯ  mà chúng tôi đã giới thiệu  ( http://phudoanlagi.blogspot.com/2012/04/tan-cu.html )  thầy Trần Kiêm Đoàn đã từng viết thêm một số bài về ngôi  trường Trung Học Nguyễn Hoàng và vùng đất Quảng Trị trong những ngày còn vương khói lửa chiến tranh mịt mù từ 1972 đến 1975. Xin giới thiệu bài viết HỒI CƯ  trong loạt bài viết ấy của thầy Trần Kiêm Đoàn


                                 



      Thuở nhỏ, ít khi tôi và lũ bạn cùng lứa ở làng chịu bỏ sót bất cứ một gánh hát nào về diễn ở làng, ở xã. Chúng tôi phải coi cho bằng được từ đầu chí cuối, nghĩa là từ khi các đoàn hát dựng cột làm sân khấu đến ngày dỡ cột ra đi, dù phải “hy sinh” bị quỳ và đánh đòn vì không thuộc bài và ngủ gục trong lớp.  


Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

SÔNG HIẾU - Hoàng Đằng


     Con sông quê tôi:  
                                                              


Quê tôi là Đông Hà, tỉnh Quảng Trị - nơi có dòng Hiếu Giang chảy qua.
Sông Hiếu bắt nguồn từ trên núi rừng Trường Sơn, nơi câc đồng bào dân tộc ít người: Pa-Kô và Vân Kiều sinh sống, rồi chảy qua vùng đồng bằng, tưới mát cho ruộng vườn làng mạc của đồng bào Kinh, cuối cùng đổ ra biển Đông. Con sông là dòng kết nối Kinh -Thượng một nhà.
Sông không tự mình đổ ra biển Đông. Sông chảy khoảng 70 km thì hợp lưu với sông Thạch Hãn ở ngã ba Gia Độ; sông biến thành sông nhánh của sông Thạch Hãn. Nhìn trên bản đồ, dòng chảy của Hiếu Giang và dòng chảy từ nơi hợp lưu về cửa Việt tương đối nằm trên một đường thẳng, còn dòng chảy sông Thạch Hãn vào hợp lưu tạo một nhánh “giằng xay” (gấp khuỷu); đáng lẽ sông Hiếu là sông chính, còn sông Thạch Hãn là sông nhánh. Sông Thạch Hãn được tôn lên làm sông cái vì ngoài bề rộng lớn hơn, sông Thạch Hãn trước đây chảy qua tỉnh lỵ Quảng Trị, nơi ở của quan chức. Ở đời, cái gì nhỏ phải phụ thuộc vào cái to rộng hơn, cái có uy quyền hơn.
Ngoài tên Hiếu Giang, ở thượng nguồn, sông mang tên Cam Lộ, nơi có huyện lỵ và có chợ phiên nổi tiếng; ở hạ nguồn, sông mang tên Điếu Ngao, một làng nằm cạnh sông ở mạn đông thành phố Đông Hà. 
Ngày xưa, con đường thiên lý Bắc - Nam đi ngang giữa làng này, đến mép sông, hành khách phải qua đò ngang tại bến đò Điếu; vì vậy từ “sông Đò Điếu” cũng khá thông dụng. Một con sông nhỏ mang những 4 tên; ba tên ghi dấu các địa danh dòng sông đi qua; còn tên “Hiếu Giang” thì sao? Có nguồn cho rằng sông được đặt tên như thế để ghi nhận tấm lòng của công chúa Huyền Trân đã vâng mệnh cha (Trần Nhân Tông) anh (Trần Anh Tông) vượt sông vào Nam làm vợ vua Chế Mân, nước Champa đổi lấy hai châu Ô, Lý vào năm 1306. Vào thời điểm đó, sông là biên giới giữa nước ta và nước Champa.  Chính cái tên Hiếu Giang khiến, mỗi lần nhắc đến, người ta rạo rực trong lòng cái thông điệp đạo lý: dù đi đâu, ở đâu, làm gì cũng phải nghĩ về nguồn cội – nơi mình sinh ra, nơi làm điểm tựa cho mình bay cao, bay xa. Có lẽ ít tên con sông nào trên thế giới mang nội hàm có tính giáo dục đến thế.

