BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI MẬU TUẤT 2018 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Bàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Bàng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

GÃ KHỜ HAY THẰNG NGỐC VIỆT NAM CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY? - Nguyễn Bàng


           
                         Tác giả Nguyễn Bàng


GÃ KHỜ HAY THẰNG NGỐC VIỆT NAM CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY?

Biết tôi hay lò dò lên mạng để tìm đọc dăm ba thứ thay vì phải đọc báo in, nghe đài hay xem nghe truyền hình thời sự nhưng lại là một ông già không biết chơi Phây, không biết Gúc để tìm tòi các trang mạng hay, nhà văn Đặng Xuân Xuyến đã gửi Mail chỉ đường dẫn mời tôi đọc CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, một truyện ngắn anh viết năm 2006, ra sách năm 2007 (in chung) nhưng giờ mới post lên blog của anh và gửi một số trang và như anh nói gửi để tôi đọc cho vui. Chính vì thế, khi nhìn vào tên truyện, tôi ngỡ mình sẽ được đọc kiểu truyện chàng khờ với hình tượng nhân vật trung tâm là các anh chàng ngốc nghếch với những hành động, việc làm… ngây ngô ngớ ngẩn dại khờ đã đem lại tiếng cười sảng khoái và những trải nghiệm vô cùng lí thú để từ đó người nghe, người đọc rút ra những bài học cho bản thân. Nhưng đọc xong CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, tôi chẳng được vui tý nào mà lại cảm thấy đắng lòng khi nhận ra gã Khờ này phải chăng là một THẰNG NGỐC VIỆT NAM còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này.

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

NHÀ THƠ VÀ NGHIỆP THƠ QUA MẤY BÀI THƠ THIỀN CỦA CHU VƯƠNG MIỆN - Nguyễn Bàng


               
                             Tác giả Nguyễn Bàng

               NHÀ THƠ VÀ NGHIỆP THƠ QUA MẤY BÀI 
               THƠ THIỀN CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

Từ ngày 03 tháng 9 năm 2018 đến nay, mới vừa đầy hai tháng, nhà thơ Chu Vương Miện đã liên tiếp trình làng 23 chùm Thơ Thiền trên nhiều chiếu thơ mạng ở trong nước và ở ngoài nước. Mỗi chùm thơ có từ 2 đến 5 bài, vị chi đã có cả non 100 bài Thơ Thiền Chu Vương Miện đến với bạn đọc. Chữ Thiền, Thiền học vốn từ chữ Thiền tông mà ra, thường được dịch là suy tưởng, suy ngẫm. Xem vậy thật đáng nể sự suy tưởng, suy ngẫm một nhà thơ  không phải là thiền sư.
Thơ Thiền không phải bây giờ mới có. Nó xuất phát từ Trung Hoa và phát triển mạnh từ thời nhà Đường. Ở Việt Nam, Thơ Thiền phát triển vào thời Lý Trần với các tác giả - các thiền sư của các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm Yên Tử mà đỉnh cao có thể kể là Tuệ Trung Thượng Sĩ.
Từ đời Lê đến Nguyễn, hơn năm thế kỷ, một số ít tác phẩm của các danh nhân Việt Nam như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ…cũng được coi là thơ thiền
Thơ Thiền Việt Nam hiện đại tiếp tục phát triển trên cơ sở hào quang của Thơ Thiền trung đại và môi trường văn hóa hiện đại . Ngay trong Thơ Mới cũng có một số tứ thơ phảng phất hương vị Thiền.
 Đến những năm 60 ở miền Nam, thơ Thiền Việt Nam đã dần dần tiếp cận sinh khí phương Tây và hiện đại hóa thể hiện trong những ca từ nhạc Trịnh Công Sơn, thơ Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Phạm Công Thiện…
Trên dòng chảy lịch sử ấy của Thơ thiền Việt Nam, bạn đọc thấy cả trăm bài Thơ Thiền của Chu Vương Miện ở đầu thế kỷ 21 này là điều dễ hiểu.
Không đủ sức và đủ tầm để viết về cảm nhận cả non 100 bài Thơ Thiền của Chu Vương Miện, bài viết nhỏ này chỉ xin nêu mấy cảm nhận cá nhân về NHÀ THƠ VÀ NGHIỆP THƠ qua mấy bài Thơ Thiền trong khjoois thơ phong phú ấy.
Vậy, nhà thơ trong thơ thiền Chu Vương Miện là những con người như thế nào?

