BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI CANH TÝ 2020 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2020

SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM - Hồ Đình Vũ




SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM
                                                                                    Hồ Đình Vũ

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó...riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy ?
Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.
Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác - để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

1.- Tên do địa hình, địa thế 
Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, Tỉnh Bến Tre: “Gió đưa gió đẩy, / về rẫy ăn còng, / về bưng ăn cá, / về giồng ăn dưa…’’

         


 - Giồng: Là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát:“trên đất giồng mình trồng khoai lang…’’ 
Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một Quận (Huyện). Lại nhắc đến một câu hát khác:“Ai dzìa Giồng Dứa qua truông. Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…’’ Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Lương đến Cầu Long Định, ở bên phải Quốc Lộ 4Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn). Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì ?
Truông: Là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. Ở vùng Dĩ An có Truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có Truông nhà Hồ.
 “Thương em anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang’’. Tại sao lại có câu ca dao này ? Ngày xưa Truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.


Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2020

ĐỒI TRĂNG PHAN THIẾT (CHUYỆN TÌNH HÀN MẶC TỬ) - Phan Chính


           Nhớ về Lầu Ông Hoàng là nhớ những chuyện xưa - Ảnh: huu5189 [Hữu Khoa]


ĐỒI TRĂNG PHAN THIẾT (CHUYỆN TÌNH HÀN MẶC TỬ)

Đứng ở trung tâm thành phố Quy Nhơn có thể nhìn thấy rất rõ dòng chữ “Ghềnh Ráng - Tiên Sa” màu trắng, nổi bật trên nền xanh lá ở lưng núi nằm cuối cung đường bờ biển đẹp. Đây là một khu du lịch có các địa danh Bãi Trứng, Bãi Tiên Sa được ví như một viên ngọc bích giữa biển xanh. 

           Đến với khu du lịch Ghềnh Ráng để tìm hiểu về truyền thuyết bao đời (Ảnh ST)

       Cảnh biển mây trời núi đá hòa quyện càng tăng nét hoang sơ hút hồn của Tiên Sa.

Nhưng với khách phương xa có lòng ngưỡng mộ, yêu mến thi nhân bạc mệnh Hàn Mạc Tử thì lại phải đến nơi mà nhà thơ nằm bệnh rồi từ trần cũng trên ngọn núi có cảnh quan hoang sơ và lặng lẽ này. Bất cứ tài xế taxi hay xe ôm nào khi đưa khách đến đây đều hiếm nói địa chỉ Trại phong - da liễu Quy Hòa mà chỉ nói mộ Hàn Mạc Tử mà thôi. 

                                             Khu mộ thi sĩ Hàn Mạc Tử (Ảnh: ST)

Khu vực này bao gồm cơ sở bệnh viện phong - da liễu do Bộ Thương binh - xã hội quản lý và một “làng bệnh phong” được hình thành từ năm 1929, cách đây 90 năm do một linh mục người Pháp làm nơi tập trung chữa trị những người mắc chứng bệnh phong gần như bị cách ly với cộng đồng vì thời ấy do định kiến nặng nề, ruồng rẫy của xã hội… Nay làng phong này có trên 350 hộ gia đình sống dưới những mái nhà riêng và đường sá không khác gì một khu phố nhỏ nhưng đâu đó vẫn lẩn khuất một không khí trầm lắng, an bài… Tại dãy nhà đầu làng đối diện với ngôi thánh đường khá cổ, có một gian nhà được ghi là “Phòng Lưu niệm Hàn Mạc Tử”. Bên trong có bàn thờ nhà thơ và trên vách treo một số bức chân dung người thân và người yêu của Hàn Mạc Tử. Đặc biệt còn đó chiếc giường gỗ cá nhân cũ kỹ, mảnh chiếu ố vàng mà Hàn Mạc Tử đã nằm qua 52 ngày rồi trút hơi thở cuối cùng vào tháng 11.1940, ở tuổi 28.

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2020

LA GI, PHƯỚC HỘI XƯA - Phan Chính


           

           LA GI, PHƯỚC HỘI XƯA  
                                                                  Phan Chính

           Là một địa danh tồn tại khá lâu trước năm 1975 - xã Châu thành Phước Hội gồm 9 ấp thuộc quận Hàm Tân (Bình Tuy). Lúc ấy bao trùm các phần đất của các phường Phước Hội, Phước Lộc, Tân Thiện, Tân An và xã Tân Phước thuộc thị xã La Gi ngày nay với dân số gần 11 ngàn người. Sau năm 1975, Phước Hội, Phước Lộc là xã Tân Hòa và từ cuối 1979 là thị trấn La Gi (huyện Hàm Tân). Phước Hội trở lại với tên cũ từ cuối năm 2005 khi chia tách huyện Hàm Tân và thành lập thị xã La Gi, trên địa giới mới có diện tích 177 ha, dân số gần 17 ngàn người.

