BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

THẮNG 勝 - Bài viết của Trúc Âm, Tri thư đạt lễ



“Sinh rằng: Giải cấu là duyên,
Xưa nay nhân định THẮNG thiên cũng nhiều.”
 
Tiếng Việt có Thắng, chữ Hán viết . Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng: Thắng là khả năng gánh vác, đảm đương, về sau mở rộng sang nghĩa vượt trội, chiến thắng và những gì nổi bật hơn hẳn.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, Thắng được dùng rất nhiều với nét nghĩa vượt lên, chiếm ưu thế, kết quả thành công như trong các từ chiến thắng, thắng lợi, thắng trận, thắng bại, quyết thắng, bách chiến bách thắng, nhân định thắng thiên,.. Đồng thời Thắng cũng mang nghĩa đẹp đẽ, tốt lành, thường gặp trong những nơi chốn có cảnh sắc đặc biệt như thắng cảnh, danh thắng, thắng địa,...
 
Thắng quyết định kết quả hơn thua giữa hai phía, mang sắc thái của kết quả bên ngoài, song trong tư tưởng phương Đông, chữ này còn ẩn chứa tinh thần tu dưỡng bên trong qua khả năng “tự thắng” - tức khả năng tự đối diện và chế ngự bản thân của con người. Thắng người đời vốn đã khó, nhưng để thắng được chính mình, chế ngự mọi xúc cảm tiêu cực, dục vọng và giới hạn nội tâm thì lại càng khó hơn.
 
Vì gửi gắm mong ước về chí tiến thủ, bản lĩnh vững vàng và khả năng chiến thắng chính mình trước khi chiến thắng người khác, cho nên đây là một cái tên đẹp trong văn hóa đặt tên của người Việt ta.
 
Thanh tao lịch sự đủ mùi,
Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy.
Đâu đâu nam bắc đông tây,
Thăng Long thắng địa, xưa nay tiếng đồn.”
                                                    (Ca dao)
 
層樓閱歷幾星霜,
勝景幽淒已半荒。
齋灶煙消春草茂,
花階露冷谷風涼。
 
Tằng lâu duyệt lịch kỷ tinh sương,
Thắng cảnh u thê dĩ bán hoang.
Trai táo yên tiêu xuân thảo mậu,
Hoa giai lộ lãnh cốc phong lương.
 
Tầng lầu dầu dãi mấy tinh sương,
Thắng cảnh còn đây ngọn suối hoang!
Thềm gạch gió lùa, hơi lạnh lẽo,
Bếp chay cỏ mọc, dấu mơ màng.
(Ngô Thì Nhậm, bản dịch thơ Ngô Sĩ Lâm)
 
三年不吃酒吹煙,
人生無病是真仙。
喜見南方連大勝,
一年四季都春天。
 
Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quý đô xuân thiên.
 
Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên, sướng tuyệt trần,
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân.
(Hồ Chí Minh, bản dịch thơ Khương Hữu Dụng)
 
Lòng soi mơ ước, trào dông bể
Dạ cháy mưu toan, ngút lửa thành

Thắng, bại, anh hùng, không cứ luận
Mỹ Lương một trận, tử mà sinh!
                                  (Vũ Đình Liên)
 
                                                                  Bài viết của Trúc Âm
                                                                Tri thư đạt lễ - 知書達禮

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

NHUẬN BÚT 潤筆 - Bài viết của Trúc Âm



Nhuận bút, chữ Hán viết 潤筆. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), “nhuận bút” là tiền trả cho tác giả đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, khoa học được xuất bản hoặc được sử dụng. Nói cách khác, đây là cách gọi của “tiền tác quyền” trong đời sống hiện đại.
Tầm nguyên từ điển giảng: Nhuận là thấm ướt, làm cho mềm và trơn; Bút là cây bút, ngòi bút, cũng chỉ việc viết lách và sáng tác văn chương. Như vậy, Nhuận bút nguyên nghĩa là “làm ướt ngòi bút”, tức làm mềm lông bút trước khi viết.
Từ này về sau dần được dùng để trỏ thù lao dành cho người sáng tác văn chương, viết chữ hoặc vẽ tranh. Thời xưa, việc trả "nhuận bút" cho người viết rất phổ biến, đặc biệt với những người chuyên viết bia ký, chiếu chỉ hoặc văn chương cung đình.