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

NHƯ THIẾU NỮ ĐÃ VÀO CHÙA XUỐNG TÓC ?!? - Nguyễn Bàng


        
                       Tác giả Nguyễn Bàng


        NHƯ THIẾU NỮ ĐÃ VÀO CHÙA XUỐNG TÓC ?!?
                         (Gửi nhà thơ Đặng Xuân Xuyến)

Lọc ra chừng 8 bài thơ viết về biển của Nguyễn Thanh Lâm để bình riêng BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM trong RỪNG XANH MƯA là một việc làm khéo léo. Và bài bình đã làm bật lên cái ý “Thơ ông viết về biển, bài nào cũng tươi rói cảm xúc, cũng được cảm nhận bằng một tình yêu trong sáng, thánh thiện của cõi Thiền”
Nhưng có lẽ vì bị ám ảnh bởi sự thánh thiện của cõi Thiền nên Đặng Xuân Xuyến đã không dưới hai lần khen Nguyễn Thanh Lâm:

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2018

CHỢ PHÂN VAI BÒ - Nguyễn Bàng


       
                     Tác giả Nguyễn Bàng


CHỢ PHÂN VAI BÒ

Hồi tôi còn học tiểu học ở trường làng, thằng Đa bạn cùng lớp và cùng xóm hay rủ tôi đi câu. Dạo ấy ao làng thường thả bèo phổng và bèo cái để lấy cái ăn cho lợn, chỉ vài nhà giàu có ao to mới thả cá, rào bờ ao và luôn canh chừng người câu trộm nên thằng Đa và tôi chỉ đến các ao người ta không cấm câu, tìm một bụi tre có bóng mát rồi rắc thính và thả dây câu. Ấy vậy mà, thằng Đa nổi tiếng sát cá, mới ngồi một lúc nó đã giật được năm bẩy con rô con riếc to bằng ba ngón tay trong ki tôi chỉ giật được hai ba con mài mại hay con cá cờ nhỏ xíu như cái lá tre. Vì vậy nhiều lần, khi ra về thằng Đa thương tình chia cho tôi mấy con rô, con riếc. U nó thấy nó đem giỏ cá về thì nhanh tay đỡ lấy rồi đổ cá ra chiếc chậu sành và tươi cười nói:
- Hôm nay nhà ta lại được ăn cơm với cá rồi
Nhưng thầy nó thì không hồ hởi như u nó. Ông nghiêm giọng bảo vợ:
- Bà chỉ làm hư con thôi. Cái ngón nghề câu cá ấy liệu có nuôi được nó cả đời không hay là sẽ như cổ nhân nói: “Bé đi câu, lớn đi hầu, già làm mõ”. Mà tôi nói cho mà biết, làm mõ cũng không đến lượt nó đâu, mỗi làng chỉ cần một thằng mõ thôi mà vợ chồng thằng mõ làng ta còn trẻ khoẻ lắm. Không chịu khó học hành thì chỉ còn một nước là đi làm phu đổ thùng cho nhà Năm Giệm.
Tôi nghe người lớn nói, dòng họ nhà thằng Đa là một dòng họ nhiều chữ nghĩa nhất làng, chưa có ông nghè nhưng đã có dăm bẩy ông cống từng làm đốc học hay làm quan. Đến đời ông nội nó vừa đậu xong tú tài thì đấy cũng là khoa thi nho học cuối cùng. Văn chương phú lục dở dang mà đường cày thì không biết, ông nội nó đọc sách rồi làm ông lang ở làng. Thầy nó được theo tân học nhưng vừa mới hết tiểu học thì bị ốm dai dẳng, thuốc thang của chính ông nó bốc cho uống mấy năm mới khoẻ lại nên việc học cũng đành bỏ dở rồi được ông nó truyền lại nghề làm thuốc. Nó lại là con trai duy nhất trong nhà năm chị em nên thầy nó quyết tâm sẽ cho nó học tới nơi tới chốn để mở mày mở mặt với dân làng.
Giờ nghe thầy nó bảo không chịu khó học hành thì chỉ còn một nước là đi làm phu đổ thùng cho nhà Năm Giệm. Tôi thật không hiểu phu đổ thùng là gì và nhà Năm Giệm là ai bèn về hỏi bà nội tôi. Bà tôi bảo:
- Là thầy nó nói những người chuyên lấy phân ở khu vực nội thành còn gọi là phu đổi thùng. Trong nội thành, hiện nay mới có một số ít hố xí máy tự hoại ở khu phố Tây, khu phố ta nhà nào cũng chỉ có chuồng xí thùng. Hàng đêm, phu vệ sinh đẩy xe bò đến các phố thay thùng lấy phân. Họ đập cửa  gọi đổi thùng, đổi thùng và nghe thấy tiếng là chủ nhà đang ngủ cũng phải dậy. Để át mùi, chủ nhà phải thắp vài nén hương rồi còn phải ngồi ngoài cửa trông nhà vì sợ kẻ gian lợi dụng lẻn vào ăn trộm đồ đạc. Nhiều nhà chuẩn bị sẵn mấy xu lẻ cho phu để họ không làm dây ra nhà. Việc đổi thùng diễn ra cũng nhanh vì phu chỉ lấy thùng đầy ra rồi đặt thùng không vào là xong. Phân thu  đưa về đê Đại La, ở đấy một phần đem chứa vào các bể xây chờ người đến mua, phần còn lại phu kéo thẳng đến các vùng trồng rau ngoại thành như Canh, Diễn, làng Vòng nhà mình hay làng Láng chuyên trồng rau húng.
Nhưng cháu đừng nghĩ phân là thứ thối tha bẩn thỉu. Nó là mối lợi lớn cho nhà thầu. Năm Giệm chính là ông chủ thầu phân đó. Năm Giệm ở quê ra, ban đầu làm công cho Sở Xe điện, sau đó chuyển sang làm đại lý gạch, ngói. Khá lên, ông ta bỏ tiền mua đất ở đầu phố Giảng Võ, khi đó khu vực này còn là ruộng xen lẫn hồ ao, nhà dân rất thưa thớt lập Xí nghiệp Vệ sinh với hàng loạt ngôi nhà lợp tôn là chỗ chứa xe và thùng lấy phân. Xí nghiệp có một bãi rộng, bên trong có những bể xây lớn dùng để chứa phân. Hồ đầm chung quanh có nhiều nước, công nhân vệ sinh rửa thùng ở đấy. Năm Giệm còn làm nhà cho công nhân thuê ở tập trung ở đầu đường Đại La, chỉ là nhà tranh, nhà tôn lụp xụp, chật hẹp nhưng chật kín người ở. Phu ngày càng đông nên nhà cứ làm thêm ra mãi, hồ, đầm bị thu hẹp dần, rác rưởi thành phố hàng ngày xe đến đổ ở đây. Ông ta còn được nhà nước hỗ trợ cho cảnh sát cấm người ngoại thành vào mua hoặc lấy trộm phân trong các phố, phạt nặng những người gánh phân đi trong phố với lý do bảo vệ vệ sinh chung.
Tuy thế, nhiều người ở một số làng vùng ven vẫn làm công việc lấy phân. Cứ gà gáy canh một là họ mang theo quang gánh và chiếc móng sắt hình chóp, có cái cán tre chừng hơn 1m, rủ nhau vào phố lấy phân ở các nhà vệ sinh công cộng hay những nhà không ký hợp đồng với chủ thầu. Họ thường đi lúc nửa đêm để tránh bị cảnh sát bắt. Họ lấy phân về để bón cho rau màu nhà họ và để bán cho các hộ dân khác. Trên con đường nhựa từ Cầu giấy về làng ta, ở quãng Vai  Bò có hẳn một cái chợ phân họp từ mờ sáng đến khi rõ mặt người m là tan, ai "ế" thì gánh về hôm sau quẩy ra bán tiếp. Ấy vậy mà họ bảo,  làm nghề lấy phân còn nhàn hơn nghề làm ruộng vì không phải suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời.
Tôi đem chuyện bà tôi nói kể cho thằng Đa nghe. Nó bảo:
- Thế mà nghe thầy tao nói cứ tưởng cái nghề đổ thùng không ai thèm làm. Xem ra muốn có một chân đi lấy phân cũng đâu có dễ, mày nhỉ?
Rồi nó nói:
- Tao cũng thấy u tao bảo có cái chợ phân ở Vai Bò mà chưa biết mặt mũi nó ra sao. Hay là hôm nào tao với mày đi chợ phân chơi?
- Bà tao bảo chợ họp từ mờ sáng đến khi có ánh mặt trời là tan, sớm thế đi làm sao được?
- Thì dậy từ gà gáy rồi đi.
