BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI KỶ HỢI 2019 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU TẦM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU TẦM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2019

BÀN VỀ CÔNG NGHỆ VIỄN THÔNG 5G


                           Thế giới đang bước vào giai đoạn công nghệ viễn thông 5G


            BÀN VỀ CÔNG NGHỆ VIỄN THÔNG 5G

Trước tiên, xin mạn phép giải nghĩa cho những người bình thường, ít quan tâm đến những thuật ngữ. Chữ G trong 2G, 3G, 4G và 5G mà chúng ta thường nghe gần đây, là viết tắt của chữ Generation, nghĩa là thế hệ. 5G là thế hệ thứ 5 của công nghệ điện thoại di động. Mạng 5G, nếu hiện giờ được phát triển ở VN thì cũng không khác nào việc xây dựng đường cao tốc cho bò đi như một số nơi ở ngoài Bắc hiện nay. Có bao nhiêu người VN hiện nay đang có nhiều hơn một chục thiết bị thông minh, luôn kết nối với internet tại nhà? Không phải tôi có ý xem thường người dân Việt, nhưng đây lại là sự thật.

            

             

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2019

CỘNG ĐỒNG THIỂU SỐ DÂN TỘC KINH Ở QUẢNG TÂY

Nguồn:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kinh_Tam_%C4%90%E1%BA%A3o_(Qu%E1%BA%A3ng_T%C3%A2y)

                       Vị trí Tam Đảo (Quảng Tây) mà thiểu số dân tộc Kinh sinh sống


  CỘNG ĐỒNG THIỂU SỐ DÂN TỘC KINH Ở QUẢNG TÂY

Đối với chúng ta, rất ít người biết có một cộng đồng rất nhỏ (khoảng 22,000) người Jing (người Kinh) sống ở Tam Đảo (Quảng Tây, Trung Cộng) là một “khám phá” gây nhiều cảm xúc. Rồi lúc được biết họ đã rời xa Việt Nam 500 năm mà vẫn cố gắng duy trì bản sắc văn hóa dân tộc Việt trước sức đồng hóa rất mạnh của Trung Cộng, xem những điệu múa, đánh đàn bầu, nghe họ hát tiếng Việt làm ta xúc động…

Vào khoảng thế kỷ 16, có một số người Việt di cư lên phía bắc lập nghiệp ở vùng Trường Bình – Bạch Long. Vùng đất đó bấy giờ thuộc Đại Việt nhưng theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh thì Trường Bình bị sáp nhập vào nước Trung Hoa. Người Kinh tại đây là một trong số 56 dân tộc được công nhận tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2019

VỊ VÕ QUAN TRIỀU NGUYỄN CỦA LÀNG ĐIẾU NGAO (ĐÔNG HÀ, QUẢNG TRỊ) - Hoàng Triêm sưu tầm


   
                Đền thờ Ngài Phó Vệ uý Cẩm y Hoàng Văn Quý


VỊ VÕ QUAN TRIỀU NGUYỄN CỦA LÀNG ĐIẾU NGAO (ĐÔNG HÀ, QUẢNG TRỊ)