Ngày xưa, việc di chuyển, vận tải chủ yếu bằng đường thủy. Đường bộ không bằng phẳng, lầy lội về mùa mưa, bụi bặm về mùa nắng, khi lên đèo khi xuống dốc, qua những khu vực hoang vắng có thể gặp trộm cướp, thú dữ – nguy hiểm; phương tiện quá thô sơ, mất nhiều thời gian và nhọc xác.
Sông Hiếu là một thủy lộ địa phương quan trọng.
Cụ Trần Minh Tiết (1918 – 1990), người làng Cam Lộ Hạ, huyện Cam Lộ, một học giả uyên thâm về các vấn đề thế giới, viện sĩ viện Hàn Lâm Khoa Học Hải Ngoại nước Pháp, đã từng đưa ra đề án đào một con kênh từ sông Mê-kông cắt ngang lãnh thổ Lào đi qua Savanakhet vào sông Hiếu qua Đông Hà ra cửa Việt (Un canal dans l’isthme de Kra et un canal Mékong-Océan Pacifique par Savanakhet - Đông Hà - Cửa Việt – Nouvelles Éditions Latines, 1966, Paris). Đề án ấy nếu như được thực hiện, sông Hiếu đã trở thành một thủy lộ quốc tế. Thôi ... hãy chờ tương lai, biết đâu!
Xưa kia, thủy lộ Hiếu Giang đã từng nhộn nhịp. Chợ phiên Cam Lộ cứ 5 ngày họp một lần vào các ngày 03, 08, 13, 18, 23 và 28 Âm Lịch mỗi tháng; chợ phiên là nơi trao đổi hàng hóa giữa miền xuôi và miền ngược; trong những ngày ấy, thuyền buôn lên xuống không ngớt trên sông, kể cả ban đêm. Thuyền buồm nương theo chiều gió; vào những lúc lặng gió, thuyền lướt theo nhịp đẩy của các mái chèo. Để tránh mệt mỏi và buồn ngủ, các chị các o buôn đò dọc, hò hát, trêu ghẹo nhau rồi cười đùa khúc khích xé tan cái im lặng của màn đêm.  Một cô gái nào đó trên thuyền cất tiếng hò thánh thót lơ lửng giữa dòng sông:
“Eng ngồi mần chi côi bờ, nhìn ai mà con mắt ngơ ngác.
Lắng tai nghe em đây hát để liệu mà trả lời:
Cực lòng em lắm eng ơi!
Hãy tìm một nơi mô vắng vẻ cho đôi ta ngồi hàn huyên ...”
Một chàng trai nào đó trên bờ thấm tình thấm ý đáp lại:
“Em cực lòng thì eng cũng khổ tâm,
Hỏi: em mà  thiệt chưa ai ngỏ ý thì cho eng bỏ mâm cau trầu ...”
Nhiều trường hợp, hai bên đã đi tìm nhau theo sự thúc giục của con tim – tình yêu - rồi nên vợ nên chồng.
Hòa trong tiếng hò của thuyền buôn xuôi ngược là tiếng gõ “lòng còng” của thuyền chài đuổi cá vào lưới, tiếng ngoắt đuôi “sộp soạp” xua ruồi nhặng của đàn trâu đã no cỏ “mẹp” tắm buổi trưa hay buổi xế chiều, tiếng “rào rào” khoát nước thi đấu vào mặt nhau của lũ trẻ trần truồng giữa các bến tắm hai bên bờ sông.
Thời ấy, dân cư còn thưa thớt, nước sông trong xanh, người ta dùng nước sông để sinh hoat : uống nước sông, nấu ăn bằng nước sông, giặt rửa bằng nước sông ... Sông cung cấp tôm cá cải thiện chất lượng bữa ăn cho dân nghèo. Chỉ cần một cái rổ, bỏ ra khoảng nửa giờ sau buổi làm cỏ khoai, cỏ bắp ... là có thể xúc được một mớ hến hay “chắt chắt” làm ngọt nồi canh trưa; chỉ cần cái dũi, khi nước ròng, lội xuống đẩy dọc mép sông vài vòng là kiếm được nhúm tôm, nhúm cá kho mặn để ngon cơm.
Vào mùa hè, mặt sông xao sóng khi gió Nam Lào thổi mạnh; vào mùa đông, mặt sông gợn sóng lăn tăn khi gió đông bắc rít từng luồng. Sông hiền như người mẹ. Sông chỉ hung dữ vào mùa lũ lụt. Mưa tuôn xối xả, nước chảy mạnh bào mòn đất đá trên núi đồi và hai bên bờ, cuốn cuộn  phù sa màu hồng bạc về lắng đọng tăng độ phì nhiêu cho vườn tược ruộng đồng. Dòng nước lũ còn cuốn theo các cây gỗ trốc gốc, các loại rều rác. Dân đứng hai bờ chờ vớt, kéo về làm củi đốt quanh năm. Nhiều lúc, sông cũng gây ra tai họa: phá hủy mùa màng, cuốn trôi nhà cửa, dận đuối người và vật.