Sáng hôm say, y hẹn thằng Đa chờ tôi ở đầu điếm canh của thôn rồi hai đứa đi ra đường cái và ngược lên Vai Bò. Nguyên khu rệ đường cái này ngày xưa người làng thường đem ra bán những cái ách dùng để khoác vào vai trâu bò để chúng kéo cày, vì thế mà gọi là chợ Vai bò. Về sau người ta mang đủ các thứ nông cụ như cày cuốc và cả đòn càn đòn gánh ra bán. Khi đường cái được trải nhựa thì chợ bán nông cụ bị cấm họp nhưng khi nghề lấy phân phát triển thì tự nhiên lại trở thành chợ mua bán phân, không ai cấm nữa.
Đây là chợ phân tươi, hoàn toàn không có phân ủ (phân chín) không có phân xanh (phân làm từ các loại lá cây) hay phân hoá học ở các cửa hàng phân bón ngày nay. Cũng rất ít có phân chuồng, tức là phân lợn, phân gà hay phân trâu bò. Tất cả đều là phân người, dân vùng ngoại thành quanh quê tôi gọi là phân bắc.
Chợ họp tại địa điểm có tên là Vai Bò ngay bên đường cái quan, chính giữa đoạn đường 1cây số từ ô Cầu Giấy về làng Vòng. Người dân làng Vòng từ xa xưa chủ yếu là cấy lúa trồng rau và hoa nổi tiếng với kinh thành là hoa lơ (Vòng Tiền và Vòng Trung), cải bắp và hoa huệ (Vòng Sở). Đặc biệt là ở Vòng Hậu có nghề làm cốm từ lâu đời, cốm Vòng được nhân dân đất thành Thăng Long và các vùng miền gần xa ưa chuộng. Nhưng những người bán phân tươi không phải người làng Vòng mà là người ở các làng khác có tập quán đi các nơi, nhất là vào nội thành lấy phân bắc đem về đây bán. Họ không phải là công nhân vệ sinh của nhà nước hay phu “đổi thùng” của nhà thầu Năm Giệm mà là người ở ngoại thành vào lấy trộm phân nên trên đường quẩy phân về chợ, họ thường bị công nhân vệ sinh bắt quang sọt hoặc bị cảnh binh phạt tiền khốn khổ lắm.
Lúc tôi và thằng Đa đến thì trời đã tờ mờ sáng nên chợ phân đang rất đông kẻ bán người mua. Mặc dù là chợ phân tươi nhưng không thấy ai bịt mũi bịt miệng mà khắp chợ ồn ào tiếng chào bán lẫn tiếng hỏi mua. Người bán phân kiếm một chỗ bên rệ đường rồi bầy những sọt phân ra và đứng chờ người mua Người mua phân dùng một cái gắp phân bằng cật tre, trông hơi giống một chiếc đũa cả sục sâu vào đáy sọt phân rồi rút ra, đưa lên mũi ngửi để xem phân tốt hay phân xấu. Có sọt phân bị chê là chua, có sọt bị chê là nát nhoét, không đậm. Người bán phân cũng dùng cái gắp ấy ngoáy sục lại vào đáy sọt phân rồi rút ra, đưa lên ngang tầm mũi mình và cả mũi người mua mà phân bua: “Phân ngon thế này mà còn chê à!”.
Bỗng ở cuối chợ nổi lên tiếng om sòm cãi chửi nhau. Tiếng một người đàn bà đi mua phân:
- Cứt mà còn làm giả thế này không sợ thất đức à?
Rồi tiếng một người đàn ông bán phân đáp lại:
- Giả đâu mà giả!
- Không giả thì là cái gì đây, nhìn xem cứt hay đất bùn nhuộm nghệ đem trộn vào? Người đâu mà tham lam thế!
- Sợ quẩy đi đường nó sóng sánh ra đường bẩn thỉu nên cho thêm tý đất bùn vào cho nó quện. Mua thì mua không mua thì đi chỗ khác cho người ta còn bán hàng, đừng có mà ám mãi.
- Á à, đuổi khách đi cơ đấy! Làng sống bằng nghề hót cứt, có đền thờ Thành Hoàng hẳn hoi. Đây đã tận mắt nhìn vào trong đền, thấy thờ đôi quang và chiếc đòn gánh cùng hai mảnh xương trâu, tất cả đều được sơn son thếp vàng. Làm ăn gian giối không sợ bị Thành Hoàng vật chết à?
Ở những chỗ người mua đã mặc cả xong giá, họ trút phân từ sọt của người bán phân sang sọt của mình, lòng sọt đã chít sơn ta nhưng đáy sọt vẫn lót thêm một lớp tro bếp cho nước phân không bị rò rỉ. Khi người mua đã gánh phân đi thì người bán đem sọt của mình xuống cái ao to ở bên đường rửa ráy. Không biết ao nhà ai nhưng bè muống họ thả trong ao dày đặc và tốt xanh um.