                                    Phường Phước Hội, thị xã La Gi

          Không những như hiện nay mà trước năm 1975, Phước Hội đã là trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa của tỉnh Bình Tuy. Xa hơn nữa, ban đầu có tên ấp Hàm lý rồi thành làng Hàm Tân nơi đặt huyện sở khi thành lập đơn vị hành chính huyện Hàm Tân vào năm 1916 dưới triều Nguyễn. Lúc đó địa danh vùng đất này được gọi là La Gi và trở thành địa chỉ quen thuộc trong quan hệ hành chính, thương mại cho vùng đất mới này. Nhân vật được người dân địa phương coi như có công mở đất lập làng là Phan Văn Kỳ, về sau mua được chức cửu phẩm và được mang họ Nguyễn của vua, từ đó được gọi là Cổ Kỳ (là chức Cổ làng Hàm Tân) và dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa được đặt tên cho một con đường dài trên 1 km. Người ta kể ông có sức khỏe phi thường, bằng tay không có thể hạ cả cọp beo. Nằm ngay trung tâm huyện hạt, cho nên các hoạt động văn hóa tiến bộ ở La Gi ra đời khá sớm như nhóm thơ “thi xã”, câu lạc bộ đọc sách, tổ chức thanh niên hướng đạo, hội đá banh…

          Từ sau năm 1945, đất này thuộc vùng căn cứ kháng chiến chống Pháp, các cơ sở đình chùa, nhà ở phải tháo dỡ thực hiện chủ trương “vườn không nhà trống”. Cho nên dù là đất xưa nhưng không lưu giữ được những di tích có giá trị lịch sử. Dười chế độ cũ tại đây tập trung nhiều cơ sở quản lý quan trọng của tỉnh mới Bình Tuy. Có hai khu vực gọi là Chợ Cũ (Phước Lộc), Chợ Mới (Phước Hội).Trụ sở quận lỵ Hàm Tân và Tòa hành chính tỉnh Bình Tuy tồn tại được vài năm rồi dời đi về khu vực quy hoạch cùng các cơ sở của bộ máy hành chính tỉnh (Tân An). Nhưng ngôi chợ Phước Hội vẫn là chợ trung tâm của thị xã ngày nay. Cạnh đó là rạp xi-nê Dân Tiến, chiếu phim nhựa phải có người thuyết minh trực tiếp.

        Ngôi chùa Quảng Đức có lịch sử truyền thống lâu đời nhất của người theo đạo Phật và là tổ đình của Phật giáo địa phương. Trước đó, chùa nằm trong hệ thống An Nam Phật học hội Nam phần- thuộc hội Phật học Bình Thuận. Đại sư Thích Quảng Nhơn khai sơn từ một ngôi thảo am cạnh con rạch nối với sông Dinh, đến năm 1956 dựng chùa mới với tên chùa Phật học Bình Tuy. Kế tục từ năm 1962-1975, trụ trì ĐĐ.Thích Quảng Thành vận động xây dựng mới và được Viện hoá đạo GHPGVNTN công nhận là cơ sở đại diện Phật giáo tỉnh Bình Tuy. Từ năm 1965 đổi tên là chùa Quảng Đức trên phần đất chùa ngày nay. 



         Có ba giáo xứ Thiên chúa giáo lớn là Vinh Thanh, Vinh Tân và Thanh Xuân. Từ năm 1955 một số nhóm dân quê Thanh Dã, Yên Đại thuộc giáo xứ Vinh di cư vào Nam, tách ra từ giáo xứ Vinh Tân, lập họ đạo Thanh Xuân và xây dựng nhà thờ vào năm 1957. Đến năm 1960 được công nhận là giáo xứ Thanh Xuân, thuộc giáo phận Nha Trang. Phần đất này ngày xưa có một sân banh (sân bóng đá) và cạnh đó là đầm nước rậm rạp cây đước, tre gai với con rạch chảy thông ra sông Dinh.

                         Đài Kitô Vua trước mặt nhà thờ giáo xứ Thanh Xuân (La Gi)