Chiến tranh bùng phát. Các chuyến đò lên về chợ phiên thưa dần, những mối tình do dòng sông đan dệt chấm dứt, thuyền chài giăng câu bủa lưới vắng đi; ngư dân lần lượt lên bờ định cư.
Sông đã trở thành chiến trường, nơi mà ai cũng có thể bị thương vong nếu rủi ro kẹt giữa hai lằn đạn.
Ban đêm sông im lìm trong không khí ngột ngạt, thỉnh thoảng, những chiếc thuyền nan của những chiến sĩ vượt sông, lướt vội, qua lại hoạt động bí mật; những tràng đạn tiểu liên bắn vu vơ trong màn đêm đen để hù dọa găm vào dòng sông - sông đau quằn quại, rên la. Sông hứng chịu những loạt lựu đạn nổ ì ầm đều đặn quanh các chân cầu để cản người nhái. Chiếc cầu bắc qua sông nối hai bờ trên quốc lộ I, không còn hình ảnh thơ mộng “chiếc cầu là nơi hò hẹn của đôi ta”. Bên giải phóng muốn phá cầu đi để cắt đứt giao thông cho tiềm lực đối phương suy giảm, bên quốc gia muốn giữ cầu lại, dựng cầu lên để kiểm soát đất giành dân. Trong chiến dịch năm 1972, bên giải phóng định dùng cầu vượt sông nhanh thì bên quốc gia giật cầu đi để cản bước. Hóa ra người ta mặn mà với chiếc cầu chỉ vì lợi ích của phe phía mình. Cầu đã sập đi và xây lại nhiều lần. Máu bên này, máu bên kia ít nhiều đã đổ hòa vào dòng sông chảy về lòng mẹ biển Đông bao dung.
Chiến trường mỗi lúc mỗi sôi động. Sông oằn mình hứng đạn bom ... xơ xác. Tàu vận tải quân sự của Mỹ lên xuống Đông Hà -  Cửa Việt rầm rì, những con tàu gắn động cơ cỡ lớn xô những ngọn sóng cao vỗ vào hai bờ; đất chuồi lỡ, nước vẩn đục. Dân giảm dần dùng nước sông làm nước sinh hoạt. Những trận bom B52 rải thảm trên thượng nguồn, những trận pháo vào giữa đội hình vượt sông của quân đội bên này bên kia và những trận đánh bằng thủy lôi của bộ đội đặc công giải phóng vào tàu Mỹ. Giấy bút đâu mà ghi chép cho hết! Chỉ có một trận đánh trên sông được báo chí nhắc đi nhắc lại nhiều lần; người ta gọi đó là “trận Bạch Đằng trên sông Hiếu” để gợi nhớ lại trận Ngô Quyền tập kích quân Nam Hán năm 938 và trận Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn phá tan quân Nguyên Mông vào năm 1288 trên sông Bạch Đằng ở ngoài Bắc.
Giữa đoạn Đông Hà và ngã ba Gia Độ, để ngăn chận tàu Mỹ vận tải vũ khí đạn dược lương thực cho chiến trường, vào một đêm đầu tháng 3 năm 1968, quân giải phóng, lợi dụng màn đêm và tàu tuần tiễu của quân Mỹ vắng bóng, đã huy động lực lượng cắm cọc tre, cọc cây, giăng dây kẽm gai bùng nhùng, gài mìn và thủy lôi chận ngang sông; cùng lúc, các lực lượng vũ trang phục kích ở trên bờ sông; sáng ngày sau, như thường lệ, đoàn tàu Mỹ tiến từ cửa Việt lên Đông Hà; phát hiện có bãi cọc và bị quân giải phóng phục kích nổ súng tấn công; quân đội Mỹ huy động máy bay quần thảo, dội bom xuống dòng nước phá hủy vật cản để thông sông; cá to cá nhỏ chết nổi tấp trắng bờ; trớ trêu là người quê tôi gặp may, có dịp đi thu nhặt cá đến mấy ngày. Chiến tranh đã làm cho con người trơ lì vô cảm, nhiều khi nhìn chiến tranh như “một trò đùa”.