Ngài Phó Vệ uý Cẩm y Hoàng Văn Quý thuộc chi Đệ Nhị, họ Hoàng Phái Nhất, làng Điếu Ngao, nay là Phường 2, Thành phố Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị.
Nhân kỷ niệm 178 năm ngày mất của Ngài, để tỏ lòng ngưỡng vọng đối với vị Võ quan triều Nguyễn đã “Vị quốc vong thân”, chúng tôi xin trích dẫn những tư liệu lịch sử có liên quan đến hành trạng của Ngài được sách Đại Nam Thực Lục (Phần chính biên), bộ sử ký viết theo thể biên niên của triều Nguyễn ghi chép:
• Tháng 9 năm 1833 (Minh Mạng thứ 14) “Cho Cai đội vệ Cẩm y Hoàng Văn Quý làm Quản cơ, Thự Phó vệ uý vệ Định Võ, Tả dinh quân Thần Sách phải đi ngay Sơn Tây đốc suất vệ binh và đóng lại đồn thú ở đó”. ( Đại Nam Thực Lục, NXB Giáo Dục, tập 3, trang790).
• Tháng 2-1834 ( Minh Mạng 15 ) “Nhân việc Đề Đốc đạo Trấn Tĩnh, tỉnh Nghệ An đánh nhau với giặc Xiêm bị thua. Thự Phó vệ uý vệ Định Võ Hoàng văn Quý được lựa phái mang 100 quân đến Tấn Sở, Quy Hợp, Nghệ An đóng giữ quân lương làm thanh thế cứu viện từ xa” (Sách đã dẫn, tập 4, trang 80).
• Tháng 3-1840( Minh Mạng 21) “Cho Phó vệ uý vệ Hậu dinh Long Võ Hoàng Văn Quý đổi bổ làm Phó vệ uý vệ Cẩm Y chuyên quản các đội quân Thường Trực và Trường Trực”. (Sách đã dẫn, tập 5, trang 812).
• Tháng 9-1840( Minh Mạng 21).
“Vua sai Phó vệ uý Cẩm y Hoàng Văn Quý đi An Giang, đều theo thượng ty sở tại sung đem lính dõng tới nơi quân thứ đánh dẹp”. (Sách đã dẫn, tập 5, trang 675).
• Tháng 10-1840( Minh Mạng 21).
“Chuẩn cho Tổng Đốc Dương Văn Phong rút về An Giang, đốc suất với Thự Lãnh Binh Nguyễn Duy Tráng và Quản Vệ ở Kinh phái ra Hoàng Văn Quý chia đi các huyện Thượng Phong, Phong Nhương ở Nghi Hoà và Hà Âm, Hà Dương ở Tịnh Biên, tìm bắt bọn giặc đều có chuyên trách”. (Sách đã dẫn, tập 5, trang 820).
• Tháng 11-1840( Minh Mạng 21).
“Vua dụ: Xem lời tâu thì Lê Quang Huyên tựa hồ có ý sợ khó, tránh chỗ nọ tới chỗ kia, không nghĩ đến việc nước. Chuẩn cách bỏ hàm Tham Tri Bộ Binh. Còn Dương Văn Phong thì lập tức cùng với Lãnh Binh Nguyễn Duy Tráng và Quản Vệ Hoàng Văn Quý đi ngay đến Tịnh Biên đánh dẹp, nhận việc ấy làm trách nhiệm của mình”. (Sách đã dẫn, tập5, trang 845).
• Tháng 11-1840 (Minh Mạng 21).
“Dương Văn Phong về đến An Giang, thương lượng và uỷ cho Nguyễn Duy Tráng mang 300 quân đi đến phủ hạt Tịnh Biên đánh dẹp, còn mình và Hoàng Văn Quý quản lĩnh 700 binh dõng thẳng đến phủ hạt Nghi Hoà. Lúc này ở huyện Phong Nhương có bon giặc đang tụ họp, Tổng Đốc Dương Văn Phong và Quản Vệ Hoàng Văn Quý đã đánh tan bọn thổ phỉ, số còn lại đều chạy trốn vào rừng”. ( Sách đã dẫn, tập 5, trang 851).
• Tháng11-1840. “Tin thắng trận tâu lên, Vua khen ngợi, thưởng cho quan quân đi đánh chuyến ấy Cấp, Kỷ, tiền bạc có thứ bậc. Lại dụ rằng, chuẩn cho Dương Văn Phong liệu lượng để lại cho Hoàng Văn Quý cùng 300 đến 400 biền binh chuyên ở Nghi Hoà còn Dương Văn Phong lập tức quay về Tịnh Biên đốc suất cùng Nguyễn Duy Tráng đánh dẹp cho yên mặt ấy”. (Sách đã dẫn, tập 5, trang 852).
•T háng 1-1841 (Thiệu Trị thứ nhất). “Bọn giặc tụ họp ở xứ Liệt Điệt, Hà Tiên. Tổng Đốc Dương Văn Phong cùng Cẩm Y Phó vệ uý Hoàng Văn Quý cùng chia đường tiến đánh, lấy luôn được bốn đồn, thừa thắng chuyển sang ở Cần Sư. Phong cùng Lãnh Binh Nguyễn Duy Tráng và Phó Vệ Uý Cẩm Y Hoàng Văn Quý, Quản Cơ Trần Tri và Trần Văn Hoằng đẵn phá nơi đường tắt hiểm trở, đánh phá được sào huyệt của bọn giặc ở hai núi Chân Chiêm và Tham Đăng. Lại phục binh ba mặt đánh ập lại, chém ngay ở mặt trận được ba tên đầu mục và 20 tên đồng đảng, còn thì bắn chết đâm chết cũng nhiều, lấy được khí giới các hạng. Vua thấy quân ta thắng luôn mấy trận rất khen ngợi, thưởng cho các loại nhẫn vàng, kim tiền Phi Long hạng to, nhẫn vàng mặt thuỷ tinh cùng gia thưởng Quân công kỷ lục có thứ bậc”. ( Sách đã dẫn, tập 6, trang 44).
