BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI MẬU TUẤT 2018 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU TẦM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU TẦM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

NHỮNG MỐI TÌNH LÃNG MẠN - Nguyên Lạc


       
                   Tác giả Nguyên Lạc


       NHỮNG MỐI TÌNH LÃNG MẠN
                                             Nguyên Lạc

       Sụt sùi tình lệ giãi bày
       Khốc văn một bức tuyền đài gởi em!
       (Viết giùm Phạm Thái gởi Quỳnh Như - Nguyên Lạc)

VỀ CHỮ ROMANCE

Romance (danh từ)
- Câu chuyện tình lãng mạn; mối tình lãng mạn.
- Sự mơ mộng, tính lãng mạn.
Romantic
(Tính từ): - Lãng mạn, xa thực tế,
-Viển vông, hão huyền,
(Danh từ): Người lãng mạn
Romantic love tiếng Pháp là Romance d’amour
@_Về âm nhạc
Về âm nhạc, Romance thường được hiểu là “Tình ca” , là loại nhạc viết cho guitar, xuất phát từ Tây Ban Nha . Thuật ngữ Romance thoạt đầu mang ý nghĩa “Bài hát thế tục” để phân biệt với các ca khúc Tôn giáo bằng tiếng Latinh. Dần dần, ngôn từ Romance được phổ biến, phát triển rộng rãi ra ngoài biên giới Tây Ban Nha và trở thành tên gọi cho một thể loại "thơ ca trữ tình" Đến đầu thế kỷ 19, Romance mới được khẳng định như thể loại ca khúc nghệ thuật hàn lâm, phổ biến trong giới quý tộc.

*
Người Việt chúng ta hình như mang tính vọng ngoại, cái gì của người khác, nhất là của Trung Quốc, của Tây Phuơng đều hít hà khen ngợi, chê cái của riêng mình.  Khi liên hệ đến tình lãng mạn (Romance, romantic love) ai cũng thường cho là chuyện "ông Tây bà Đầm" Romeo & Juliet hoặc "Phượng Cầu Hoáng" - Tương Như & Trác Quân, Thôi Hộ... của Tàu là nhất. Họ đâu biết chúng chỉ là hư cầu, hoặc có "ý đồ", chưa lãng mạn "tới bến" làm người đầy lệ cảm thương như những chuyện của Việt Nam : Trương Chi & Mị Nương , Phạm Thái & Trương Quỳnh Như...
Ta thử lần lượt xét từng chuyện tinh lãng mạn

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2018

TẠI SAO NGƯỜI BÌNH ĐỊNH, PHÚ YÊN GỌI LÀ "DÂN NẪU" ?


       

           TẠI SAO NGƯỜI BÌNH ĐỊNH, PHÚ YÊN  
           GỌI LÀ "DÂN NẪU" ?

Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan có bổn phận đưa lưu dân nghèo không sản nghiệp khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú yên bây giờ). Sau 33 năm khai phá vùng đất mới, hình thành làng mạc, năm 1611 chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên. Do đặc điểm của vùng đất mới còn hoang hóa, dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính của vùng biên viễn có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp Thuộc, dưới Thuộc là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như Phường, Nậu, Man.
Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lụa, phường Sông Nhiễu.
Nậu là tổ chức quản lý một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu gọi là đầu Nậu.
Ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm...
Do sự phát triển của xã hội Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chu (1697-1738) cử Đại ký lục chính danh Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi, chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính như “Thuộc”, “Nậu” bị xóa bỏ.
Khái niệm thành tố chung cấp hành chính “Nậu” được biến nghĩa dùng để gọi người đứng đầu trong đám người nào đó và sau này dùng để gọi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba.
Từ “Nậu” không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ. Ví dụ:

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2018

THỪA THIÊN TỨ BẤT, BẮC NINH TỨ VẬT, ỨNG HÒA TỨ VẬT, SƠN TÂY TỨ MẠC, NGHI XUÂN TỨ VẬT - Sưu Tầm


       

Tất cả những câu dưới đây đều là lời truyền miệng trong dân gian, không có lời nào do tôi hoặc ai đó bịa đặt ra. Và việc ghi chép lại đây chỉ nhằm trước là hầu chuyện, sau là để chư vị bổ sung các“tứ vật”,“tứ bất”,“tứ mạc” nữa mà các vị được biết, hoặc các cách lý giải khác về các “tứ vật”,“tứ bất”,“tứ mạc” dưới đây.