Đất nước thống nhất, hòa bình lập lại. Con sông quê tôi tưởng có cuộc sống êm đềm. Vậy mà không! Rừng đầu nguồn bị thu hẹp; người ta chặt cây vì nhu cầu xây dựng, người ta khai hoang để lập các khu kinh tế mới; vào mùa mưa, nước lũ “hỗn” hơn, xói lở đất 2 bên bờ từng mảng diện tích lớn, một số xóm làng phải thiên cư. Ai mà quên được những trận lụt 1983, 1999, 2009, 2010, nước ngập đến mái nhà; tần số lũ lụt lớn dày hơn xưa nhiều; mấy chục năm trước đó, chỉ trận lụt lớn năm 1953 là còn được nhắc đến.
Rừng đầu nguồn giảm, lượng nước ngọt giảm theo; lại thêm, các đập thủy lợi, đập thủy điện chận nguồn lại; sông bị nhiễm mặn nhiều tháng trong năm. Dân các nơi tập trung đến Đông Hà đông lên; chất thải, nước thải đổ vào dòng sông quá nhiều. Sông không còn cung cấp nước sinh hoạt nữa. Tôm cá và các nguồn thủy sản tự nhiên khác khó sống ở môi trường ô nhiễm; ngư dân đổi nghề, tất bật ngược xuôi kiếm sống trên bộ. Nước sông ô nhiễm đến nỗi dân làm giá đỗ ở 2 làng ven sông: Thanh Lương và Nghĩa An (phường Đông Thanh) bây giờ không thể ủ giá bằng nước sông như trước đây. Nước sông ô nhiễm đến nỗi các hồ nuôi tôm ở làng Điếu Ngao, làng Đông Lai, làng Lạng Phước, thành phố Đông Hà cũng thất bại – tôm chậm phát triển và chết. Cả một vùng hồ đào lên rồi bỏ không; đất lúa, đất khoai nuôi dân trở thành đất vô dụng; người ta từng lập luận: trồng lúa đất sinh lợi ít, phải nuôi tôm xuất khẩu kiếm ngoại tệ để nước mau giàu !
Nước sông có màu xanh lá cây không rõ nét, trông mà rờn rợn. Thuyền gắn động cơ lên về chợ Đông Hà ồn ào, khuấy động dòng nước. Sông chỉ dành cho thuyền chở khách và phà chở cát – hình ảnh quá khô khốc, cứng đờ. Chính con người làm mất vẻ hoang sơ và nên thơ của con sông.
Tuy nhiên, cuộc sống thay đổi không ngừng; ai mà cản được. Giờ thì con người chỉ còn có việc: phải tạo cho con sông một vẻ đẹp hiện đại. Như một phụ nữ thời nay phải thường xuyên vào thẩm mỹ viện tắm gội, nắn mũi, sửa tóc, xóa sẹo, tàn nhang, trang điểm một chút phấn son, sông muốn đẹp thì con người phải giữ sạch dòng sông; không đổ rác xuống sông, không thải nước khi chưa xử lý xuống sông; phải thiết kế xây dựng làm sao tạo cho  bờ sông vẻ mỹ quan: kè đá 2 bên bờ để chống xói lở, xây dựng các công trình dân sinh xa sông một khoảng cách hợp lý, trồng cây tạo bóng mát rồi lập vườn hoa hai bờ, biến cái cù lao giữa sông phía trên cầu thành một công viên hay một một khu ẩm thực cao cấp.
Mọi người tự giác bảo vệ môi trường để nước sông quê ta không trở qua màu đen ngòm, bốc mùi hôi nồng nặc, mặt sông không lềnh bềnh những bao nylon, bao lác, bên trong chẳng ai biết chứa những gì.
Mừng là chính quyền đã và đang ra tay. Bờ bắc sông đang được kè và  những việc còn lại hy vọng sẽ tiếp tục, nhưng khốn nỗi: một số không nhỏ người dân còn xem con sông như bãi rác hay nơi phóng uế. Thay đổi nếp nghĩ của người dân mới là chuyện khó!
Để kết thúc bài viết, xin có lời mách, nhắn với những người xa quê để an tâm:
Ở tận xứ người em có biết?
Quê hương ta có một dòng sông.
Anh mãi gọi với lòng tha thiết:
Hiếu Giang ơi hãy mãi sạch  trong ...
                                                                                       Hoàng Đằng - TP. Đông Hà    

