BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI MẬU TUẤT 2018 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÚT KÝ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÚT KÝ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2019

NGƯỠNG CỬA TỬ SINH - Trần Kiêm Đoàn


     

        NGƯỠNG CỬA TỬ SINH

Chiều nay mình trở lại thăm một người bạn mà trước đây sáu tháng mình có giới thiệu và nhắc nhở trên trang Facebook này. Đó là anh Quảng Quý Huỳnh Kim Lân.
Cách nay sáu tháng, bác sĩ đã cho biết là anh chỉ còn khoảng 100 ngày nữa để sống vì anh đang ở giai đoạn cuối cùng của bệnh ung thư phổi.

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

HAI LẦN GẶP NHÀ THƠ HỮU LOAN Ở BÀ RỊA - Lê Thiên Minh Khoa


       
                           Tác giả Màu tím hoa sim - 
                     Tranh dán giấy của Phạm Hoan


          HAI LẦN GẶP NHÀ THƠ  HỮU LOAN Ở BÀ RỊA
                                                                Lê Thiên Minh Khoa

   Tôi gặp nhà thơ Hữu Loan chỉ 2 lần, nhưng lần nào cũng dài ngày.
   Lần đầu, vào đầu năm 1988, vào dịp tết Nguyên đán, gia đình tôi được đón tiếp nhà thơ Hữu Loan ở Bà Rịa khi ông du hành phương Nam.
  Đây là cuộc hành phương Nam đầu tiên của ông sau ngày 30.4.1975. Sau nhiều năm bị quản thúc tại địa phương, đến năm 1986, ông mới được ra Hà Nội thăm bạn bè và cuối năm 1987, làm một chuyến du hành phương Nam. Trạm dừng chân đầu tiên là Huế, rồi Quảng Ngãi, Nha Trang và cuối cùng là Biên Hòa và Bà Rịa. Đến địa phương nào, ông cũng được giới văn nghệ sĩ đón tiếp nồng hậu. Riêng ở Bà Rịa, ông  trú lại suốt tết năm đó, đầu năm 1988, ăn ngủ với  chúng tôi, cùng đi chơi hội vui xuân, chụp hình, đàm đạo, dẫn các cháu bé đi dạo, dự các tiệc thơ với Hội thơ Lan Đình, giao lưu với văn nghệ sĩ, trí thức Bà Rịa yêu thơ ông, ngồi làm mẫu cho HS Phạm Hoan ký họa, nhậu “xoay tua” với bợm nhậu đất rượu Hòa Long… Ôi, biết bao là kỷ niệm  đẹp với ông, về ông!…