• Tháng 2-1841(Thiệu Trị thứ nhất).
“Nghe tin bọn giặc có 2000 đứa tụ họp ở cổ thành Lò Gò, Phong lập tức chia quân làm 3 đạo sấn lên trước đánh dẹp rất dữ, các đạo quân chém được mười thủ cấp, đâm và bắn chết vài chục tên giặc, giặc bỏ thành chạy trốn. Dương Văn Phong lại dâng tập Thỉnh An: đến như vùng Nghi Hoà thần xin tự mình cùng Quản Vệ ở Kinh phái ra là Hoàng Văn Quý tự đem binnh dõng đi đến nã bắt bọn thổ phỉ (giặc Chân Lạp, giặc Man). Vua chuẩn y, thưởng cho Phong và Quý tiền, áo quần và nhẫn vàng”. (Sách đã dẫn, tập 6, trang 94 và 95)
•Tháng 3-1841 (Thiệu Trị thứ nhất). “Bọn giặc Thổ và giặc Thanh trốn vào các xứ Mã Tộc và Sóc Trăng, đồ đảng đến hơn 6000 tên. Phong tập hợp binh dõng được hơn 1200 quân, chia làm 3 đạo. Phó vệ uý Thần cơ Trung vệ Phạm văn Đại, Phó cơ Chu văn Tuyên, Nguyễn văn Nội đốc suất quân Trung đạo. Phó quản cơ Nguyễn văn Tuấn, Thí sai (tập sự) Phó cơ Nguyễn văn Niên, Bang biện ( trợ lý ) Phó cơ Nguyễn văn Nhạn, Lê văn Thú đốc suất quân Tiền Đạo. Phó vệ uý Cẩm y Hoàng văn Quý, Thí sai Phó cơ Trần văn Nguyệt, Bang biện Phó cơ Nguyễn văn Long đốc suất quân Hậu Đạo, định ngày tiến quân đi đánh. Đến ngày tiến quân Tráng ra hiệu cho quân các Đạo tiến vào. Lúc ấy bọn giặc đương mở tiệc uống rượu, đều bỏ chạy trốn. Các binh dõng đi đấy đều tranh nhau xông vào, người thì cướp lấy tài vật, kẻ thì ngồi xuống ăn uống, ngã cờ, vất khí giới, không chuẩn bị một chút nào. Bọn giặc thừa cơ đánh úp toán quân Hậu Đạo, giết hại quân lính, cướp lấy súng và khí giới. Hoàng văn Quý kêu gọi quân cứu viện, Tráng nói truyền đi là không có quân nào cứu viện được. Bọn giặc nghe thấy nói thế, càng đánh gấp. Văn Quý và Văn Nguyệt đều bị bọn giặc đâm chết, quân Hậu Đạo bị tan rã, quân hai đạo Trung và Tiền vất cả khí giới mà chạy” .
Ngoài những trích dẫn từ sách Đại Nam Thực Lục ở trên, một số thông tin có liên quan đến ngài Hoàng văn Quý từ những nguồn khác được trích dẫn lại:
“Trấn thủ Nam Định Lê Mậu Cúc, Phó Vệ uý Trang võ Phạm văn Toản, Phó Vệ uý Cẩm y Hoàng văn Quý, Cai đội Nguyễn văn Hoà, Hồ văn Vạn, Mai văn Biên, Nguyễn văn Phú, Thành Thủ uý Dương Phúc Tứ, Án sát Thái Nguyên Nguyễn Mưu đều người huyện Đăng Xương và lần lượt chết trận được liệt thờ ở đền Trung Nghĩa”. ( Đại Nam Nhất Thống Chí, NXB Thuận Hoá, Tập 1, trang 289).
• Trong văn tế hàng năm ở đình làng Điếu Ngao, “Trước năm 1972, sau tiên tổ 5 Họ, danh sách mời kế tiếp là:
- Đinh Tri phủ quý công.
- Cai tổng nhị vị.
- Chánh phó lãnh binh Hoàng quý công tam vị: đây là ba ngài thuộc họ Hoàng 1, theo ông Hoàng văn Dự, chỉ hai ngài làm chánh phó lãnh binh thật, còn một ngài được triều đình phong tặng vì đã sinh hạ ra quan. Các vị này, vì có công đức với làng, được làng đưa vào thờ ở đình làng, gọi là hâu thần.” ( Hoàng Đằng, Chuyện Làng Tôi, trang 19).
“Ngài được Triều đình Huế tặng Phấn Dũng Tướng Quân. Sau khi hy sinh Ngài được phong tặng Phó Lãnh Binh, có án thờ tại đình Trung Nghĩa từ năm 1847 ở kinh thành Huế. Thân phụ ngài có Sắc tặng Tín Nghĩa Đô Uý, thân mẫu có Sắc tặng Vi Cung Nhơn. Sau khi Ngài hy sinh, con trai trưởng của Ngài được Tập ấm Phó Quản Cơ, cháu nội trưởng của Ngài được Sắc tặng Tùng Tinh Anh- Danh Giáo Dưỡng”. (Gia phả gia đình) .
• Gia phả viết: “Ngài hy sinh tháng 3 năm 1841, thi hài không mang về được quê nhà, gia đình làm mộ gió và nhờ thầy Pháp chiêu hồn liệm cốt”.
Chúng ta cùng kính cẩn nghiêng mình trước anh linh ngài Phó Vệ uý Cẩm y Hoàng văn Quý nhân kỷ niệm 178 năm ngày mất của Ngài, Người đã hy sinh thân xác của mình để giữ vững cương thổ và mở rộng bờ cõi ở vùng đất phương Nam của Tổ Quốc.