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

ẤN TƯỢNG LA GI - Cao Huy Hoá







            Những ngày đầu xuân vừa qua, chúng tôi đến thăm Lagi, một thị xã thuộc tỉnh Bình Thuận, ở phía nam và cách Phan Thiết gần 70 km. Niềm vui trước tiên là hưởng được nắng ấm và tắm biển trong khi ở quê nhà mùa xuân thì đẹp nhưng lạnh và mưa lất phất. Sáng tinh mơ, trước mặt chúng tôi là biển cả mênh mông, chân trời ửng hồng, mặt trời như quả cầu đỏ dần dần lên khỏi mặt biển. Những con thuyền đánh cá trở về muộn. Sóng nhẹ, chúng tôi tắm biển, mát mẻ, sảng khoái.
Đối với người bình thường ở mọi miền đất nước, Lagi chưa là địa danh quen thuộc, ít ai đặt chân đến vùng này. Tuy nhiên, Lagi cũng như hầu hết dãi đất ven biển của tỉnh Bình Thuận đã càng ngày càng sáng lên trên bản đồ du lịch, hấp dẫn du khách vì biển xanh, hiền hòa, ấm áp quanh năm, nhất là du khách Nga ở xứ lạnh giá nên rất thèm biển. Ngay cả người Sài Gòn, không còn quanh quẩn ở biển Vũng Tàu, mà đã đến vùng biển này, với những resort, những khu du lịch hấp dẫn chạy dài, những địa danh ngày càng nổi tiếng như Kê Gà, Mỏm Đá Chim, Dinh thầy Thím, Tà Cú,…
            Lagi có cái gì hay hay, ngay cả tên gọi. Chữ viết là Lagi hay La Gi, đọc là La-Di. Phải chăng địa danh xuất xứ từ tiếng Chăm? Tôi hỏi những người quen ở đây thì cũng đồng ý như thế; có người cho rằng, theo người Chăm, chữ Tà chỉ núi (như Tà Cú, Tà Mon, Tà Dôn…), chữ La chỉ sông (như La Ngà, La Ngâu, Lagi…, Sông Dinh là sông lớn nhất chảy qua Lagi). Mảnh đất xa xưa đầy huyền thoại Chăm giờ đây là đất lành của những người định cư lâu đời lẫn những người tứ xứ. Người ở lâu đời gồm người Chăm và người các dân tộc thiểu số khác, người di dân suốt chiều dài lịch sử Nam tiến. Người đến sau này do chạy thoát chiến tranh ác liệt, cũng như do hoàn cảnh lịch sử: dân di cư từ miền Bắc, trong đó đáng kể là đồng bào theo Thiên Chúa giáo, Việt kiều hồi hương từ xứ sở Chùa Tháp, dân chạy nạn chiến tranh từ sau năm 1973 từ các tỉnh miền Trung, nhiều nhất là từ Quảng Trị, dân đến định cư làm ăn sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất.