Thằng Đa nói như người lớn với tôi:
- Đúng là “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”. Rau muống nhà kia luộc lên ăn phải biết là đậm miệng, mày nhỉ? 
Lớn lên, tôi và thằng Đa đều đi khỏi làng kiếm sống. Tôi thì đi xuống miền biển làm nghề gõ đầu trẻ còn thằng Đa ra Hà Nội buôn bán thuốc bắc. Tuy hai nơi ở cách nhau có hơn trăm cây số nhưng do một thời tàu xe đi lại khó khăn, mất ngày mất buổi nên chúng tôi ít khi có dịp gặp lại nhau mà thỉnh thoảng chỉ thư từ thăm hỏi nhau, vẫn mày tao chí tớ như thời còn bé ở làng.
Một ngày, tôi đọc xong cuốn sách nửa hồi ký nửa tiểu thuyết Chiều Chiều của Tô Hoài, có đoạn nói về chuyện các chuyến đi thực tế của các nhà văn nhà thơ ở miền Bắc trước đây. Một trong những công việc chính của họ là đào hố phân rồi hằng ngày đi nhặt phân, từ phân người đến phân súc vật, về đổ vào các hố rồi nhặt lá cây bỏ vào, trộn đều, ủ lại cho chúng ngấu kết lại với nhau.
Theo lời kể của cụ Tô Hoài, mỗi buổi sáng, nhà thơ Phùng Quán ở trong xóm đi ra,“gánh đôi quang lồng một, hai thanh tre gắp phân đặt trên mặt sọt.” Một buổi chiều, gánh phân về, “Quán kể nông nỗi đi gắp phân như là đọc một mẩu chuyện trên báo. Các đường ngoắt ngoéo trong xóm trổ ra cổng đồng còn tối đất. Những con trâu con bò ra ruộng làm sớm, thói quen tự nhiên, tới rệ cỏ ven hào nước thì đứng lại ỉa. Đến khi sáng hẳn, trẻ con trong xóm mắt nhắm mắt mở lốc nhốc kéo ra ngồi bĩnh ở đấy. Hai thanh tre của Quán mở ra gắp lên sọt tuốt cả phân trâu phân người. Tìm ra những con đường phân này cũng chẳng phải tài giỏi riêng Quán, mà sáng nào cũng có người nhặt phân từ các ngõ xóm ra cổng đồng, đi muộn có khi hết.”.
Cũng ngày ấy, tôi vừa nén nỗi đau như bị xát muối vào lòng vì phải bỏ ra gần hai tháng lương để lắp cái điện thoại bàn cho mấy đứa con ở xa gọi về không phải chạy ra bưu điện gần nhà đăng ký để nghe chúng nó nói. Nhớ lại chuyện cùng thằng Đa đi chợ phân Vai Bò, tôi bèn buôn chuyện với nó qua chiếc điện thoại bàn đó, kể lại những điều cụ Tô Hoài viết cho nó nghe. Nó cười khằng khặc bên kia đầu sóng:
- Thì việc nhặt phân đã được ông Tố Hữu ca ngợi hết lời:
       Dọn tí phân rơi, nhặt từng ngọn lá.
       Mỗi hòn than, mẩu sắn, cân ngô.
       Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ!
Ông ấy ngồi ở nhà cao lộng gió, ăn của ngon vật lạ mua ở chợ Tôn Đản của vua quan rồi nhào lặn cho ra những vần thơ như thế chứ ông ấy có bao giờ dọn tí phân rơi nào đâu.
Ông ấy cũng đã từng ca ngợi Mao Trạch Đông:
       Một tia lửa  nhỏ
       Trong xóm Tương  Đàm
       Cháy lan  dần, đỏ khắp Hồ Nam
Và chính Mao Trạch Đông đã phát ngôn câu nói nổi tiếng khắp thế giới: “Trí thức không bằng cục phân.”
Rồi nó thôi cười và trầm giọng lại:
- May mà tao không nghe lời dạy của thầy tao, chăm chỉ học giỏi để trở thành trí thức. Nếu nghe lời cụ thì bây giờ tao cũng không bằng cục phân, mày nhỉ?!
Tôi toan tắt máy thì lại nghe tiếng thằng Đa nói tiếp:
- Mà này, mày đừng tự ái rồi chửi tao nhé! Vì nghe đâu cái nghề gõ đầu trẻ của mày cũng được coi là tiểu tư sản trí thức đấy!