                                                                    Hoàng Triêm sưu tầm
                                                                         (Tháng 3 / 2019)

            


Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

VIẾT CHÍNH TẢ VIỆT NAM THEO QUY ƯỚC CƠ BẢN: DÙNG DẤU HỎI - NGÃ

Nguồn:
http://khanh3721.blogspot.com/2018/08/viet-chinh-ta-vietnam-qui-uoc-co-ban.html

 

    VIẾT CHÍNH TẢ VIỆT NAM THEO QUY ƯỚC CƠ BẢN:
    DÙNG DẤU HỎI – NGÃ

Chỉ nhắc cái cơ bản dễ nhớ để viết chính tả tương đối ổn và hạn chế lỗi ở mức thấp nhất.

1. DÙNG TỪ LÁY THEO QUI ƯỚC :

– Dấu Hỏi đi với Sắc và Ngang.
– Dấu Ngã đi với Huyền và Nặng.

HỎI + SẮC :

– Gởi gắm, thổn thức, rải rác, khoảnh khắc, rẻ rúng, tử tế, cảnh cáo, sửng sốt, hảo hán, phản phúc, phản kháng, rửa ráy, quả quyết, khủng khiếp, khỏe khoắn, nhảm nhí, lở loét, lảnh lót, bảo bối, thưởng thức, thẳng thắn, thảng thốt, hiển hách, nhỏ nhắn, chải chuốt, rả rích, phảng phất, lả lướt, bổ báng, sản xuất.

– Mát mẻ, sắc sảo, mắng mỏ, vất vả, hối hả, hớn hở, xối xả, bóng bẩy, nóng nảy, sắp sửa, sắm sửa, hớt hải, lấp lửng, khúc khuỷu, tá lả, rác rưởi, trống trải, cứng cỏi, sáng sủa, sến sẩm, xấp xỉ, lém lỉnh, láu lỉnh, ngắn ngủi, chống chỏi, hốt hoảng, rắn rỏi, tức tưởi, chúi nhủi, nhắc nhở, nức nở, sấn sổ, ngất ngưởng, thắc thỏm, thấp thỏm, trắc trở, tráo trở, béo bở, ngái ngủ, gắt gỏng, kém cỏi, khấp khểnh, cáu kỉnh, kháu khỉnh, thất thểu, khốn khổ, tán tỉnh, ngúng nguẩy.

HỎI + NGANG :

– Nhỏ nhen, nhởn nhơ, ngẩn ngơ, vẩn vơ, lẳng lơ, lẻ loi, hỏi han, nở nang, nể nang, ngổn ngang, dở dang, giỏi giang, sửa sang, thở than, mỏng manh, chỉn chu, dửng dưng, trả treo, tả tơi, bỏ bê, mải mê, chở che, bảnh bao, hẩm hiu, phẳng phiu, khẳng khiu, rủi ro, mỉa mai, trẻ trung, nghỉ ngơi, ngủ nghê, tỉ tê, xỏ xiên, ngả nghiêng, đảo điên, hiển nhiên, lẻ loi, thảnh thơi, sản sinh.

– Dư dả, chăm chỉ, năn nỉ, thư thả, thon thả, thoang thoảng, trong trẻo, trăn trở, vui vẻ, thơ thẩn, thanh thản, mơn mởn, xăm xỉa, lêu lổng, hư hỏng, căng thẳng, dai dẳng, xây xẩm, san sẻ, xoay sở, hăm hở, xa xỉ, ngoe nguẩy, phe phẩy, đông đủ, tanh tưởi, chưng hửng, tiu nghỉu, sang sảng, nham nhở, chao đảo, gây gổ, sơ hở, cơ sở, tin tưởng, năng nổ, cưa cẩm, thăm thẳm, đưa đẩy, tưng tửng, say xỉn

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

THƠ TÌNH “IT” (INFORMATION TECHNOLOGY'S LOVE POEM)


    


THƠ TÌNH “IT”
(INFORMATION TECHNOLOGY'S LOVE POEM)