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

GẶP HOÀNG THẠCH TÚ Ở ĐÀ NẴNG - Võ Cẩm


       
                    Hoàng Thạch Tú và Võ Cẩm 


       GẶP HOÀNG THẠCH TÚ Ở ĐÀ NẴNG

Tú cùng xã Triệu long với tôi. Thường gặp nhau trên đường đi học Nguyễn Hoàng thời thơ dại.
Tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Tú dạy học ở Đà Nẵng. Gặp Tú năm 1972 rồi xa biền biệt.
Cách đây 5 tháng về Đà Nẵng, Quỳnh Thủy cho điện thoại, rất tiếc Tú đi xa nên không gặp, hẹn lại lần sau.
Lần này khi trên xe đến Đà Nẵng tôi gọi điện thoại ngay. Phía đằu dây bên kia, Tú bảo:
- Mình sẽ trốn trại gặp bạn.
- Tú nói gì mình không hiểu?
- Mình trốn bệnh viện đó mà.
- Gần 50 năm chưa gặp nhau, lần trước lỡ hẹn.
- Mình vào bệnh viện lãnh thuốc, khoảng 2 rưỡi đến 3 giờ mình có mặt tại nhà cậu.
Tôi ngồi nhà bà chị ruột chờ từ 11giờ 30.
Tranh thủ tôi gọi Song, một cậu em kết nghĩa cũng cách nay 50 năm, lúc tôi làm lính đóng quân ở Sịa.
Hai cái hẹn gần nhau, vì thời gian quá ít.
Tôi đinh ninh Song đến trước.
Song nói, khoảng 10 phút em đến vì nhà Song gần chỗ nhà chị tôi.
Hai cái hẹn cùng lúc mà cả hai người tôi không nhớ mặt.
Tú tôi có thể nhận ra vì thời còn bé cùng chung đường đến trường, đôi lần gặp nhau trên Facebook. Còn Song thì xem như người lạ.
Trước giờ Tú hẹn, đồng hồ chỉ 2 giờ chiều.
Sau 10 phút Song hẹn thì Tú đến, tôi cứ nghĩ là Song.
Tôi mời vào nhà, đợi Tú.
Tuổi già lấp lem, ngồi trên bộ xalon.
Tôi nói: Song ngồi đợi bạn anh một tí.
Tôi tiếp: Sao Song có khuôn mặt giống bạn anh quá. Anh có người bạn tên Tú. Hoàng thạch Tú dạy ở trường Trần quý Cáp Hội an.
Tú ngẩn người thấy lạ. Sao thêm một Hoàng thạch Tú cũng dạy Trần quý Cáp, Hội An mà Tú không biết.
Nhìn kỹ tôi nhận ra Tú.
Tôi thấy hố, ôm Tú cười ngắt nghẽo. Tôi nhận biết mình già, 77 tuổi rồi còn gì.
Tôi xin lỗi Tú: Tau lầm.
Vài phút sau Song đến, Song còn trẻ lắm chỉ tuổi 63.
Tôi kể cho Song nghe câu chuyện vừa rồi và nhắc chuyện ngày quen biết nhau cách đây hơn 50 năm, rồi đem nhau đi uống cafe. Té ra Song và Tú đã gặp nhau nhiều lần ở cơ quan Song mà em rễ Tú làm Giám đốc. Đúng là quả đất tròn.
Tú đưa tôi về nhà lấy xe, hai đứa về nhà Tú.
Chúc mừng bạn có nơi ở khá khang trang trong con hẻm đường Trần Cao Vân. Căn nhà mà vợ chồng Tú và đứa con gái đang dạy Đại học Duy Tân ở.
Lần đầu tiên gặp vợ Tú xinh đẹp, cởi mở, lịch thiệp và quý khách.
Tuổi trên thất thập mà còn gặp nhau là hạnh phúc.
Tú vào phòng lấy 2 hủ yến sào và bịch bánh dành cho người "Tiểu đường " để mời bạn. Ngồi tâm sự một chặp, Tú nói: đi chơi tiếp.
Hai đứa dẫn xe ra, vợ Tú nói: Anh nhớ đưa bạn anh đi ăn phở hay gì nghe. Sao mà nghe tình nghĩa và đậm tình đồng môn, đồng hương của đôi bạn già sau nhiều năm xa cách.
Ra một đoạn đường, Tú dừng xe nói: Hôm nay tôi mời bạn đi ăn thứ gì bạn thích. Tú dẫn tôi đến một tiệm bánh xèo quá đông khách "Bánh xèo tôm nhảy". Một món ăn đặc biệt của Đà Nẵng.
Một bữa ăn đáng đồng tiền bát gạo. Đầy ắp tình nghĩa.
Chia tay, xin cảm ơn bạn hiền, xin cám ơn chị Tú cho tôi biết thế nào là tình ban thâm giao. Hẹn Tú lần tới ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế hay Quảng Trị quê hương yêu dấu của mình.

                                                                     Đà Nẵng 12/10/2018
                                                                               Võ Cẩm

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2018

TÔI MÊ SÁCH... - Hoàng Thắng


                                Tác giả Hoàng Thắng

     TÔI MÊ SÁCH...

Tôi là người mê sách, sách đẹp, sách bìa cứng, sách hay, sách dể chưng...và để đọc...nghiền ngẫm...
Tôi không biết mình mê sách từ hồi nào, nhưng trí nhớ ở vào tuổi gần đất xa trời thì những quyển sách đầu tiên tôi tiếp cận là sách của Tự Lực Văn Đoàn. Tôi nhớ nhà tôi ở số 8 Quang Trung, Quảng Trị. Đó là một căn nhà hộp như hộp diêm quẹt mà ba tôi, một "kiến trúc sư vườn" vẽ kiểu, ở trên mái phẳng xây có một cái am để thờ một cặp chị em bị mẹ ghẻ đánh chết trong xóm. Tôi sẽ kể chuyện này.