        Đánh dấu sự phát triển cư dân qua các thời kỳ có thể thấy những xóm nhà, khu vườn cây dài gần 1 km bờ hữu ngạn sông Dinh và gò nghĩa địa Thanh Minh phía nam của phường. Những địa danh Chợ Cũ, Chợ Mới, Cầu Chợ, Sân Banh, Lò Vôi, Gò Thanh Minh… chỉ còn trong ký ức bởi sự đổi thay của những con đường đô thị nhộn nhịp với nhà tầng nguy nga, khang trang. Có thể nói phường Phước Hội là “đặc trưng” của thị xã La Gi về đời sống xã hội, văn hóa và con người. Rất khó mà phân biệt nét riêng biệt về cư dân ở đây bởi mỗi một thời kỳ có những đợt di cư từ nơi khác đến sinh sống và hoà nhập. Là nơi thị tứ ngay buổi đầu lập huyện rồi lên tỉnh, môi trường thương mại sôi động nhưng người Hoa cũng chỉ chiếm số ít và “lai” dần khi lấy vợ, lấy chồng không còn giữ quốc tịch gốc. Có còn chăng ở những bảng hiệu buôn ngày trước như Cần Phong, Liên Phong, Diệu Ký, Bình An, Bành Văn Thành, Đại Đồng… trong hoạt động kinh doanh tạp hóa, thuốc bắc. Lớp người có mặt thời khai phá vùng đất lập làng từ miền Trung đất Quảng đến đây lập nghiệp được coi là dân bản địa. Nhưng đến sau năm 1957, khi lập tỉnh Bình Tuy mới có đợt di cư khá đông từ vùng biển Nghệ An vào hình thành hai xứ đạo Vinh Tân và Thanh Xuân.
        Trên một địa bàn chưa đến 2 km2, tưởng chỉ sống bằng nghề kinh doanh, dịch vụ nhưng lại có một bộ phận khá lớn làm nghề khai thác, chế biến hải sản, số lượng tàu thuyền gần 450 chiếc với năng suất khai thác hàng năm chiếm khoảng 30% sản lượng của thị xã. Tuy nay địa giới được xác lập theo tổ chức quản lý hành chính xã, phường nhưng cư dân Phước Hội vẫn có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng qua các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian và tập tục, thờ cúng vùng biển, đình làng như lễ hội Cầu ngư, ngày Thanh minh hàng năm mà trở thành nét văn hóa của vùng biển La Gi. 
                                                                                        Phan Chính

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

TRỞ LẠI VÙNG ĐẤT XƯA TÁNH LINH (BÌNH THUẬN) - Phan Chính


             

TRỞ LẠI VÙNG ĐẤT XƯA TÁNH LINH (BÌNH THUẬN)
                                                                                  Phan Chính

Lần theo chặng đường hình thành cư dân bản địa đầu tiên ở Tánh Linh sẽ nghĩ đến sự xuất hiện làng người Chăm Tánh Linh - Palei Pacame (Lạc Tánh), phía nam tỉnh Bình Thuận, từ thời Minh Mạng thứ 5 (1824). Trước đó, đất Tánh Linh thuộc tổng Nông tang (tức địa bàn hành chính vùng sơn địa làm nông, trồng dâu nuôi tằm), huyện Tuy Định, phủ Bình Thuận. Làng Chăm Tánh Linh đã có sắc phong Thần quản tế cho Pô Harum Cơk, lãnh chúa người Chăm. Bên cạnh đó cũng có nhiều nhóm người Kinh vùng lân cận đến đây định cư lập ấp (Lạc Hóa) sống nghề khai thác sản vật rừng. Địa bàn Tánh Linh ngày xưa gồm cả huyện Đức Linh và Tánh Linh hiện giờ. Phần đất huyện Đức Linh nằm phía tây - tây bắc Bình Thuận có ranh chung với Đồng Nai, Lâm Đồng dài nhất. Ngoài ra còn có thổ dân là người K’ho, Raglai, Châu Ro, Mạ...  

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2020

LA GI, LÝ LỘ VÀ DỊCH TRẠM NGÀY XƯA - Phan Chính


           


LA GI, LÝ LỘ VÀ DỊCH TRẠM NGÀY XƯA
                                                            Phan Chính

Quá trình khai phá đất đai, phát triển xóm làng của người xưa đều gắn với điều kiện giao thông đường sá (lý lộ). Sau khi chấm dứt tình trạng đất nước chia cắt Đàng Trong -Đàng Ngoài, đến thời nhà Nguyễn thống nhất mới để ý đến việc kiến tạo con đường cái quan từ bắc xuống nam. Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, ngoài việc giao thương bằng phương tiện ghe thuyền đường biển thì sau này theo địa thế từng vùng mà hình thành các loại đường gọi là quan báo, đó là đường sơn lộ miệt rừng núi, đường tiểu lộ và đường tiểu lộ ven biển. Qua sông rất hiếm nơi có bắc cầu, ở La Gi và lân cận chỉ có cầu Đông Thái (Hiệp Nghĩa), cầu La Giang (Phước Lộc), cầu Tân Quý (Sông Phan), cầu Phù Mi (Cù Mi)… nhưng tồn tại không lâu, mà chỉ đi lại bằng bè, đò ngang. Phương tiện vận chuyển chủ yếu là ngựa, xe trâu, xe bò, kiệu, võng và người mang vác… Thực chất những con đường quan lộ lúc bấy giờ như tên gọi chỉ dành cho công vụ và quan viên kinh lược hay cho mục tiêu thuộc địa.