Anh đã viết thư tình trên Net
Gửi em yêu nhưng không thấy Reply
Và mỗi lần anh thử Retry
System hỏi User name và password......
Em vội bước ra đi quên Logoff
Chẳng một lời dù chỉ tiếng Standby
Em quên hết kỷ niệm xưa đã Add
Quẳng tình anh vào khoảng trống Recycle Bin.
Anh vẫn đợi trên nền xanh Desktop
Bóng em vừa Refresh hồn anh
Từng cú Click em đi vàonỗi nhớ
Trong tim anh... Harddisk... dần đầy.
Anh ghét quá, muốn Clean đi tất cả
Nhưng phải làm sao khi... chẳng biết Username
Hay mình sẽ một lần Full Format
Em đã change... Password cũ còn đâu!
Anh sẽ cố một lần anh sẽ cố
Sẽ Retry cho đến lúc Error.
Nhưng em hỡi làm sao anh có thể ..
Khi Software anh dùng... đã hết Free Trial
Hình bóng em vẫn mãi Default...
Trái tim anh, em Select bằng Mouse
Chốn hẹn hò: Forum - Internet
Lời yêu thương truyền bằng phương thức Get
Nhận dáng hình qua địa chỉ IP
Nếu một mai em vĩnh viễn ra đi
Anh sẽ chết giữa muôn ngàn biển Search
Lời tỏ tình không dễ gì Convert
Lưu ngàn đời vào biến Constant
Anh nghèo khó mang dòng máu Sun
Em quyền quý với họ Microsoft
Hai dòng Code không thể nào hoà hợp
Dẫu ngàn lần Debug em ơi
Sao không có một thế giới xa xôi
Linux cũng thế mà Windows cũng thế

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

PHỤ NỮ THẬT SỰ MUỐN GÌ?


baomai.blogspot.com

PHỤ NỮ THẬT SỰ MUỐN GÌ?

Vua Arthur trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và bắt giữ. Lẽ ra vua nước Pháp sẽ giết ngài, nhưng vẻ trẻ trung dễ mến của Arthur đã làm cho vua Pháp cảm động. Ông hứa sẽ trả tự do cho Arthur nếu giải được câu đố vô cùng khó. Thời hạn trả lời là một năm, không giải được Arthur sẽ phải chết.

Câu đố là: PHỤ NỮ THẬT SỰ MUỐN GÌ?

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

NHỮNG MỐI TÌNH LÃNG MẠN - Nguyên Lạc


       
                   Tác giả Nguyên Lạc


       NHỮNG MỐI TÌNH LÃNG MẠN
                                             Nguyên Lạc

       Sụt sùi tình lệ giãi bày
       Khốc văn một bức tuyền đài gởi em!
       (Viết giùm Phạm Thái gởi Quỳnh Như - Nguyên Lạc)

VỀ CHỮ ROMANCE

Romance (danh từ)
- Câu chuyện tình lãng mạn; mối tình lãng mạn.
- Sự mơ mộng, tính lãng mạn.
Romantic
(Tính từ): - Lãng mạn, xa thực tế,
-Viển vông, hão huyền,
(Danh từ): Người lãng mạn
Romantic love tiếng Pháp là Romance d’amour
@_Về âm nhạc
Về âm nhạc, Romance thường được hiểu là “Tình ca” , là loại nhạc viết cho guitar, xuất phát từ Tây Ban Nha . Thuật ngữ Romance thoạt đầu mang ý nghĩa “Bài hát thế tục” để phân biệt với các ca khúc Tôn giáo bằng tiếng Latinh. Dần dần, ngôn từ Romance được phổ biến, phát triển rộng rãi ra ngoài biên giới Tây Ban Nha và trở thành tên gọi cho một thể loại "thơ ca trữ tình" Đến đầu thế kỷ 19, Romance mới được khẳng định như thể loại ca khúc nghệ thuật hàn lâm, phổ biến trong giới quý tộc.

*
Người Việt chúng ta hình như mang tính vọng ngoại, cái gì của người khác, nhất là của Trung Quốc, của Tây Phuơng đều hít hà khen ngợi, chê cái của riêng mình.  Khi liên hệ đến tình lãng mạn (Romance, romantic love) ai cũng thường cho là chuyện "ông Tây bà Đầm" Romeo & Juliet hoặc "Phượng Cầu Hoáng" - Tương Như & Trác Quân, Thôi Hộ... của Tàu là nhất. Họ đâu biết chúng chỉ là hư cầu, hoặc có "ý đồ", chưa lãng mạn "tới bến" làm người đầy lệ cảm thương như những chuyện của Việt Nam : Trương Chi & Mị Nương , Phạm Thái & Trương Quỳnh Như...
Ta thử lần lượt xét từng chuyện tinh lãng mạn

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2018

TẠI SAO NGƯỜI BÌNH ĐỊNH, PHÚ YÊN GỌI LÀ "DÂN NẪU" ?