      *1- THỪA THIÊN TỨ BẤT

          Bất giao Nguyệt Biều hữu
          Bất thú Dạ Lê thê
          Bất ẩm Thạch Hàn thủy
          Bất thực Lương Quán kê.

         (Chớ kết bạn với dân Nguyệt Biều
         Chớ lấy con gái Dạ Lê
         Chớ uống nước ở Thạch Hàn
         Chớ ăn thịt gà Lương Quán.)


Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM - Hồ Đình Vũ




SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM
                                                                           Hồ Đình Vũ

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó...riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy ?
Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.
Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác - để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

1.- Tên do địa hình, địa thế 
Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, Tỉnh Bến Tre: “Gió đưa gió đẩy, / về rẫy ăn còng, / về bưng ăn cá, / về giồng ăn dưa…’’

         

 - Giồng: Là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát:“trên đất giồng mình trồng khoai lang…’’ 
Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một Quận (Huyện). Lại nhắc đến một câu hát khác:“Ai dzìa Giồng Dứa qua truông. Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…’’ Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Lương đến Cầu Long Định, ở bên phải Quốc Lộ 4Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn). Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì ?
Truông: Là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. Ở vùng Dĩ An có Truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có Truông nhà Hồ.
 “Thương em anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang’’. Tại sao lại có câu ca dao này ? Ngày xưa Truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017

NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT, PHẦN IV : THƠ HÌNH - La Thụy sưu tầm và biên tập

Sau khi giới thiệu dạng thơ bình thanh, dạng thơ đọc nhiều cách, dạng thơ Việt đệm ngoại ngữ và dạng thơ nói lái đến quý bạn đọc. Hôm nay, chúng tôi mời quý bạn đọc thưởng thức thêm một dạng thơ Việt Nam đặc biệt thứ tư nữa, đó là dạng thơ hình

        
                              La Thụy


     NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT
                      PHẦN IV : THƠ HÌNH
    
1/ THƠ HÌNH THOI  
  
                               MƯA RÀO

                                     Mưa
                                 Lưa thưa
                               Vài ba giọt…
                             Ai khóc tả tơi ,
                         Giọt lệ tình đau xót?...
                    Nhưng mây mù tịt, gió đưa
                   Cây lá rụng xào xạc giữa trưa.
            Mưa đổ xuống ào ạt, mưa, mưa, mưa !
         Thời gian trôi tan tác theo tiếng mưa cười!
       Không gian dập vùi tan nát theo thác mưa trôi          
   Đàn em thơ nhào ra đường, giỡn hớt chạy dầm mưa 
Cỏ hoa mừng nên vận hội, ngả nghiêng tắm gội say sưa
                 Nhưng ta không vui, không mừng. 
                     Lòng không ca, không hát!
          Ta đưa tay ra trời, xin giòng mưa thấm mát.
          Tưới vết thương, lòng héo hắt tự năm xưa!
          Nhưng, ô kìa! Mưa rụng, chóng tàn chưa!
                  Trời xanh xanh, mây bay tan tác.
                        Ai còn ươm hạt mưa đào,
                         Lóng lánh trong tim hoa
                               Ai ươm mơ sầu
                               Ôi mong manh,
                                   Trong tim
                                        Ta !
   
                               (NGUYỄN VỸ)  


Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT, PHẦN III : THƠ NÓI LÁI - La Thụy sưu tầm và biên tập

Sau khi giới thiệu dạng thơ bình thanh, dạng thơ đọc nhiều cách và dạng thơ Việt đệm ngoại ngữ đến quý bạn đọc. Hôm nay, chúng tôi mời quý bạn đọc thưởng thức thêm một dạng thơ Việt Nam đặc biệt nữa, đó là dạng thơ nói lái     

         
                              La Thụy

     NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT - PHẦN III :
                                       THƠ NÓI LÁI

Những nhà thơ chuyên viết dạng thơ nói lái là nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhà thơ Bùi Giáng, nhà thơ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi, nhà thơ Võ Quê.