Trong tiếng Việt hiện nay, từ này được dùng hoàn toàn theo nghĩa phổ biến của từ điển: khoản tiền trả cho tác giả khi tác phẩm được sử dụng hoặc công bố.

人過伊川悲野祭,
客從東洛感山傾。
北窗許久凄涼甚,
潤筆含杯意未平。

Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,
Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.
Bắc song hứa cửu thê lương thậm,
Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.

Qua xứ Y Xuyên buồn đám tế,
Về vùng Đồng Lạc cảm chuông rơi.
Lâu nay cửa bắc ngồi tê tái,
Rượu nhấm bút cầm dạ chửa vơi.
(Nguyễn Khuyến, bản dịch thơ Phạm Thúy Lan)

Sẵn món tiền nhuận bút
Ông ra phố tức thì
Đi lùng mua bằng được
Bóng da, có véc ni.”
                       (Tú Mỡ)

Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốt
Ngoảnh lại còn ta con nít đến già
Rồi một ngày mẹ Đốp cười móm mém
Em vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta.”
                                    (Nguyễn Duy)
 
                                                                        Bài viết của Trúc Âm

PHỤ CHÚ:

Chữ "Nhuận" ( / ) thuộc bộ Thủy, mang ý nghĩa gốc là thấm ướt, ẩm ướt, làm cho bớt khô.
giản thể của chữ

“Nhuận” có các nghĩa sau:
1. nhuần nhị
2. thấm ướt
3. lời, lãi

- Nhuận tảng tử (潤嗓子) : nhuận họng
Tảng tử (嗓子): cổ họng
Nhuận họng gần nghĩa với nhuận giọng
Vd:
Uống trà cho nhuận giọng (làm ướt cổ họng) trước khi nói

- Nhuận tràng 潤腸 là "làm trơn ráo và ẩm ướt đường ruột", giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru
Từ "nhuận tràng" (hoặc nhuận trường) trong chữ Hán được viết là 潤腸 (chữ Phồn thể) hoặc 润肠 (chữ Giản thể).

- “Nhuận” / :
Có nghĩa là ẩm ướt, làm cho bớt khô, trơn láng hoặc thấm nhuần. Chữ này gồm bộ Thủy ( - nước) đi kèm để chỉ tính chất ẩm ướt, mượt mà. /
- Tràng/Trường / Có nghĩa là ruột, bộ phận tiêu hóa. Chữ này gồm bộ Nguyệt ( - biến thể của bộ Nhục, chỉ thịt/bộ phận cơ thể) nằm ở bên.

- Nhuận tràng thông tiện 润肠通便 : Làm trơn ruột, giúp đại tiện dễ dàng.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

"NGỰA XE NHƯ NƯỚC ÁO QUẦN NHƯ NEN" - Bài viết của Khánh Ly



“Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.”
                                   (Truyện Kiều)

Ngựa xe như nước, vốn lấy ý từ thành ngữ Xa thủy mã long, chữ Hán viết 車水馬龍, nghĩa là cảnh phồn hoa xe cộ nối nhau như dòng nước chảy, ngựa đi liên tiếp như rồng uốn lượn. Thành ngữ này xuất phát từ Hậu Hán thư, khi chép về Mã thái hậu thời Hán Chương Đế:

 Xa như lưu thủy, mã như du long 
    車如流水,馬如游龍",

Tạm dịch là: 

Xe như nước chảy, ngựa như rồng bơi.

Ở câu 47-48 Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

"Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nen."

"Như nước" thiên về chuyển động liên tục, còn "như nen" nhấn mạnh mật độ dày đặc, che kín không gian. Nhiều bản Kiều ngày nay chép "áo quần như nêm", trong đó bản khảo dị của Nguyễn Quảng Tuân giải thích: "nêm" đây là những mảnh gỗ mỏng đóng trên hai mặt thớt cối xay lúa khít nhau như những hàng răng… Cả câu 48 ý nói ngựa xe qua lại liên tiếp như nước chảy, khách du xuân áo quần đẹp đẽ chen khít nhau như những mảnh nêm ở trên mặt thớt cối xay. Câu này đặt theo lối tiểu đối: "thủy" (danh từ) đối với "nêm" (danh từ).
Song cũng có học giả cho rằng chữ đúng trong nguyên tác là “nen”, ví như trong Truyện Kiều dẫn giải, Lê Văn Hòe giảng nen là một loài cỏ mọc ở ruộng nước, thân nhỏ, mọc thẳng và đặc kín thành từng đám lớn. Vùng đồng chiêm Ninh Bình, Thanh Hóa hễ có nước là có nen, từng cây ken sát nhau đến mức nhìn xa như phủ kín cả mặt ruộng. Vì vậy "áo quần như nen" là người mặc áo quần chen vai sát cánh, đông đặc như bụi cỏ nen ngoài đồng.