       

           TẠI SAO NGƯỜI BÌNH ĐỊNH, PHÚ YÊN  
           GỌI LÀ "DÂN NẪU" ?

Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan có bổn phận đưa lưu dân nghèo không sản nghiệp khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú yên bây giờ). Sau 33 năm khai phá vùng đất mới, hình thành làng mạc, năm 1611 chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên. Do đặc điểm của vùng đất mới còn hoang hóa, dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính của vùng biên viễn có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp Thuộc, dưới Thuộc là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như Phường, Nậu, Man.
Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lụa, phường Sông Nhiễu.
Nậu là tổ chức quản lý một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu gọi là đầu Nậu.
Ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm...
Do sự phát triển của xã hội Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chu (1697-1738) cử Đại ký lục chính danh Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi, chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính như “Thuộc”, “Nậu” bị xóa bỏ.
Khái niệm thành tố chung cấp hành chính “Nậu” được biến nghĩa dùng để gọi người đứng đầu trong đám người nào đó và sau này dùng để gọi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba.
Từ “Nậu” không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ. Ví dụ:

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2018

THỪA THIÊN TỨ BẤT, BẮC NINH TỨ VẬT, ỨNG HÒA TỨ VẬT, SƠN TÂY TỨ MẠC, NGHI XUÂN TỨ VẬT... - La Thụy sưu tầm


       

Tất cả những câu dưới đây đều là lời truyền miệng trong dân gian, không có lời nào do tôi hoặc ai đó bịa đặt ra. Và việc ghi chép lại đây chỉ nhằm trước là hầu chuyện, sau là để chư vị bổ sung các“tứ vật”,“tứ bất”,“tứ mạc” nữa mà các vị được biết, hoặc các cách lý giải khác về các “tứ vật”,“tứ bất”,“tứ mạc” dưới đây.


      *1- THỪA THIÊN TỨ BẤT


          Bất giao Nguyệt Biều hữu
          Bất thú Dạ Lê thê
          Bất ẩm Thạch Hàn thủy
          Bất thực Lương Quán kê.

         (Chớ kết bạn với dân Nguyệt Biều
         Chớ lấy con gái Dạ Lê
         Chớ uống nước ở Thạch Hàn
         Chớ ăn thịt gà Lương Quán.)


Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM - Hồ Đình Vũ




SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM
                                                                           Hồ Đình Vũ

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó...riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy ?
Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.
Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác - để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

1.- Tên do địa hình, địa thế 
Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, Tỉnh Bến Tre: “Gió đưa gió đẩy, / về rẫy ăn còng, / về bưng ăn cá, / về giồng ăn dưa…’’

         

 - Giồng: Là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát:“trên đất giồng mình trồng khoai lang…’’ 
Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một Quận (Huyện). Lại nhắc đến một câu hát khác:“Ai dzìa Giồng Dứa qua truông. Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…’’ Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Lương đến Cầu Long Định, ở bên phải Quốc Lộ 4Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn). Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì ?
Truông: Là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. Ở vùng Dĩ An có Truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có Truông nhà Hồ.
 “Thương em anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang’’. Tại sao lại có câu ca dao này ? Ngày xưa Truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017

NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT, PHẦN IV : THƠ HÌNH - La Thụy sưu tầm và biên tập

Sau khi giới thiệu dạng thơ bình thanh, dạng thơ đọc nhiều cách, dạng thơ Việt đệm ngoại ngữ và dạng thơ nói lái đến quý bạn đọc. Hôm nay, chúng tôi mời quý bạn đọc thưởng thức thêm một dạng thơ Việt Nam đặc biệt thứ tư nữa, đó là dạng thơ hình

        
                              La Thụy


     NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT
                      PHẦN IV : THƠ HÌNH
    
1/ THƠ HÌNH THOI  
  
                               MƯA RÀO

                                     Mưa
                                 Lưa thưa
                               Vài ba giọt…
                             Ai khóc tả tơi ,
                         Giọt lệ tình đau xót?...
                    Nhưng mây mù tịt, gió đưa
                   Cây lá rụng xào xạc giữa trưa.
            Mưa đổ xuống ào ạt, mưa, mưa, mưa !
         Thời gian trôi tan tác theo tiếng mưa cười!
       Không gian dập vùi tan nát theo thác mưa trôi          
   Đàn em thơ nhào ra đường, giỡn hớt chạy dầm mưa 
Cỏ hoa mừng nên vận hội, ngả nghiêng tắm gội say sưa
                 Nhưng ta không vui, không mừng. 
                     Lòng không ca, không hát!
          Ta đưa tay ra trời, xin giòng mưa thấm mát.
          Tưới vết thương, lòng héo hắt tự năm xưa!
          Nhưng, ô kìa! Mưa rụng, chóng tàn chưa!
                  Trời xanh xanh, mây bay tan tác.
                        Ai còn ươm hạt mưa đào,
                         Lóng lánh trong tim hoa
                               Ai ươm mơ sầu
                               Ôi mong manh,
                                   Trong tim
                                        Ta !
   