Lịch sử di dân từ xa xưa đã truyền tụng lại hai nhân vật được tôn thờ cho đến ngày nay, đó là vợ chồng Thầy Thím: “Theo sự tích, Thầy Thím quê gốc ở Điện Bàn (Quảng Nam), đức tài vẹn toàn. Dưới thời vua Gia Long năm thứ 2, gia đình Thầy bị kết tội tử hình oan. Trước giờ thi hành án, Thầy được vua ban một tấm lụa đào để múa từ biệt vua. Theo truyền thuyết, tấm lụa quấn lấy Thầy Thím và đưa vợ chồng Thầy bay vào phương Nam. Đến ngảnh Tam Tân (xã Tân Tiến, thị xã La Gi, Bình Thuận ngày nay), Thầy Thím cải trang thành một dân thường, từ đó Thầy giúp đỡ dân nghèo ở đây bằng cách bốc thuốc chữa bệnh, đóng ghe thuyền giúp ngư dân, khẩn khai đồng ruộng. Những năm sau ngày Thầy Thím mất, cứ mùng 5 tháng Giêng lại có hai con hổ về mộ Thầy thăm, rồi lại buồn bã ra đi. Biết ơn công lao Thầy Thím, dân làng đã lập đền thờ Thầy và thờ cả hai con hổ. Tiếng lành đồn xa, năm 1906 (đời vua Thành Thái năm thứ 18) vua đã hủy bỏ bản án oan trước đây và sắc phong Thầy “Chí đức Tiên sinh, chí đức Nương Nương Tôn thần”. Ngày nay, lễ hội Dinh Thầy Thím (lễ chính vào ngày rằm tháng 9 âm lịch) đã trở thành nét văn hóa truyền thống của không chỉ riêng người dân địa phương mà còn thu hút hàng trăm nghìn lượt du khách khắp nơi về xin lộc ơn phước của Thầy mỗi năm.”1
Ngoài dinh Thầy Thím, vùng Lagi còn có một điểm tham quan độc đáo là ngọn hải đăng Kê Gà. Đây là ngọn hải đăng thuộc loại cổ nhất và cao nhất nước ta, nằm trên một hòn đảo gần bờ, gọi là mũi Kê Gà, ở phía Nam và cách thành phố Phan Thiết 40 km, bằng đá, hình bát giác, được người Pháp xây dựng từ năm 1897 đến năm 1899, cao 66 mét (kể từ mặt biển đến ngọn đèn). Ban đêm, đèn có thể phát sáng xa đến 22 hải lý (khoảng 40 km) giúp tàu thuyền đi qua vùng biển này2. Ngọn hải đăng sừng sững giữa trời biển xanh bao la, giữa một quần thể đá trần trụi nhiều dáng vẻ. 


Sẽ thiếu sót nếu tôi không nói đến Hòn Bà, một đảo nhỏ hình con rùa ngoài khơi, khá gần (cách bờ khoảng 2 cây số) để mỗi lần ngắm biển, ta có thể thấy những cây cổ thụ xanh mờ xa xa; trên đảo có một ngôi đền thờ nữ thần Thiên Y A Na, cũng như có thờ tượng Phật Thích Ca, tượng Phật Bà Quan Âm.
 Vùng ven biển đầy nắng gió và hẻo lánh này, giờ đây đã trở thành một thị xã phồn thịnh, một thị xã có xe taxi phục vụ ngày đêm. Kinh tế mạnh là nhờ biển: biển cho hải sản dồi dào, phong phú, biển với bãi cát tốt và nắng ấm quanh năm làm cho ngành du lịch phát triển. Ấn tượng đối với tôi, dĩ nhiên là biển, là nắng gió đầu xuân thật nhẹ nhàng, cho chúng tôi được sống thoải mái, xa rời những chuyện thế sự. Một ấn tượng nữa  là cây thanh long. Những cánh đồng thanh long dài tít tắp, cây thanh long xanh ngắt bám rễ vào cột xi măng, vươn cao, tỏa rộng rồi thả mình lơ lửng, có nơi mới trồng, có nơi bắt đầu cho hoa, rung rinh trong nắng, tương tự hoa quỳnh – chỉ khác là hoa quỳnh nở ban đêm -, có nơi đã cho trái, làm cho hai màu xanh đỏ của lá và trái tương phản đậm nét dưới ánh mặt trời. Cây trái đã đãi đằng con người, thế mà con người còn muốn cây thêm năng suất, bằng cách cho đèn điện chiếu sáng, đánh lừa thanh long, lấy đêm làm ngày.
Chỉ có mấy ngày đến thăm Lagi, nhưng tôi cũng ghi nhận được vài nét đặc biệt của thị xã này. Dân miền biển da hơi ngăm ngăm, tính thật thà; giá sinh hoạt nơi đây nếu không vì kinh tế thị trường của ngành du lịch biển thì chắc là rẻ lắm. Dầu giá cả như thế nào thì bát cơm, tô canh, đĩa cá… thể hiện tính chất no đầy của nó, không đẹp đẽ cầu kỳ như kiểu một số quán ăn đất kinh kỳ dọn chén đĩa lớn, màu mè mà thực chất chẳng bao nhiêu. Ly cà phê cũng thế, đậm đà và dung tích đáng kể chứ không phải chút chút trên đáy, còn ly trà Lipton, nặng trịch với trái cam to bổ đôi. Một điều lạ là nhiều quán ăn dùng đĩa thức ăn để đựng nước chấm, chứ không dùng chén nhỏ. Có thể sống trong điều kiện thiên nhiên khoáng đạt và ưu đãi như thế, với một trình độ tổ chức xã hội chưa cao, con người có khuynh hướng sống mộc như bản tính chân thật của mình, cứ như tự nhiên mà sống. Đó là nếp sống của những cư dân lâu đời, của những đồng bào dân tộc gắn liền mảnh đất này từ xa xưa; có như thế đây mới là đất lành hội tụ biết bao người từ mọi miền đất nước. Tuy nhiên, ấn tượng của chúng tôi về thị xã miền biển này càng đẹp thêm nếu không có chuyện rác, chuyện túi ni lông được xả thoải mái khắp nơi, từ cửa hàng cà phê đến bãi biển, từ con suối đến vệ đường. Biển Lagi quả thật như một dung nhan thiếu chăm chút!