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

ĐI TÌM ĐỊA DANH BÌNH TUY - Phan Chính


             

            ĐI TÌM ĐỊA DANH BÌNH TUY

Có đến hai mươi năm địa danh tỉnh Bình Tuy là một phần đất rộng lớn phía tây nam của tỉnh Bình Thuận ngày nay. Dưới chế độ Việt Nam cộng hoà, từ một sắc lệnh ký ngày 25.10.1956 tỉnh Bình Tuy được thành lập gồm một phần đất của hai huyện Hàm Thuận,Tánh Linh và một phần đất của hai tỉnh Long Khánh, Lâm Đồng cùng lúc với 22 tỉnh miền Nam. Đến năm 1976, khi thành lập tỉnh Thuận Hải thì không còn nữa. Nhiều câu hỏi địa danh tỉnh mới này tại sao là Bình Tuy 平綏, mang ý nghĩa gì? Đối với Ngô Đình Diệm - Tổng thống đệ nhất VNCH vốn là người được hấp thụ nhiều Tây học nhưng cũng chịu ảnh hưởng nền giáo dục Nho giáo của gia đình, cho nên quyết định một tên tỉnh mới phải có lý do nào đó.

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2020

DẤU XƯA TUY PHONG, BÌNH THUẬN - Phan Chính


           


DẤU XƯA TUY PHONG, BÌNH THUẬN

Qua ngữ liệu, nguồn gốc địa danh của một vùng đất người ta có thể hình dung được một phần nào quá trình hình thành và những dấu tích có giá trị lịch sử mà thời gian đã dần dần đánh mất. Tuy Phong ngày nay được biết đến là một nơi địa đầu của tỉnh Bình Thuận, khắc nghiệt của nắng gió nhưng được thiên nhiên bù đắp lại bằng nhiều di tích, danh thắng luôn là những dấu ấn vừa lôi cuốn vừa lạ lùng. Thời gian từ phủ nâng thành tỉnh Bình Thuận vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832), chia làm hai phủ Ninh Thuận và phủ Hàm Thuận, cùng lúc lập thêm 2 huyện Tuy Phong và Tuy Định (theo tổ chức hành chính bấy giờ huyện trực thuộc phủ). Năm 1836, phủ Ninh Thuận (thuộc tỉnh Bình Thuận) có 2 huyện An Phước, Tuy Phong. Huyện Tuy Phong có 4 tổng Bình An, Nghĩa Lập, Tuy Tịnh và tổng đảo Phú Quý (Thuận Tĩnh) gồm 10 đảo lớn nhỏ.

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2020

DẤU XƯA: BÌNH THUẬN - ĐÀ LẠT VÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG / Phan Chính


             


        BÌNH THUẬN - ĐÀ LẠT VÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG
                                                                                  Phan Chính

Đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn mới nối tiếp con đường cái quan (thiên lý, quan lộ, quan báo) đã có, bắt đầu từ Quảng Nam vào tỉnh Bình Thuận và giáp địa giới Biên Hòa. Các con đường sơn lộ tuy có nhưng không mấy thuận lợi do bị cắt khúc, địa hình núi sông hiểm trở, thú dữ hoành hành. Cho nên đường quan lộ được mở rộng theo hướng ven biển và thời này đã hình thành nhiều xóm làng từ những đợt lưu dân phiêu tán bằng đường biển dọc dài từ bắc vào nam. Điểm đặt các dịch trạm cũng là nơi có làng chài, cửa sông và dân cư sống bằng nghề nông ổn định. Đến năm 1822 dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huỳnh Đức mới tiếp tục con đường quan lộ từ kinh đô Huế vào, trong đó trên phần đất trấn Biên Hòa có 6 trạm dịch theo hướng mở ngược ra miền ngoài từ Bình Trước (Biên Hòa) qua ngã ba Vũng Tàu.

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2020

TÍN NGƯỠNG THẦN LINH XỨ BIỂN BÌNH THUẬN - Phan Chính


         


         TÍN NGƯỠNG THẦN LINH XỨ BIỂN BÌNH THUẬN
                                                                                    Phan Chính

Dải đất bờ biển Nam Trung bộ có địa hình phù hợp cho nhiều bến đỗ với làn sóng lưu dân, nhất là từ thời tiểu vương quốc Phanduranga cuối cùng, trở thành Thuận Thành trấn rồi tiếp đó là Bình Thuận phủ (1697). Cho nên đặc trưng về tín ngưỡng ở vùng đất duyên hải Bình Thuận trải dài gần 200 km bờ biển rải rác nhiều di tích đền chùa, miếu mạo, dinh vạn của dân bản địa Chăm - Việt, dân lưu vong Trung Hoa…

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2020

PHIẾM LUẬN: HỎA LÀ LỬA - Đỗ Chiêu Đức


                Ã„á»— Chiêu Đức
                            Tác giả Đỗ Chiêu Đức


              PHIẾM LUẬN: HỎA LÀ LỬA 
                                                                            Đỗ Chiêu Đức