                               (NGUYỄN VỸ)  


Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT, PHẦN III : THƠ NÓI LÁI - La Thụy sưu tầm và biên tập

Sau khi giới thiệu dạng thơ bình thanh, dạng thơ đọc nhiều cách và dạng thơ Việt đệm ngoại ngữ đến quý bạn đọc. Hôm nay, chúng tôi mời quý bạn đọc thưởng thức thêm một dạng thơ Việt Nam đặc biệt nữa, đó là dạng thơ nói lái     

         
                              La Thụy

     NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT - PHẦN III :
                                       THƠ NÓI LÁI

Những nhà thơ chuyên viết dạng thơ nói lái là nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhà thơ Bùi Giáng, nhà thơ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi, nhà thơ Võ Quê.

Đọc thơ HỒ XUÂN HƯƠNG, chúng ta thấy bà nói lái thật dí dỏm:

     Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
     Trái gió cho nên phải lộn lèo. 
                          (Kiếp Tu Hành)

     Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
     Hỏi thăm Sư cụ đáo nơi neo.
     Chày kình, tiểu để suông không đấm,
     Tràng hạt, vải lần đếm lại đeo. 
                           (Chùa Quán Sứ)

     Đang cơn nắng cực chửa mưa hè,
     Rủ chị em ra tát nước khe. 
                             (Tát nước)

     Thú vui quên cả niềm lo cũ
     Kìa cái diều ai nó lộn lèo. 
                        (Quán Khách)  


Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT PHẦN II : THƠ ĐỌC NHIỀU CÁCH, THƠ VIỆT ĐỆM NGOẠI NGỮ - La Thụy sưu tầm


                    
                           La Thụy


 NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT PHẦN II : 
 THƠ ĐỌC NHIỀU CÁCH, THƠ VIỆT ĐỆM NGOẠI NGỮ

 Ngoài DẠNG THƠ BÌNH THANH đã đăng :

  a/ http://www.art2all.net/tho/lathuy/dangthobinhthanh.htm
  b/ http://phudoanlagi.blogspot.com/2011/09/dang-tho-binh-thanh_21.html

Sau đây, mời các bạn đọc một số dạng thơ đặc biệt khác.


   I - THƠ ĐỌC NHIỀU CÁCH 

      1. Đọc theo 2 cách: 
 
       ĐỀ TRANH MỸ NỮ
        (Thuận nghịch độc) 

       Đọc xuôi:  
         
       Hương tiên gác vắng nhặt ca oanh            
       Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh                      
       Sương đỉnh trướng gieo từng dục mộng,                            
       Nguyệt bên rèm tỏ dễ si tình.                      
       Vàng thưa thớt cúc tan hơi dạm,                            
       Lục phất phơ sen đọ rạng thanh                          
       Trang điểm ngại chăm dừng trục gấm                              
       Phòng tiêu lạnh lẽo khoá xuân xanh.
                                             
       Đọc ngược (theo âm Hán Việt):
                             
      Thanh xuân toả liễu lãnh tiêu phòng                          
      Cẩm trục đình châm ngại điểm trang.                          
      Thanh rạng độ liên phi phất lục,                            
      Đạm hi tan cúc thát sơ hoàng.                                
      Tình si dị tố liêm biên nguyệt,                            
      Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương.                              
      Tranh khúc cưỡng khiêu sầu mỗi bận,                            
      Oanh ca nhật vĩnh các tiên hương                
                                     PHẠM THÁI

      2. Đọc theo 6 cách:

      CỬA SỔ ĐÊM KHUYA

      Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
      Lạ cảnh thêm buồn nợ vấn vương
      Tha thiết liễu in hồ gợn bóng
      Hững hờ mai thoáng gió đưa hương
      Xa người nhớ cảnh tình lai láng
      Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
      Qua lại yến ngàn dâu ủ lá                    
      Hòa đàn sẵn có dế bên tường                        
                        HÀN MẶC TỬ