Lagi, nơi xa lạ đó không thể trở thành nơi quen thuộc nếu chúng tôi không nghĩ đến một người O, xa cách đã lâu, nay về già sống với con cháu ở Lagi. O đã cùng gia đình tôi lập nghiệp tại thị xã Quảng Trị từ thuở tôi còn thơ ấu; thế rồi chiến tranh khốc liệt đã đánh bật O đi, từ Quảng Trị vào Huế, đến Đà Nẵng, rồi cuối cùng vào đến Lagi với đôi quang gánh buôn bán lặt vặt, từ năm đồng ba trự cho đến sạp tại chợ, để ngày hôm nay, sáu người con đều thành danh. Gặp lại O sau mấy mươi năm xa cách, trời đã ngó lại và thương, 85 tuổi mà rất khỏe mạnh, lại còn pha chút ít phong lưu, trái với nét chất phác và khắc khổ của cuộc đời bán buôn nhỏ, chồng mất sớm, nhẫn nại nuôi con nước mắt lưng tròng. Hình như những người con của Quảng Trị đi nơi xa thì khá thành đạt, không những về kinh tế mà cả gặt hái chuyện văn thơ nhạc. Những người con của O cũng thế, cũng là người văn nghệ, và chính họ đã đưa chúng tôi đến một địa chỉ thơ, một ngôi chùa.