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

"CHỮ QUỐC NGỮ" ? - Nguyễn Chương Mt


Nhà nguyện, nằm trong khuôn viên Tòa Tổng giám mục TGP Sài Gòn. Đây vốn là ngôi nhà của Đức Thầy Cả (Cha Cả) Bá Đa Lộc, được di dời từ vùng Lăng Cha Cả về đây

/1/ Bấy lâu nay chúng ta vẫn quen cách gọi "CHỮ QUỐC NGỮ" là chữ viết dùng để ghi tiếng Việt bằng hệ thống abc Latin.
Thực ra, thời còn dùng CHỮ NÔM thì thứ chữ này đã được gọi là "CHỮ QUỐC NGỮ" - chữ ghi lại quốc âm trong tiếng Việt, để minh định khác với chữ Hán là thứ chữ ghi tiếng của người ở lân bang phương Bắc!
/2/ Đơn cử, gần hơn, vào gần cuối thế kỷ 18 - năm 1774, Đức Thầy Cả Vê-rô (*) soạn sách giáo lý và in ra bằng CHỮ NÔM, mang tựa "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" ( )
Cách gọi "CHỮ NÔM" hoàn toàn KHÔNG có trong âm Hán-Việt của chữ Hán. "Chữ Nôm" (𡦂 ) , ở đây, được gọi là "Chữ Quốc ngữ" (𡦂 ).

Chú ý:  Ồ, sao CHỮ NÔM vẫn có dòng chữ Hán "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ"?
Trong chữ Hán, CHỈ có âm Hán-Việt, loại bỏ quốc âm của tiếng Việt chúng ta!
Còn CHỮ NÔM: gìn giữ hết thảy quốc âm của tiếng Việt + một số âm Hán-Việt (chữ Hán) được chọn lọc, đã đi vào từ vựng của người Việt.

(*) Hiện nay đã quen với danh xưng "Giám mục", nhưng vào thế kỷ 17, 18 gọi là "ĐỨC THẦY CẢ" (giữ lại cách gọi này để bảo đảm tính chân thực của ngôn ngữ vào từng thời kỳ lịch sử). "Vê-rô", là một cách phiên âm khác, cũng là "Phê-rô" - từ "Pedro".
Có cách CHUYỂN ÂM (không phải phiên âm như "Vê-rô", "Phê-rô") là "Bá Đa Lộc"! Đức Thầy Cả Vê-rô, tức là Đức Thầy Cả (còn gọi "Cha Cả") Bá Đa Lộc.

Cách gọi "Bá Đa Lộc", từ đâu?

Đức Thầy Cả (giám mục) này trước khi đến nước Nam, đã có thời gian dài sống ở Macao. Ở đó, nói tiếng Quảng Đông. Tên thánh của vị này là "Pedro", người Quảng Đông đọc thành /pe-to-lo/, ghi chữ Hán 伯多祿 (ba chữ Hán này, tiếng Quảng Đông đọc /pe-to-lo/).
Âm Hán-Việt của 伯多祿 là "Bá Đa Lộc"! Tên thánh của Đức Thầy Cả (giám mục) là "Bá Đa Lộc" = "Pedro" (Phê-rô).
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