Theo Phật giáo, cơ thể con người là do Tứ Đại : Phong Thủy Hỏa Thổ, tức là Đất Nước Gió Lửa kết hợp lại mà thành, nên bản thân con người đã có một phần tư là lửa ở trong đó rồi, ngọn lửa đó cứ âm ỉ mãi trong ngũ tạng lục phủ tạo nên sự ham muốn mãnh liệt mà ta gọi là Lửa Dục Vọng. Trong văn chương Phật giáo thì gọi nhẹ nhàng hơn : Lửa Lòng. Như cụ Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều khi tu ở Quan Âm Các:

Cho hay giọt nước cành dương                        
Lửa Lòng tưới tắt mọi đường trần duyên…

và như lời của Thúy Kiều đã phân bua với Vương Viên Ngoại khi ông muốn nàng từ giả sư Giác Duyên để theo mọi người về nhà đoàn tụ:                                

Sự đời đã tắt Lửa Lòng,                        
Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?!

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

VỀ “NGƯỜI TÌNH THÔN VỸ ” CỦA HÀN MẶC TỬ: HOÀNG THỊ KIM CÚC - Phan Thanh Tâm

Nguồn:
https://kontumquetoi.com/2015/02/17/ve-nguoi-tinh-thon-vy-cua-han-mac-tuhoang-thi-kim-cuc/


      Hoang-Thi-Kim-Cuc-11230
                         Cô Hoàng Thị Kim Cúc (1913-1989)


        CÔ GÁI HUẾ THỜI TIỀN CHIẾN
                                                Phan Thanh Tâm

Huế đâu chỉ có sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền mà còn có Thôn Vỹ. Thôn này có bóng dáng một cô gái Huế thời tiền chiến: Cô Hoàng Thị Kim Cúc (1913-1989), người tình trong mộng của thi sĩ Hàn Mạc Tử. Cô còn là “Chị Cả” của tất cả anh chị em gia đình Phật tử  ba miền đất nước và Cô còn để lại một di sản văn hóa cho thế hệ mai sau: hai bộ sách nổi tiếng "Những Món Ăn Nấu Lối Huế"; "Cách Nấu Chay".


  


     

Bài thơ "Ở Đây Thôn Vỹ Dạ", được Hàn Mạc Tử viết từ năm 1939, đã đưa địa danh Vỹ Dạ và mối tình đầu của một thi sĩ tài hoa nhưng mệnh yểu vào văn học sử. Đó là một kỷ niệm của một mối tình trong trắng, thanh cao và bất diệt giữa hai tâm hồn khác tôn giáo. Cô Hoàng Thị Kim Cúc, người đẹp trong cuộc, đã xác nhận như vậy. Tuy thế, vẫn có nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuổi trong hơn nửa thế kỷ qua đã viết về chuyện tình Hàn Mạc Tử + Kim Cúc không trung thực, “có khuynh hướng liêu trai hóa”. Vì vậy, gần đây mới có cuốn "Lá Trúc Che Ngang Chuyện Tình Của Cô Tôi " ra đời ở Huế.
Tác giả Hoàng Thị Quỳnh Hoa, cựu Giáo sư Anh Văn trường Nữ Trung Học Gia Long ở Sài Gòn trước 1975, hiện định cư ở Maryland, năm 2013 đã cho xuất bản cuốn sách dày 198 trang nhân 100 năm sinh nhật của cô mình, để phản bác các sai trái. Sách còn cho thấy chân dung của cô Kim Cúc. Tác giả Quỳnh Hoa đã mất 10 năm tra cứu tài liệu sách báo; đã về Huế nhiều lần để tham khảo thư từ mà cô mình để lại. Cô Kim Cúc bị hôn mê sau một tai nạn giao thông ở Saigon và qua đời ở Thôn Vỹ. Đám tang của cô ở Huế, ngày 15 tháng 2 năm 1989, được xem như  một trong vài đám tang lớn nhất từ trước tới nay.

han-mac-tu-6

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

SỬ VIỆT CHO CHÁU - Lê Nghị

Để định hướng vấn đề nguồn gốc người Việt và tiếng Việt theo tiêu chí : trung thực- dân tộc - nhân văn, bổ sung cho bài số 1 mở đầu, chúng tôi xin trích một đoạn biên khảo khá dài, nhưng thiễn nghĩ cần thiết truyền đạt cho trẻ em khi giảng sử.