     Cách đọc 1:   Đọc xuôi
     Cách đọc 2 :  Đọc ngược
     Cách đọc 3 :  Bỏ 2 chữ đầu  ở mỗi câu đọc xuôi
     Cách đọc 4:   Bỏ 2 chữ sau ở mỗi câu đọc xuôi
     Cách đọc 5 :  Bỏ 2 chữ đầu ở mỗi câu đọc ngược
     Cách đọc 6 :  Bỏ 2 chữ sau ở mỗi câu đọc ngược  

Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

ẢNH MÀU MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ PHÁP THUỘC 1914 - 1920


Đối với những người quan tâm về Việt Nam, Viện Bảo Tàng Albert Kahn vùng ngoại ô Hauts-de-Seine sát cạnh Paris là một địa chỉ không thể bỏ qua. Đây là nơi lưu trữ một bộ sưu tập hiếm hoi ảnh màu về Việt Nam chụp ngay từ đầu thế kỷ 20, thời ngành nhiếp ảnh vẫn còn sơ khai. Giá trị của bộ sưu tập này rất lớn vì nó giúp cho các thế hệ hiện nay thấy rõ được bằng hình ảnh, với màu sắc rõ ràng, một phần diện mạo của Việt Nam cách nay một thế kỷ. (Trích RFI)


Bộ sưu tập: Archives de la Planète
© Musée Albert Kahn - Département des Hauts-de-Seine



Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

CÂU ĐỐI TẾT XƯA VÀ NAY - La Thụy sưu tầm và biên tập


              
                                     La Thụy


           CÂU ĐỐI TẾT XƯA VÀ NAY
                        La Thụy sưu tầm và biên tập

    Tiêu đề của bài viết là CÂU ĐỐI TẾT nhưng hình minh họa đầu tiên không phải là câu đối và cũng không đề cập gì đến Tết. Hơn nữa, hình thức trình bày lại bất cân phương như dạng thơ lục bát. Vâng, đó chính là hai câu: Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” trích trong bài thi kệ “Cáo Tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền sư. Tuy không phải là câu đối nhưng chữ thư pháp quá đẹp. Hơn nữa ý thiền tràn ngập, hương xuân thơm ngát nên tôi đưa lên trên các câu đối khác.

           
             Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
             Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
                          (Mãn Giác thiền sư)


                       

                     Nguyễn Tôn Nhan 
                       (1948 - 2011)

      

   

  

  

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                            Lộc tiến vinh hoa gia đường thịnh
                            Phúc sinh phú quý tử tôn vinh

Ở câu đối này, chữ PHÚ () trong vế đối thứ hai (phía trái), người viết thư pháp viết nhầm thành chữ PHÚC ()
Không những chỉ riêng câu đối này, một số câu đối khác cũng không được chuẩn lắm.
Ví dụ câu đối: “Xuân tha hương sầu thương về QUÊ mẹ / Tết xa nhà buồn bã nhớ QUÊ cha”, bị lặp từ QUÊ và cùng thanh bằng trong mỗi vế. Nếu chỉnh lại ĐẤT MẸ thì đối chuẩn hơn.
Hoặc câu: “Niên hữu tứ thời xuân VI thủ / Nhân sinh bách hạnh hiếu VI tiên”. Câu đối gốc vốn là "xuân TẠI thủ"
Nhìn chung, ngoài những câu đối của các nhà nho, nhà thơ nổi tiếng, vẫn còn một số câu đối còn chưa chỉnh về từ loại, về ý, về thanh, … tôi sưu tầm và tải lên để thư giản trong những ngày cuối năm. Chúc quý bạn có nhiều niềm vui nhé!

                                                           La Thụy sưu tầm và biên tập

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

DẠNG THƠ BÌNH THANH - La Thụy sưu tầm và biên tập





        DẠNG THƠ BÌNH THANH                          

        Thi ca Việt Nam vừa phong phú súc tích về nội dung, cú pháp, ngôn từ; vừa đa dạng về thể loại (thất ngôn, bát ngôn, tứ tuyệt, bát cú, lục bát, song thất lục bát, thơ tự do…) Hầu như thơ các nước như Trung Hoa, Nhật Bản, thơ các nước Tây phương đều gieo vần ở cuối câu (VẦN CHÂN – CƯỚC VẬN), thơ Việt Nam còn gieo thêm vần ở giữa câu (VẦN LƯNG – YÊU VẬN) như trong thể THƠ LỤC BÁT, THƠ SONG THẤT LỤC BÁT (có khi còn gieo nhiều vần trong một câu). Ngoài ra, nhiều nhà thơ Việt Nam còn sáng tạo thêm nhiều dạng thức mới như : thơ đọc nhiều cách, thơ hình, thơ Việt chèn ngoại ngữ, thơ bình thanh... Hôm nay, tôi xin giới thiệu DẠNG THƠ BÌNH THANH đến các bạn yêu thơ