Như có duyên may, một vị sư trẻ người Quảng, vốn hành điệu ở Huế, năm 1990, đã dừng bước bên con suối Đó vắng vẻ, cảnh quan đơn sơ, cách khá xa trung tâm Lagi. Tên con suối cũng lạ, theo như một người sở tại cho biết: Suối chảy qua nhiều tảng đá to nên được đặt tên là suối Đá; sau này dân Quảng vào định cư ở gần con suối, phát âm tên suối gần như là Đó, cho nên sau này dân quen gọi là suối Đó. Thầy đã tậu được đám đất nơi này và ban đầu dựng một thảo am, thầy cao hứng đặt tên là chùa Đây, “Chùa Đây – Suối Đó nằm ru hát thiền3. (Tên chính thức của chùa là Thanh Trang Lan Nhã). Từ đường chính vào chùa, du khách như đi vào một khu rừng im vắng, mát mẻ. Chùa không lớn, nhiều công trình dở dang, và công trình chính là ngôi chánh điện thì mới phần móng. Thế nhưng sân chùa vẫn là không gian thơ. Thơ của thầy và thi hữu, được viết trên… bia thơ, đó là những tấm bê tông như giả lát cắt của thân cây cổ thụ, đặt trên bệ xây, phía sau là hàng tre vàng rất đẹp. Ngoài chuyện thơ, thầy có tham vọng tạo một nơi được gọi là “bảo tàng văn hóa” cho mọi người, và trước mắt thầy sưu tập được một số hiện vật quý. Thầy có duyên với các chùa miền Bắc, thầy đã thỉnh về nhiều cổ vật: phù điêu, đồ gốm, gạch… thời Lý Trần, đặc biệt thầy cho trưng bày một hiện vật đồ gỗ mà theo thầy là cọc mà Đức Hưng Đạo đại vương cho đóng trên sông Bạch Đằng trong trận thủy chiến với quân nhà Nguyên. Hiện vật văn hóa bao gồm cả các đồ dùng sinh hoạt xưa: cơi trầu, ống nhổ, bình vôi, con dao bổ cau, chiếc quạt tre mà người mẹ đã dùng thuở sinh thời… Trên điện, thầy tôn trí theo cách các chùa dân gian phía Bắc: ngoài tượng Phật, có rất nhiều tượng… kể cả Ngọc Hoàng thượng đế, Thập điện minh vương, công chúa Liễu Hạnh, thiên lôi,… Thực sự tôi lạ lẫm với điện thờ như thế trong một ngôi chùa tại một địa phương phía Nam. Nhưng tôi đặc biệt chú ý tượng Ngài Địa Tạng, một tượng cổ mà thầy thỉnh về từ chùa nào đó ở Bắc, bị sém mất một phần vai và thân. Ngoài sân, thầy cho trưng bày một số cối xay, bên cạnh đó, tôi rất bất ngờ khi nhìn thấy một tảng đá to trên đó in hai dấu chân; phải chăng đó là dấu chân của một kẻ lãng du dừng chân bên suối một đêm trăng, như là một cơ duyên “Trăng về suối Đó, bờ neo mảnh tình4?
Về phần chúng tôi, dầu thời gian ở Lagi không nhiều, nhưng dấu chân trên cát đã được lưu giữ trong tâm hồn như là kỷ niệm những ngày đầu xuân thấm đượm hương vị của biển, của nắng gió và nhất là đậm đà tình cảm của người thân lâu ngày gặp lại, và của cả những người sơ ngộ.
                                                                                                           Cao Huy Hóa
                                                                                                           Tháng 3/2012
Chú thích:
Theo Quang Nhân, báo điện tử Binhthuantoday.com, 12/10/2011: Lễ hội Dinh Thầy Thím: Quy mô và an ninh hơn.
3, 4 Thơ Đinh Hồi Tưởng


Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

BIỂN MAI HỒNG

   

   
           

                                        BIỂN MAI HỒNG

                                                Hòn Bà ngắm sóng trầm tư
                                   Đồi Dương ửng nắng liễu ru ven bờ
                                                 Sương lam sực tỉnh hồn mơ
                                          Chao mình theo gió lượn lờ cùng mây
                                                 Cỏ xanh, mượt trải đất dày                   
                                          Dã tràng se cát lạnh gầy dấu chân  
                                                 Bay cùng cánh mộng bâng khuâng 
                                          Tình thơ ý nhạc như lần tuôn ra
                                                 Tiếng lòng xưa vẫn mặn mà 
                                          Ồ sao gờn gợn âm ba nỗi mình                                         
                                                  Lặng lờ rùa biển đinh ninh 
                                          Nghìn năm hóa kiếp đọng tình rong rêu                                                  
                                                  Dạt dào biển dậy niềm yêu                                         
                                          Lung linh khói sóng phiêu diêu mộng lòng
                                                                                 
                                                                                         LA THUỴ


                                      HỌA


                                    DƯỜNG NHƯ LÀ XUÂN

                                                  Én về đùa sóng vô tư,
                                           Mừng xuân sắp chín vi vu lạc bờ.
                                                  Em ngoan hiền còn mãi mơ,
                                           Bên cồn ai gọi vọng lờ lững mây.
                                                  Triền đê cỏ ướt xanh dày
                                           Dìu nhau mấy lối hao gầy gót chân!
                                                  Đường về gió nổi bâng khuâng,
                                           Cho phai tím áo đôi lần chẳng ra,
                                                  Tình trao vừa đủ thôi mà,
                                           Vẫn còn chút ngại bôn ba một mình.
                                                  Bánh chưng bếp lửa còn ninh,
                                           Vây quanh đón đợi ân tình xanh rêu.
                                                  Lộc non nhú chút hương yêu,
                                           Mừng ngày mới đến lá diêu ấm lòng.


                                                                                                NHẬT THỦY