CỔ VŨ 鼓舞 - Theo Nguồn Gốc Của Từ



Cổ vũ, chữ Hán viết là 鼓舞, trong đó:
– Cổ, danh từ là cái trống, động từ là đánh trống, như đồng cổ (銅鼓) là trống đồng, canh cổ (更鼓) là trống canh, trống báo hiệu từng canh trong đêm (xưa một đêm được chia làm năm canh), cổ xuý (鼓吹) là đánh trống và thổi sáo, ý nói hô hào vận động ai đó làm gì, hiện nay thường theo hướng tiêu cực.
– Vũ là múa, như vũ kiếm (舞劍) là múa gươm, khiêu vũ (跳舞) là nhảy múa, vũ hội (舞會) là tiệc nhảy múa. Chữ này có nhiều trường hợp đồng âm mà ta cần lưu ý như “vũ – ” nghĩa là khinh nhờn, coi thường trong vũ nhục (侮辱), “vũ – ” chỉ khoảng không gian như trong vũ trụ (宇宙), “vũ – ” chỉ sức mạnh, uy lực trong vũ khí (武器), “vũ – ” chỉ lông chim trong lông vũ, “vũ – ” nghĩa là mưa trong hô phong hoán vũ (呼風喚雨).

Cổ vũ là đánh trống và nhảy múa, ý nói khuyến khích, thôi thúc ai đó làm điều gì đó, làm cho ai đó phấn chấn lên. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng “vừa đánh trống vừa múa” kèm theo nghĩa bóng là “vui vẻ khuyên người ta làm”.

Bài Bắc Trấn hỷ vũ (Mừng mưa ở Bắc Trấn) của Lê Quý Đôn có câu:

Tỉnh khước cần lao tranh cổ vũ,
Hưởng tư phong túc cộng bình khang.

省却勤勞爭鼓舞,
享茲豐足共平康。

Tạm dịch:

Vơi hẳn nhọc, đua nhau cổ vũ,
Được mùa này, tất cả an vui.
 
                                                                 Theo Nguồn Gốc Của Từ

MIÊN MAN 綿蠻 - Theo Tri thư đạt lễ 知書達禮

Thật ra Miên man, chữ Hán viết 綿蠻, vốn không phải từ láy như chúng ta hay nghĩ mà là một từ Hán Việt đẳng lập.
 
                                             Hình ảnh: Miên man, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt ngày nay, Miên man thường được hiểu là cái gì đó kéo dài vô bờ bến. Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), Miên man nghĩa là “hết cái này sang cái khác, tiếp liền theo nhau không dứt”. Ví như người ta hay nói “suy nghĩ miên man”, “nỗi buồn miên man”, “tiếng hát miên man”,…

HIỂU NGUYỆT 曉月 - Bài viết của Khánh Ly



Hiểu nguyệt, chữ Hán viết, nghĩa là vầng trăng lúc rạng đông.
Hiểu là trời hửng sáng sau một đêm dài. Sách Thuyết văn giải tự giảng: Hiểu là sáng sủa. Chữ này còn phái sinh những nét nghĩa khác như biết rõ, hiểu rõ hoặc làm cho người khác hiểu mà thường gặp trong các từ am hiểu, hiểu ngộ, hiểu dụ,...
Nguyệt là mặt trăng. Những từ quen thuộc trong tiếng Việt như nhật nguyệt, nguyệt quang, nguyệt sắc, nguyệt dạ, nguyệt thực, tuế nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Nguyệt này.

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

NHÀ LAN (LAN THẤT 蘭室) - Bài viết của Khánh Ly




“Nhà lan sum họp bạn mai,
Đã trong tần tảo, lại ngoài ty ca.”
                     (Bích Câu kỳ ngộ)

Nhà lan, tức Lan thất 蘭室, nghĩa là căn phòng thơm hương lan. Vì Lan vốn là loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao và tao nhã, cho nên đây là một mỹ từ, dùng để chỉ nơi ở thanh nhã của phụ nữ trong văn chương cổ điển, tương tự với những cách gọi khác như Huệ lâu 蕙樓 (lầu huệ) hay Tiêu phòng 椒房 (phòng tiêu).

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

THIÊN TẢI NHẤT THÌ 千載一時 - Bài viết của Khánh Ly



“Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,
Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.”
                              (Truyện Kiều)
 
Thiên tải nhất thì, chữ Hán viết, là một thành ngữ dùng để chỉ những dịp hiếm hoi khó gặp. Trong tiếng Việt, thành ngữ này thường được diễn đạt bằng những thành ngữ quen thuộc như “ngàn năm một thuở”, “trăm năm khó gặp”, ngàn năm có một,... Tất cả đều mang nghĩa dịp may mong manh xuất hiện trong đời mà ta biết rằng sẽ khó lòng gặp lại lần hai.