Đọc thơ HỒ XUÂN HƯƠNG, chúng ta thấy bà nói lái thật dí dỏm:

     Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
     Trái gió cho nên phải lộn lèo. 
                          (Kiếp Tu Hành)

     Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
     Hỏi thăm Sư cụ đáo nơi neo.
     Chày kình, tiểu để suông không đấm,
     Tràng hạt, vải lần đếm lại đeo. 
                           (Chùa Quán Sứ)

     Đang cơn nắng cực chửa mưa hè,
     Rủ chị em ra tát nước khe. 
                             (Tát nước)

     Thú vui quên cả niềm lo cũ
     Kìa cái diều ai nó lộn lèo. 
                        (Quán Khách)  


Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT PHẦN II : THƠ ĐỌC NHIỀU CÁCH, THƠ VIỆT ĐỆM NGOẠI NGỮ - La Thụy sưu tầm


                    
                           La Thụy


 NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT PHẦN II : 
 THƠ ĐỌC NHIỀU CÁCH, THƠ VIỆT ĐỆM NGOẠI NGỮ

 Ngoài DẠNG THƠ BÌNH THANH đã đăng :

  a/ http://www.art2all.net/tho/lathuy/dangthobinhthanh.htm
  b/ http://phudoanlagi.blogspot.com/2011/09/dang-tho-binh-thanh_21.html

Sau đây, mời các bạn đọc một số dạng thơ đặc biệt khác.


   I - THƠ ĐỌC NHIỀU CÁCH 

      1. Đọc theo 2 cách: 
 
       ĐỀ TRANH MỸ NỮ
        (Thuận nghịch độc) 

       Đọc xuôi:  
         
       Hương tiên gác vắng nhặt ca oanh            
       Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh                      
       Sương đỉnh trướng gieo từng dục mộng,                            
       Nguyệt bên rèm tỏ dễ si tình.                      
       Vàng thưa thớt cúc tan hơi dạm,                            
       Lục phất phơ sen đọ rạng thanh                          
       Trang điểm ngại chăm dừng trục gấm                              
       Phòng tiêu lạnh lẽo khoá xuân xanh.
                                             
       Đọc ngược (theo âm Hán Việt):
                             
      Thanh xuân toả liễu lãnh tiêu phòng                          
      Cẩm trục đình châm ngại điểm trang.                          
      Thanh rạng độ liên phi phất lục,                            
      Đạm hi tan cúc thát sơ hoàng.                                
      Tình si dị tố liêm biên nguyệt,                            
      Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương.                              
      Tranh khúc cưỡng khiêu sầu mỗi bận,                            
      Oanh ca nhật vĩnh các tiên hương                
                                     PHẠM THÁI

      2. Đọc theo 6 cách:

      CỬA SỔ ĐÊM KHUYA

      Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
      Lạ cảnh thêm buồn nợ vấn vương
      Tha thiết liễu in hồ gợn bóng
      Hững hờ mai thoáng gió đưa hương
      Xa người nhớ cảnh tình lai láng
      Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
      Qua lại yến ngàn dâu ủ lá                    
      Hòa đàn sẵn có dế bên tường                        
                        HÀN MẶC TỬ

     Cách đọc 1:   Đọc xuôi
     Cách đọc 2 :  Đọc ngược
     Cách đọc 3 :  Bỏ 2 chữ đầu  ở mỗi câu đọc xuôi
     Cách đọc 4:   Bỏ 2 chữ sau ở mỗi câu đọc xuôi
     Cách đọc 5 :  Bỏ 2 chữ đầu ở mỗi câu đọc ngược
     Cách đọc 6 :  Bỏ 2 chữ sau ở mỗi câu đọc ngược  

Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

ẢNH MÀU MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ PHÁP THUỘC 1914 - 1920