           
                          Tác giả Lê Nghị 


           SỬ VIỆT CHO CHÁU

Theo luận thuyết thiên di chủng tộc tự nhiên (out of Africa: rời khỏi châu Phi) và di dân nhân tạo kéo theo biến đổi ngôn ngữ thì:
- Chủng tộc Việt là hậu duệ của Nam Á.
- Chủng tộc Hoa nam ( M122) là hậu duệ người Việt cổ (M175)
- Chủng tộc Hạ là hậu duệ của chủng Việt Hoa nam và chủng Mongoloid. (M122+M174)

Dẫn tới:

 - Tiếng Hoa Nam là hậu duệ của tiếng Việt bao gồm cả lời nói và chữ viết.
 - Tiếng Trung ngày nay là hậu duệ của tiếng Việt Hoa Nam và tiếng của tộc Hạ. Trong đó tiếng Việt Hoa Nam chiếm đến 80%
- Tiếng Việt ngày nay bao gồm cổ ngữ và kim ngữ. Kim ngữ, tiếng Nôm hay thuần Việt là bộ phận tiếng Trung ngày nay không sử dụng.
- Cổ ngữ Việt là tập hợp giao của tiếng Việt và tiếng Trung (tức ngày nay ta gọi Hán- Việt, bị hiểu lầm là gốc từ Hán. Sự thật thì đa phần là ngược lại). Nói cách khác tiếng Việt ngày nay có cổ ngữ, kim ngữ và một phần rất nhỏ Hoa ngữ. Quá trình ngàn năm nô lệ và giao lưu văn hoá người Việt cũng có sử dụng một ít Hoa ngữ có nguồn gốc người Hạ là không thể chối cãi.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

ĐƯỜNG CÁI QUAN QUA ĐẤT BÌNH THUẬN THUỞ XƯA - Phan Chính


         


Lịch sử con đường thiên lý nối từ Bắc vào Nam, đi ngang qua đất Bình Thuận từ buổi đầu hình thành vẫn còn là những điều thật kỳ thú đối với thế hệ sau này. Qua các thời kỳ có nhiều tên gọi khác nhau, đường quan lộ, đường hạ đạo, đường quan báo, đường cái quan… có một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển, mở mang đất nước từ giữa thế kỷ XI thời Lý Thái Tông (1028 -1054). Trên lãnh thổ Bình Thuận, phải liên hệ lại từ giữa thế kỷ XVII, người Chăm đã biết mở đường mòn, sử dụng voi làm phương tiện vận chuyển trong khai thác tài nguyên vùng rừng và biển miền Trung.

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2020

BÌNH THUẬN TRONG HÀNH TRÌNH MỞ ĐẤT - Phan Chính


          


      BÌNH THUẬN TRONG HÀNH TRÌNH MỞ ĐẤT
                                                                                  Phan Chính

Có lẽ địa danh Bình Thuận xuất hiện sớm nhất vào năm Đinh Sửu (1697), lúc ấy là một phủ của trấn Thuận Thành, sau khi Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính dẹp được nạn loạn vua Chiêm Bà Tranh và chiếm được phần đất cuối cùng của Champa từ Phan Rang đến xứ Chân Lạp. Thời vua Gia Long đặt dinh Bình Thuận, rồi đến Minh Mạng thứ 4 (1823) đặt lại phủ Bình Thuận có 2 huyện An Phước và Hòa Đa. Trong quảng thời gian gần 130 năm đó, Bình Thuận qua nhiều lần thay đổi cấp hành chính dinh, trấn, phủ bao gồm một phần đất của Ninh Thuận, Lâm Đồng và phía nam Tây nguyên.

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2020

LA GI, ĐỘNG TRẮNG BÊN CỬA BIỂN BA ĐĂNG - Phan Chính


           


           LA GI, ĐỘNG TRẮNG BÊN CỬA BIỂN BA ĐĂNG

         Dọc dài 28 km bờ biển thị xã La Gi còn lạc lõng một phần đất rộng khoảng năm mươi mẫu nhưng được thiên nhiên ban tặng cho một cảnh quan lạ lẫm và thơ mộng. Ba phía là bờ biển hoang sơ và đồi cát cao nghiêng bóng xuống dòng sông đầy cây xanh quyến rũ. Đó là Động Trắng, một địa danh gắn liền với bao truyền thuyết và lưu dấu cư dân ngày xưa, nằm bên bờ tả ngạn cửa tấn Ma Ly (Sông Phan) và phía hữu ngạn là làng chài Ba Đăng (thôn Hiệp Thành, xã Tân Hải). 

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2020

BÌNH THUẬN, MỘT THỜI CÁC LÁI GHE BẦU ! - Phan Chính





       BÌNH THUẬN, MỘT THỜI CÁC LÁI GHE BẦU !
                                                                                   Phan Chính