BA SAO GIỮA TRỜI - Bài viết của Khánh Ly



“Đêm thu, gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.”
                                           (Truyện Kiều)
 
Ba sao giữa trời, nguyên văn chữ Hán viết “tam tinh tại thiên 三星在天, xuất phát từ Kinh Thi, phần Đường phong 唐風, bài Trù mâu 綢繆 rằng: “Trù mâu thúc tân, tam tinh tại thiên 綢繆束薪,三星在天. Tạm dịch là: buộc chặt bó củi, ngẩng lên thấy ba ngôi sao giữa trời. Trong văn chương cổ, Tam tinh 三星 thường dùng để chỉ ba ngôi sao sáng nằm giữa bầu trời đêm, cũng là dấu hiệu cho biết đêm đã về khuya.

BẾ GIẢNG 閉講 - Bài viết của Khánh Ly


Hình ảnh: Bế giảng, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ   
 

Bế giảng, chữ Hán viết, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) là cách gọi lễ kết thúc một khóa học hoặc một năm học. Đây là một từ được sử dụng rất quen thuộc trong môi trường giáo dục Việt Nam, thường đi đôi với khai giảng 開講. Dẫu vậy điều khá thú vị là bế giảng lại không xuất hiện với tư cách một từ cố định phổ biến trong Hán văn cổ. Đây là một tổ hợp mang tính tạo nghĩa tương đối muộn, hình thành từ nghĩa sẵn có của hai chữ Bế và Giảng .

BỒNG BỘT 蓬勃 – Bài viết của Trúc Âm



Bồng bột, chữ Hán viết 蓬勃, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), từ này được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là sôi nổi, có khí thế mạnh mẽ; nghĩa thứ hai là sôi nổi, hăng hái nhưng thiếu chín chắn và không lâu bền, thường dùng để nói về tính cách hoặc tình cảm.
Đây vốn là một từ gốc Hán dùng để chỉ trạng thái hưng thịnh, phát triển mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Cụ thể:
Bồng vốn trỏ một loại cỏ mọc nhanh và sum suê, sau phát triển thành nét nghĩa rậm rạp, tươi tốt, sinh trưởng mạnh.
Bột có nghĩa là nổi lên, dâng lên, hưng khởi hoặc phát triển mạnh mẽ mà ta hay gặp trong các từ như bột phát, hưng bột,...
 

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

PHÙ LƯU 芙畱, TRẦU (GIẦU, BLẦU...) - Ung Chu



Tìm về các làng cổ của người Việt ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ là một cách hay để nghiên cứu về tiếng Việt cổ, chữ Hán và chữ Nôm. Hình thái tiếng Việt được ghi nhận trong thế kỉ 17 bởi người phương Tây là tiếng Việt trung đại, trực tiếp phân hoá thành các phương ngữ hiện đại. Trước đó vài trăm năm, tiếng Việt cổ có nhiều khác biệt với thời nay mà ta cần sự trợ giúp của các ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm để có thể phục dựng.
--
Phường Đông Ngàn tại thành phố Từ Sơn (tính đến tháng 6/2025), tỉnh Bắc Ninh có khu phố Phù Lưu vốn là làng Phù Lưu hay còn gọi là làng Giầu. Trung tâm làng là chợ Giầu ngày xưa nổi tiếng buôn bán mặt hàng trầu cau (giầu cau).

ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC 洞房花燭 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the

Hình ảnh: Động phòng hoa chúc, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Động phòng hoa chúc 洞房花燭 là một thành ngữ gốc Hán, miêu tả quang cảnh của đám cưới truyền thống, nay chỉ đêm tân hôn. Thành ngữ này xuất hiện nhiều trong văn chương cổ.

Động phòng hoa chúc xuất phát từ bài thơ Hòa Vịnh Vũ của Dữu Tín thời Nam Bắc Triều. Trong đó có câu “Động phòng hoa chúc minh, yến dư song vũ khinh”, tạm dịch là: Phòng sâu nến hoa sáng, đôi én lượn nhẹ nhàng.

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the.