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018

NỖI ĐAU - Cao Huy Thuần


         
                              Học giả Cao Huy Thuần


            NỖI ĐAU
                                             Cao Huy Thuần

         Anh Chu Hảo vừa bị "kỷ luật" của đảng mà anh là đảng viên. "Kỷ luật" ấy là việc nội bộ chăng? Dư luận đã trả lời: thực chất, đó là một bản án, không phải riêng gì đối với anh Chu Hảo mà đối với tất cả trí thức. Bởi vậy, ai tự thấy mình là trí thức đều cảm thấy có liên quan. Đã có những thư chung. Đã có những "kiến nghị" viết rất sắc sảo và trí thức. Tôi có thể nói thêm ở đây một nỗi đau tuy rằng ai cũng biết, cũng nói, cũng lo: nỗi đau lạc hậu về văn hóa.

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018

NGÀY 1 THÁNG 9 ĐẶC BIỆT... - Quang Tuyết


  
                             Tác giả Quang Tuyết


NGÀY 1 THÁNG 9 ĐẶC BIỆT:
MỘT LOÀI HOA NỞ ĐẸP VÀ NHỮNG CÁNH HOA VỠ MỘT CHIỀU THU XƯA...

Hôm nay là ngày đầu tiên của tháng 9. Mùng 1 tháng 9.
Ấy là một ngày có bao ý nghĩa đặc biệt đối với tôi, vừa chan hòa niềm vui, tràn ngập hoa bánh. Vừa thấm mặn nước mắt khóc tiễn người đi

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2018

VIẾT CHO "MỘT NGƯỜI NẰM XUỐNG" MÀ TÔI QUÝ MẾN - Võ Văn Cẩm


                
                           Tác giả Võ văn Cẩm


                VIẾT CHO "MỘT NGƯỜI NẰM XUỐNG" 
                MÀ TÔI QUÝ MẾN.
                                                                      Võ Văn Cẩm

Chiều rằm tháng bảy, tôi cùng Thái Tăng Hạnh viếng lễ Vu Lan ở chùa Vạn Đức. Võ thị Văn Thơ gọi điện thoại báo Võ Thị kim Thanh qua đời.
Tôi thấy tim mình đau nhói, thương cho thân phận của cô em gái dòng tộc mà từ lâu tôi thương mến và quý trọng.
Thanh cùng tuổi với tôi (1943, Quý Mùi, người ta nói con gái mà tuổi Quý Mùi thì quá tuyệt), quê làng Đâu Kênh xã Triệu long, huyện Triệu phong, tỉnh Quảng Trị. Nhưng Thanh ở với ông bà nội tại làng Bích la Thượng. Gia đình thuộc loại khá giả trong vùng.
Mẹ Thanh sinh được hai chị em thì ba tham gia kháng chiến bị mất tích, một thời gian thì mẹ tái giá.

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

20 GIỜ TRONG VÒNG TAY ẤM ÁP CỦA LA GI (tiếp theo) - Lương Minh

Nguồn:  
         
                                  Tác giả Lương Minh

     20 GIỜ TRONG VÒNG TAY ẤM ÁP CỦA LA GI 
                                      (Tiếp theo)

Sáng thức giấc, sau một đêm thù tạc, Phú Đoàn đưa Lương Minh đi ăn phở đối diện nhà. Lẽ ra Lương Minh thức sớm để đi thăm chợ và các thắng cảnh ở thị xã này, nhưng thấy bạn bèo nhèo qua đêm thức trắng (thức đến 2g sáng hôm sau) vì ông bạn Đình Xuân tửu lượng quá cao (hai người uống thêm một chai rượu đế ngâm trái chuối rừng), nên thôi. Ăn chưa xong, Phú Đoàn đã gọi nhà thơ Lương Bút, Ái Liên, Trương Thị Sáng (những nhà thơ nữ này không có mặt trong tiệc nhậu chiều qua)… mời đến quán cà phê Huyền Thoại để gặp mặt.

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2018

20 GIỜ TRONG VÒNG TAY ẤM ÁP CỦA LA GI - Lương Minh

Nguồn:

     
                             Tác giả Lương Minh


20 GIỜ TRONG VÒNG TAY ẤM ÁP CỦA LA GI

Quen với Phú Đoàn (nhà thơ La Thụy) tại một buổi liên hoan do Vũ đình Ninh chiêu đãi tại Sài Gòn, anh ngỏ ý mời anh em Vĩnh Long hôm nào đi ra La Gi chơi. Lương Minh có chuyến đi Mũi Né cùng bè bạn ba ngày, chuyến về nhớ lời Phú Đoàn nên a lô thông báo là mình sẽ tới quê anh vào trưa ngày 5 tháng 8.
Một giờ trưa, chuyến xe du lịch thả mình xuống ngã ba 46, chỗ rẽ đường vào thị xã La Gi, liền lúc đó một anh giống như chạy xe Honda ôm đến lý nhí hỏi chi đó mình nghe không rõ, nên lắc đầu, chừng nghe được anh ta hỏi có phải anh là bạn của Phú không? Chợt hiểu ra, mình gật đầu. Thì ra Phú Đoàn đã nhờ anh bạn này ra ngã ba đón mình, vì từ ngã ba 46 vào trung tâm thị xã đoạn đường khoảng hai mươi lăm cây số.