        Đất nước ta có lợi thế bờ biển dọc dài từ Bắc vào Nam. Trong đó Bình Thuận cũng có chiều dài 192km. Lịch sử hình thành cư dân, khai khẩn đất hoang cũng khởi đầu từ đầu thế kỷ 18 với những chiếc ghe bầu đưa lưu dân xuôi nam làm nên xóm làng và ngược lại cung cấp hàng hóa, thực phẩm cho đất kinh đô. Nhưng được biết đến vai trò ghe bầu đắc dụng hơn là dưới thời Nguyễn Ánh đã có trong tay 235 ghe bầu và khoảng 500 chiến thuyền, lập ra những đội “trường đà” hùng hậu có mặt trên biển đông giáp với Hoàng Sa, Trường Sa và hoạt động chài lưới xa bờ dài ngày. Không những riêng cho khả năng quân sự mà trong thương mại ghe bầu còn là phương tiện vận chuyển, chuyên chở hàng hóa, lương thực hiệu quả nhất. Ghe bầu ở nước ta có lai lịch của thuyền buồm gốc Chăm- Mã Lai, cách đọc do biến âm từ “gay” (ghe thuyền) và “prau” (thuyền buồm), rồi người Việt đọc từ pràu thành bầu. Người dân miền Trung thiết kế ghe bầu theo kiểu dáng ghe prau với loại lâm đặc sản thích hợp và nguyên liệu mủ chai, dầu rái… khá phổ biến ở địa phương. Bởi ảnh hưởng đó mà dễ phân biệt thuyền miền Bắc khác với ghe phía Nam qua cánh buồm.



Thứ Bảy, 29 tháng 2, 2020

THUYỀN THÚNG TRÊN BỜ BIỂN LA GI - Phan Chính


                


        THUYỀN THÚNG TRÊN BỜ BIỂN LA GI
                                                                        Phan Chính

        Dọc dài bờ biển 28 km của thị xã La Gi (Bình Thuận) vẫn tồn tại các bến thuyền thúng nằm trên bãi ngang ở Cam Bình, Hồ Tôm, Tân Long, Bàu Dòi, Ba Đăng… Nhưng tập trung nhiều nhất là bến Bàu Dòi (Tân Tiến) và Cam Bình (Tân Phước) với gần 600 chiếc. Mùa bấc rồi chuyển sang giêng, biển động mạnh, thuyền máy đánh khơi xa phải nằm chờ, thì nghề thuyền thúng lại đắc dụng với mặt nước biển gần bờ bằng lưới nậu, lưới rê vài sải tay. Với mùa giêng này loài cá nhiều nhất chạy ngoài chân sóng là cá ve, cá trích, cá đục, cá hanh, cá đối… Riêng ở Tam Tân thì có giống tôm bạc với chất thịt chắc đậm nhưng nay gần như biệt dạng. Thời gian thuyền thúng tung lưới vào buổi chập sáng đến khi mặt trời lên thì kéo thúng lên bờ. Ở bãi Cam Bình khác hơn các nơi là dùng xe bò một con ra bãi biển, tháo dây ách bò, hạ thùng xe để đẩy thúng lên đưa vào mô cát cao. Nhiều con bò quanh năm quen với đất ruộng vậy mà tỏ ra thành thạo, chỉ một thao tác hất sừng cho càng xe đặt vào cổ rất nhẹ nhàng. Cái cảnh thường thấy trước đây là phải bốn năm ngư phủ ra sức hì hục choàng dây đai nhấc bổng thúng chuyển lên bờ xa hàng trăm bước.


Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2020

SỰ KỲ BÍ TRỐNG ĐỒNG LẠC VIỆT ẨN CHỨA KINH DỊCH ĐÃ ĐƯỢC KHÁM PHÁ - Nguyễn Xuân Đài

Nguồn:
https://healthplus.vn/su-ky-bi-trong-dong-lac-viet-an-chua-kinh-dich-da-duoc-kham-pha-d69298.html


           
                   Trống đồng Hoàng Hạ của nền văn hóa Đông Sơn

HEALTH+ | LTS: Sau một buổi hội thảo cũng như giới thiệu sách của một nhà nghiên cứu người Pháp gốc Việt về Kinh dịch và những bí ẩn của trống đồng cổ nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài đã gọi điện và chia sẻ về những bí ẩn thú vị về kinh dịch cũng như trống đồng cổ mà ông vừa được nghe trình bày tại hội thảo cũng như những trao đổi trực tiếp từ diễn giả tại nhà ông. Và đúng như ông nói, ông đã chia sẻ kỹ hơn về những bí ẩn nguồn gốc của trống đồng Việt cổ và nguồn gốc 64 quẻ kinh dịch trong bài viết này với độc giả Health+. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