Hoa chúc 花燭 có nghĩa là nến hoa. Đây là tập tục truyền thống không thể thiếu trong nghi lễ cưới xin của người Hán. Thông thường, người xưa sẽ thắp một đôi nến lớn ở đại sảnh và phòng tân hôn. Vì trên thân nến có chạm khắc hoa văn rồng phượng bằng vàng bạc nên gọi là hoa chúc. 

GẶP GỠ TIẾNG MƯỜNG VÀ TIẾNG VIỆT "ĐÀNG TRONG"... - Nguyễn Chương Mt


Trong khung vuông là địa bàn cư trú của người Mường.

/1/ Nhóm của họ, là người Mường ở Thanh Hóa, vô trong Nam sống và làm việc. Một người trong họ thốt lên với vẻ ngạc nhiên, "Ồ, người trong này gọi "mần", sao giống với tiếng Mường vậy!".
Tiếng Việt ngoài châu thổ sông Hồng gọi "làm", người Mường có cách gọi tương tự "là" (nghĩa là "làm"). Và người Mường còn có cách gọi khác nữa là "MẦN". Ở châu thổ sông Hồng người ngoài đó không gọi "mần", nhưng ở miền duyên hải như xứ Nẫu, miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long nhiều người Việt gọi "MẦN"!
Tiếng Mường gọi "MỀN", tiếng Việt châu thổ sông Hồng gọi "chăn". Đâu ngờ, tiếng Việt trong này lại gọi là "MỀN".
Người Việt trong Nam gọi "ƯA", người Mường cũng gọi "ƯA", trong khi tiếng Việt châu thổ sông Hồng không gọi vậy mà thường gọi là "Thích".
Tiếng Mường gọi "Bợi cơm", tiếng Việt trong Nam gọi "BỚI cơm", trong khi ngoài sông Hồng gọi "xới cơm".
... Chỉ đơn cử một chút "phát hiện" như vậy, nằm trong hành trình khám phá ngược dòng về ngôn ngữ - gọi là "VIETIC", trong đó có "proto-Vietic" (tiếng Việt nguyên thủy), "ngữ chi Việt - Mường".
=> Duyên cớ nào - trong lịch sử - đã nối liền thành "VỆT" tiếng Việt ở miền châu thổ Cửu Long với duyên hải xứ Nẩu, xứ Quảng, với tiếng Mường (nằm trong "proto-Vietic") ở Thanh Hóa...?

MẸ 媄 (CHỮ NÔM) - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

MẸ, chữ Nôm được ghi là . Cấu tạo của chữ gồm có hai phần: Bên trái là bộ nữ và bên phải là chữ mỹ .
MẸ là một chữ Nôm thuộc nhóm chữ Nôm sáng tạo của người Việt, thông qua việc kết hợp giữa thành tố biểu âm và biểu ý. Nghĩa là trong chữ mẹ , nữ là bộ thủ biểu ý chỉ chung cho người nữ, còn mỹ là thành tố biểu âm, cho âm đọc Nôm là mẹ.
Theo nguyên tắc chỉnh vần của chữ Nôm mà thực tế là chỉnh nguyên âm, ta có nguyên tắc: Nguyên âm dòng nào thì chỉnh theo nguyên âm dòng ấy. Chữ mẹ được chỉnh theo nguyên tắc nguyên âm dòng trước là i, iê (ia), ê, e. Cụ thể ở đây là chỉnh từ i → e, từ mỹ → mẹ.
 
Hình ảnh: Chữ Mẹ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.”
(Con cò - Chế Lan Viên)

Lúc chưa biết gì về thế giới, người đầu tiên ta gọi là mẹ. Đến lúc tưởng như đã hiểu hết về đời, tiếng mẹ vẫn là lời còn đó, đôi khi cả đời người cũng chưa thể học xong.
Tiếng “mẹ” bật ra từ môi như một phản xạ, là tiếng gọi phổ thông nhất nằm giữa rất nhiều những tiếng gọi khác trong tiếng Việt như má, u, bu, bầm, mệ, mế, mụ, mạ… Nhóm phụ âm môi (b-ph-v-m) là thứ âm thanh trẻ con dễ bắt chước nhất khi học nói. Vì vậy những từ để gọi người thân như mẹ, bà, ba, bố... đều khởi đầu bằng những âm này.