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

LÀNG TÔI - Bút ký của Nguyễn Quang Khiêm


     
            Tác giả Nguyễn Quang Khiêm


             LÀNG TÔI
         
Nằm về phía đông nam cách thị xã Quảng Trị 5Km bên dòng sông Vĩnh Định: Là ngôi làng Ngô Xá thuộc xã Triệu Trung huyện Triệu Phong

SƠ LƯỢC VÀI NÉT TIỂU SỬ LÀNG

Sau đám cưới lịch sử của Huyền Trân Công Chúa với vua Chiêm Thành là Chế Mân năm Bính Ngọ (1306) dãi đất 2 huyện Triệu Phong và Hãi Lăng đã trở về Việt Nam, trong đó có miền đất làng Ngô Xá, mặc dầu đã thuộc bản đồ Việt Nam mấy trăm năm nhưng vùng đất này vẫn còn là vùng đất rộng, người thưa. Làng được hình thành vào cuối thế kỷ XV khi Mạc Đăng Dung tiếm quyền vua Lê - các ngài ở làng Hoa Duệ thuộc Hoan Châu ( Nghệ Tĩnh ngày nay) phụng mệnh vua Lê Cung Hoàng vào Thuận Hóa – Tân Bình đánh dẹp Chiêm Thành, chiêu mộ lưu dân, khai khẩn ruộng hoang, thành lập Tổng xã ( theo di cảo của làng) năm 1537 đời vua Lê Thánh Tôn Niên hiệu Hồng Đức các ngài Thủy Tổ làng, theo tiến trình đi mở đất, thiết lập thôn trang xưa có tên là làng Ngu Xá ( Ngu: quần tụ; Xá: xã hay có nghĩa làng lớn, làng đại xã ). Năm 1670 đời vua Lê Huyền Tông ( niên hiệu Cảnh Trị ) kiến tu Châu bộ tên làng được đổi là Phước Xá . Năm 1811 (đời vua Gia Long năm thứ 10) Toản tu địa bộ toàn công (tu chỉnh lại sổ bộ địa chính ) do chữ Phước trùng tên với dòng họ vua Triều Nguyễn( theo luật của Triều đình gọi là phạm húy) nên được đổi lại là Ngô Xá

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016

CÂU CHUYỆN VỀ BÚT DANH CỦA NHÓM THƠ XỨ NẪU - Ký của Lâm Bích Thủy


Cô Lâm Bích Thủy - ái nữ của nhà thơ tiền chiến Yến Lan vừa gửi đến chúng tôi bài ký về bút danh của nhóm thơ tiền chiến Bàn Thành Tứ Hữu vang bóng một thời. Thân mời quý bạn đọc cùng xem:

                                                                         
                
                    Nhà thơ Yến Lan lúc còn trẻ

   CÂU CHUYỆN VỀ BÚT DANH CỦA NHÓM THƠ XỨ NẪU 
                                                                       Lâm Bích Thủy                     