SỰ KỲ BÍ TRỐNG ĐỒNG LẠC VIỆT ẨN CHỨA KINH DỊCH ĐÃ ĐƯỢC KHÁM PHÁ

Năm 2017, Trung tâm Văn hóa Pháp - L’Espace đã tổ chức một buổi hội thảo khá lý thú nhằm chia sẻ về Kinh Dịch và những bí ẩn trên mặt trống đồng Đông Sơn - Bảo vật quốc gia của Việt Nam, và một số trống đồng khác do bác sỹ Lê Trọng Tước - Giáo sư Kinh Dịch, Chủ tịch Hội đồng cao cấp quốc tế Kinh Dịch, Chủ tịch Hội Phong thủy Châu Á, Chủ tịch Hội Phát triển kỹ thuật Y-Khoa nước Pháp ra ngoại quốc, làm diễn giả chính. Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước.
Năm 2018, một lần nữa bác sỹ Lê Trọng Tước lại chia sẻ về những nghiên cứu của ông trong một buổi nói chuyện với các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian của tỉnh Phú Thọ, trong lần thăm Đất Tổ Đền Hùng, mà ông đã viết rõ trong cuốn sách của mình. Lần đầu tiên trên thế giới, tác giả đưa ra những giải thích rõ ràng và không thể phản bác về cấu trúc liên tiếp của 64 quẻ Kinh Dịch. Dựa trên quá trình nghiên cứu về trống đồng, ông đã tìm được bí ẩn mà các tác giả Kinh Dịch của thời đại các Vua Hùng đã cất giấu trên mặt các trống và mặt trong các trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ và mặt trống đồng Quảng Xương họa đồ Trung Thiên Đồ Lạc Việt (Hay Trung Thiên Bát Quái) và Hậu Thiên Đồ Lạc Việt (Hậu Thiên Bát Quái).
Thực tế, trống đồng và Kinh dịch đều ẩn chứ vô vàn bí mật. Vén màn những bí mật đó sẽ cho con người có cái nhìn thấu đáo hơn về những bí mật của lịch sử thế giới hàng nghìn hàng vạn năm. Trong phạm vi bài viết này, người viết sẽ ghi lại những nhận định về các “bí mật” mà mình đã từng được nghe, được thấy và được chiêm nghiệm.

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2020

SÔNG DINH, DÒNG SÔNG MUÔN THUỞ - Phan Chính


          

          SÔNG DINH, DÒNG SÔNG MUÔN THUỞ
                                                                            Phan Chính

          Sông Dinh ở La Gi xuất phát từ Núi Ông thuộc huyện Tánh Linh, chảy qua huyện Hàm Tân, nhưng đoạn ngang qua phần đất thị xã La Gi khoảng 6 km rồi trổ ra cửa biển để hòa vào đại dương mênh mông. Sách xưa mô tả sông La Di phát nguồn từ phía tây huyện Tuy Lý 70 dặm, đầu nguồn từ động Mọi và hợp lưu các khe suối núi Chà Cố chảy đến xứ Bồn Bồn rồi tuôn ra cửa biển La Di/La Gi. Thực ra tên gọi Sông Dinh không những ở La Gi, Bình Thuận mà còn có ở nhiều nơi như Phú Yên, Ninh Thuận, Quảng Bình, Bà Rịa-Vũng Tàu… lại gắn với truyền thuyết rất riêng. Qua các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, cho rằng đối với người Chăm xưa thường gọi những đoạn sông chảy ngang hoặc hướng về khu cư dân đông đảo, nơi có thờ các thần linh với nguyên từ là “nau-ding”, từ chữ Ding phát âm là “Tìng”, người Việt phiên âm thành Dinh, để tương ứng với nghĩa là nơi thờ thần linh ở những địa bàn cư dân tập trung. Sông Dinh ở La Gi còn gọi là sông La Di như trong sách Đại Nam nhất thống chí triều Nguyễn có ghi chép.

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2019

“BINH THƯ YẾU LƯỢC” CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO BÀN VỀ PHÉP HÀNH QUÂN - Trịnh Sinh


                   Đền thờ Trần Hưng Đạo tại Kiếp Bạc, Hải Dương. Ảnh: Trịnh  Sinh


“BINH THƯ YẾU LƯỢC” CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO BÀN VỀ PHÉP HÀNH QUÂN 
                                                                                    Trịnh Sinh

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị tướng đại tài trong lịch sử dân tộc. Ông không những có công đuổi giặc Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi nước ta, mà còn là một nhà văn kiệt xuất với áng văn bất hủ “Hịch tướng sĩ” (nguyên văn chữ Hán là Dụ Chư Tỳ tướng hịch văn) làm nức lòng quân dân Đại Việt trong lúc thế giặc mạnh như chẻ tre.

Vào năm 1284, Thoát Hoan chỉ huy quân Nguyên Mông xâm lược nước ta đã chiếm được ải Chi Lăng, quân ta phải lui binh về Vạn Kiếp. Vua Trần Nhân Tông đã phải mời Trần Hưng Đạo đến để hỏi ý kiến nên đánh hay nên hàng: “Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?”. Trần Hưng Đạo đã quyết tâm chiến đấu: “Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng”. Nhờ đó mà Trần Nhân Tông cũng quyết tâm cùng quân dân đi đến cùng của cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thắng lợi. Cũng một phần nhờ tài năng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mà quần tụ được 20 vạn quân sĩ ở Vạn Kiếp và khích lệ quân sĩ bằng “Hịch tướng sĩ”. Trong dịp này, Trần Hưng Đạo cũng viết sách “Binh thư yếu lược” để cho quân tướng của mình biết các binh pháp đối phó với giặc. Cuối cùng, quân ta đã đại thắng trong cuộc chiến lần thứ hai.