     Sài Gòn, tháng 08.2018
     NGUYỄN BÀNG                                               
     Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn
     Email: bnguyen37@gmail.com

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2018

THƠ VỀ RƯỢU HAY NỖI BUỒN RIÊNG MÌNH VÀ NỖI BUỒN NHÂN THẾ CỦA NHÀ THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN? - Nguyễn Bàng


       
                            Tác giả Nguyễn Bàng

Tuần trước, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến gửi cho tôi chùm thơ về rượu của anh và bảo để tôi đọc cho vui. Nhưng vui sao được khi mà cả chùm 10 bài thơ đều thấm đẫm một nỗi buồn: Nỗi buồn riêng mình của thi nhân và nỗi buồn vì nhân tình thế thái.
Người ta thường nói “Trà tam tửu tứ", nghĩa đại chúng nhất là “Uống trà không nên quá 3 người, mới thưởng thức hết cái thú vị của nó. Còn uống rượu phải từ 4 người trở lên mới vui, mới náo nhiệt”. Nhưng trong 10 cuộc rượu của Đặng Xuân Xuyến khồng hề thấy có một cuộc rượu bốn người nào mà chỉ thấy toàn những cuộc rượu một mình nhà thơ hay những cuộc rượu có thêm một người nữa là hai. Và cả chùm 10 bài Thơ Về Rượu thì có tới quá nửa số bài là độc ẩm.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2018

THI HÀO DÂN TỘC NGUYỄN KHUYẾN TRONG MẮT NHÀ THƠ CHU VƯƠNG MIỆN - NGUYỄN BÀNG


       NguyenKhuyen-quan
           Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến


MẤY CẢM NHẬN NHÂN ĐỌC CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỂ TAM NGUYÊN YÊN ĐỔ

Từ trước tới nay, trên thế giới và ở nước ta đã có rất nhiều người viết chân dung văn học, viết về một nhà văn nhà thơ nào đó, có người đang còn sống và có cả người đã mất. Với người đang còn sống, đó là những bài viết có tính cách thông tin, giới thiệu hoặc một phỏng vấn, trò chuyện với họ. Với nhà văn nhà thơ đã mất, đó có thể là những bài viết về tiểu sử và văn nghiệp và cũng có thể là những cuộc phỏng vấn trò chuyện giả tưởng. Nhờ những bức tranh ngôn từ ấy mà người đọc hiểu về con người và giá trị văn thơ của các tác giả được nói tới.
Những bức tranh chân dung ấy có thể là một bài báo, một áng văn xuôi, một bài thơ hay chỉ là một vài câu thơ phác hoạ một nhà văn nhà thơ với hình dáng và văn nghiệp đồng thời cũng làm bật lên tính cách riêng của tác giả ấy, qua đó thể hiện tình cảm và cách đánh giá nhà văn nhà thơ của người viết.

           
                  Tác giả Nguyễn Bàng

Gần đây, những người yêu văn chương thấy xuất hiện trên mạng qua những trang blog được đông đảo người đọc mến mộ như Chu Vương Miện, Hải ngoại phiếm đàm, Trang Đặng Xuân Xuyến, Văn Nghệ Quảng Trị những chùm thơ viết về các thi hào Việt Nam của Chu Vương Miện, cũng là cách viết chân dung nhưng hoàn toàn khác lạ cách viết của nhiều người đi trước từ Lê Ta (Thế Lữ). Tứ Linh (Hoàng Đạo), Tú Mỡ thời Tự Lực Văn đoàn đến ông đồ tân thời Xuân Sách hồi thập kỷ 60 của thế kỷ trước và gần đây nhất Nguyễn Khôi, Đức Hoàng.
Nó khác lạ là ở chỗ nó là một chùm thơ từ dăm ba bài đến cả chục bài không chỉ dừng lại ở chỗ phác hoạ vài nét đặc sắc về tác giả và tác phẩm mà đọc xong cả chùm ta thấy hiện lên những đoạn đường đời đặc trưng nhất của tác gia ấy trong bối cảnh xã hội của thời ấy và thông qua đó, người viết là Chu Vương Miện bầy tỏ những cảm xúc cùng những liên tưởng của mình về một kiếp người, một thời cuộc.