Bút danh Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí. Khi mới vào làng thơ, ông lấy bút danh Minh Duệ Thị. Bút danh này ít ai biết, ông đổi là Phong Trần. Nhìn vóc hạc thư sinh của ông, bác Tấn chọc vui “anh người mảnh mai như cây sậy, làm sao chịu được Phong Trần mà ước? ” và cũng bị một bà cụ thâm nho ở Bình Định nói tên này không phù hợp với tính cách Hàn nên đã khuyên đổi bút danh. Ông Trí bèn lấy chữ đầu của nơi sinh “Lệ Mỹ” và chữ đầu của quê cha “Thanh Tân” ghép lại thành “Lệ Thanh”. Bút danh này ông rất vừa ý, nhưng bác Quách Tấn lại trêu. “Bộ anh ngó dễ thương mà hiệu Lệ Thanh nghe cũng “yểu điệu thục nữ”, vậy tôi gọi anh là cô Lệ Thanh cho thêm duyên”. Ông Trí chẳng nói gì, ít lâu sau thấy người ta thấy tên Hàn Mạc Tử xuất hiện trên các báo. 
   Hàn Mạc có nghĩa là ”rèm lạnh”, ông cho là độc đáo, đến khoe với bác Quách Tấn.. Bác Tấn cười mà rằng “Kể cũng ngộ thật. Tránh kiếp PhongTrần lại đi làm khách hồng nhan. Sợ kiếp hồng nhan đa truân lại đi làm kiếp Rèm Lạnh. Tránh lờ chui vào lưới, sao lẩn quẩn quá thế?” Ông Trí bực quá “Anh này thật đa sự, không biết đặt cái đếch gì cho vừa lòng anh”. Bác Tấn hướng cho ông lối ra “nếu đã có rèm mà thêm bóng trăng vào, hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng?”. Ông Trí bàn với bác Tấn một lúc, rồi lấy bút vạch thêm vành trăng non lên đầu chữ a ra chữ ă. 
  Chỉ thêm một cái dấu thôi mà nghĩa khác hẳn. Từ “Rèm lạnh” giờ thành “Bút mực.”  Sau đó, ông Trí thích chí nói: “Đã có bóng trăng rọi vào, thì từ nay danh tôi cũng như thơ tôi sẽ mỗi ngày mỗi thêm rạng ngời như bóng trăng”.     

Bút danh Chế Lan Viên

Tờ Văn Nghệ - Người văn. Số …. đề cập đến bút danh này .
PV: Nghe nói, bút hiệu của nhà thơ Chế Lan Viên xuất phát từ tình bạn với ông (Yến Lan)?
YL: Nói đúng hơn chữ “Lan Viên” là từ tên tôi và một bài thơ của tôi. Hoan làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi, đầu tiên lấy bút danh từ những địa danh ngoài quê hương Quảng Trị như: Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai. Khoảng 1934, tôi xa nhà xuống Qui Nhơn học. Đêm trước ngày ra đi, thấy trời đã tối mà cha tôi vẫn thắp đèn dầu tưới lan, tôi xúc động làm bài thơ

            Rồi đây mỗi ngã một thân đơn
            Con ngọn đèn xanh, cha mảnh vườn
            Đêm lụi đèn tàn ai gạt bấc
            Vườn lan ai ấy tưới thay con

Nghe tôi đọc hết bài thơ, Hoan xúc động rơm rớm nước mắt. Sau vài giây im lặng, Hoan chậm rải nói “Mình muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm bài thơ và tình bạn của chúng ta”. Và Hoan đã thực hiện lời nói ấy; các bài thơ đăng trên “Tiếng trẻ”  sau này Hoan đều lấy bút danh là “Lan Viên”.

Đến năm 1936 Hàn Mạc Tử có bài thơ “Thi sĩ Chàm” tặng Hoan, ghi mấy chữ là “Tặng Chế Bồng Hoan”. Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm nhân lúc đến thăm bạn, ở bên bờ đầm Thị Nại, nơi Hoan đang trọ học. Xem thấy dòng đề tặng ở trang sách, bèn góp ý với Hoan “Hoan nên ghép hai tên lại làm kỷ niệm”.

Lúc ấy, bản thảo tập “Điêu tàn” vừa xong, Hoan lấy bút danh “Chế Lan Viên” và gửi cho Nguyễn Xuân Sanh, nhờ in ở Hà Nội. Từ đó trên thi đàn văn học Việt Nam người ta thấy bút hiệu – Chế Lan Viên.

Bút danh Yến Lan                                                          

Trong làng văn, ai cũng tìm cho mình một bút danh mang ý nghĩa khó quên; người thì lấy tên làng, tên dòng sông quê hoặc một kỷ niệm nào đó trong đời. Chắc chắn chỉ có ba tôi, người duy nhất lấy tên hai thiếu nữ yêu mình làm bút danh:

Thầy Lang tên thật là Lâm Thanh Lang. (Lan có g) Thầy và 12 học trò quây quần bên nhau, trong một gian nhà mái ngói âm dương, đối diện với cây me cổ thụ. Trước khi làm thầy, chàng đã nổi tiếng là người hay thơ, đẹp trai. Các nữ sinh thường đọc thơ và chuyện ngắn của chàng trên các tạp chí với bút hiệu Xuân Khai.

Riêng bút danh Xuân Khai, bác Quách Tấn có thắc mắc:
“…hiệu Xuân Khai có người bảo rằng do câu thơ cổ “ xuân khai hoa bản địa” mà ra. Tôi nghĩ tên chú là Lâm Thanh Lang, chữ lang có nghĩa “chàng” hoặc “cây cau” chứ có phải “Lan” là hoa lan đâu mà dùng “trích cú“ như vây?”    