Đối với những người quan tâm về Việt Nam, Viện Bảo Tàng Albert Kahn vùng ngoại ô Hauts-de-Seine sát cạnh Paris là một địa chỉ không thể bỏ qua. Đây là nơi lưu trữ một bộ sưu tập hiếm hoi ảnh màu về Việt Nam chụp ngay từ đầu thế kỷ 20, thời ngành nhiếp ảnh vẫn còn sơ khai. Giá trị của bộ sưu tập này rất lớn vì nó giúp cho các thế hệ hiện nay thấy rõ được bằng hình ảnh, với màu sắc rõ ràng, một phần diện mạo của Việt Nam cách nay một thế kỷ. (Trích RFI)


Bộ sưu tập: Archives de la Planète
© Musée Albert Kahn - Département des Hauts-de-Seine



Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

CÂU ĐỐI TẾT XƯA VÀ NAY - La Thụy sưu tầm và biên tập


                      
                                La Thụy 



                     CÂU ĐỐI TẾT XƯA VÀ NAY

                                                              La Thụy sưu tầm và biên tập
  
    Tiêu đề của bài viết là CÂU ĐỐI TẾT nhưng hình minh họa đầu tiên không phải là câu đối và cũng không đề cập gì đến Tết. Hơn nữa, hình thức trình bày lại bất cân phương như dạng thơ lục bát. Vâng, đó chính là hai câu "Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai" trích trong bài thi kệ "Cáo Tật thị chúng" của Mãn Giác Thiền sư. Tuy không phải là câu đối nhưng chữ thư pháp quá đẹp. Hơn nữa ý thiền tràn ngập, hương xuân thơm ngát nên tôi đưa lên trên các câu đối khác. 


Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận 
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai 
(Mãn Giác thiền sư)



Nguyễn Tôn Nhan (1948 - 2011)

 
















Lộc tiến vinh hoa gia đường thịnh 
Phúc sinh phú quý tử tôn vinh 


    Ở câu đối này, chữ PHÚ (富) trong vế đối thứ hai (phía trái), người viết thư pháp viết nhầm thành chữ PHÚC (福) 
    Không những chỉ riêng câu đối này, một số câu đối khác cũng không được chuẩn lắm. 
    Ví dụ câu đối:" Xuân tha hương sầu thương về QUÊ mẹ / Tết xa nhà buồn bã nhớ QUÊ cha", bị lặp từ QUÊ và cùng thanh bằng trong mỗi vế.
    Nếu chỉnh lại ĐẤT MẸ thì đối chuẩn hơn. 
    Hoặc câu: "Niên hữu tứ thời xuân VI thủ / Nhân sinh bách hạnh hiếu VI tiên".  
    Câu đối gốc vốn là "xuân TẠI thủ"
    Nhìn chung, ngoài những câu đối của các nhà nho, nhà thơ nổi tiếng, vẫn còn một số câu đối còn chưa chỉnh về từ loại, về ý, về thanh, … tôi sưu tầm và tải lên để thư giản trong những ngày cuối năm. Chúc quý bạn có nhiều niềm vui nhé!  

                                                               La Thụy sưu tầm và biên tập


Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

DẠNG THƠ BÌNH THANH - La Thụy sưu tầm và biên tập





        DẠNG THƠ BÌNH THANH                          

        Thi ca Việt Nam vừa phong phú súc tích về nội dung, cú pháp, ngôn từ; vừa đa dạng về thể loại (thất ngôn, bát ngôn, tứ tuyệt, bát cú, lục bát, song thất lục bát, thơ tự do…) Hầu như thơ các nước như Trung Hoa, Nhật Bản, thơ các nước Tây phương đều gieo vần ở cuối câu (VẦN CHÂN – CƯỚC VẬN), thơ Việt Nam còn gieo thêm vần ở giữa câu (VẦN LƯNG – YÊU VẬN) như trong thể THƠ LỤC BÁT, THƠ SONG THẤT LỤC BÁT (có khi còn gieo nhiều vần trong một câu). Ngoài ra, nhiều nhà thơ Việt Nam còn sáng tạo thêm nhiều dạng thức mới như : thơ đọc nhiều cách, thơ hình, thơ Việt chèn ngoại ngữ, thơ bình thanh... Hôm nay, tôi xin giới thiệu DẠNG THƠ BÌNH THANH đến các bạn yêu thơ