Tài thơ và cách ăn nói nhỏ nhẹ, có duyên của chàng làm xiêu lòng nhiều thiếu nữ. Dáng người phong độ, gương mặt ưa nhìn, ánh mắt trong sáng, tất cả toát lên vẻ thông thái làm các thiếu nữ ở huyện đêm nhớ, ngày mong…
 Họ đến lớp học cốt chỉ để bàn về thi sĩ hay thơ, đẹp trai hơn là thu lượm kiến thức.
 Trong giờ học, thầy đang bình giảng về thơ, đôi khi học sinh bỗng thấy thầy khựng lại và ánh mắt nhìn ai đó; học sinh nam theo hướng mắt thầy thì phát hiện ra nơi đó là chỗ ngồi của một thiếu nữ tình tứ liếc thầy, khiến thầy bối rối ngập ngừng...
 Tôi không biết ông già tôi đẹp trai cỡ nào mà má tôi cũng hay nói tới điều này. Còn anh Quách Giao, con bác Q,Tấn đã nói với tôi: “Ba em hồi trẻ đẹp trai lắm đó, thiếu nữ nào thấy cũng mê chứ không phải mình má em đâu”

Lớp học của thầy, có hai thiếu nữ khá dễ thương; họ cùng tầm tuổi và vóc dáng. Cô tên Yến, cô tên Lan. Hai cô thương nhau như chị em ruột, đi đâu cũng có nhau. Cả hai đều thương thầm nhớ trộm; mê thơ và giọng đọc của thầy Lan lắm. Một hôm, không biết là vô tình hay cố ý, hai cô nói rõ to như để thầy nghe được “Tao với mày chơi thân nhau như vầy, sau này có lấy chồng, chỉ lấy chung một chàng đẹp trai làm chồng để chúng mình khỏi xa nhau” . Nghe lõm trọn câu nói của hai nữ sinh, thầy Lang tủm tỉm cười ý nhị! Ít lâu sau, cô Yến theo gia đình chuyển vào Nha Trang. Tình bạn của họ bị chia xa. Cô Lan vẫn đều đặn một mình đến lớp thầy Lang học.

Không lấy được chàng thi sĩ, cô Lan nhất quyết đi tu. Cô vào tu tại chùa Sư Nữ ở Phan Thiết. Cả nhà tỏa khắp nơi tìm, nhưng bóng dáng cô như biến khỏi mặt đất? May có bà chị họ đi lễ Phật, gặp, lén báo tin về gia đình. Chàng thi sĩ họ Lâm khăn gói theo anh trai cô, vào tận chùa đón về. Và bài thơ “Phan Thiết”có 18 câu đã ra đời. Xin trích:

           Ôi Phan Thiết, sông Cầu, Lăng Cô, Đà Nẵng
           Đến một lần chỉ để nhớ mãi không khuây
           Đêm lạnh, tóc mai dầm hướng gió
           Nặng tình xanh trăn trở giữa chăn đơn
           Tôi thức uống bầu sao từng hớp nhỏ
           Gạn vô lòng chất biếc mỗi tình thương ….
                                                Tháng 4/1944

Sau bước ngoặc này, cô Lan và thầy Lang gắn bó hơn. Mặc mẹ kế ngăn cản “ Lấy con Lan là lấy gái nạ dòng”; mặc cha cô Lan cấm đón. Hai người vẫn lén rủ nhau xuống bãi biển Qui Nhơn, ra Đập Đá trên những chuyến xe ngựa rất lãng mạng.
Cha cô thấy họ quá quyết tình, đành chấp nhận để con gái cưng lấy chàng thi sĩ mà không màng đến nữa việc có môn đăng hộ đối hay không!
Cô Yến ở Nha Trang nghe tin, gửi thư ra động viên, vun đắp cho hai người nên duyên vợ chồng và tế nhị rút lui lời thề lấy chung chồng năm xửa năm xưa nữa!
 Tội nghiệp, trong lần đi tản cư, chiếc thuyền chở gia đình cô Yến bị lật làm chết hết! Biết tin, chàng thi sĩ Xuân Khai, nhớ lời thề ngây thơ của đôi bạn, và để kỷ niệm tình bạn của họ, ông thay bút danh Xuân Khai thành Yến Lan

Trong cuốn “Phong trào thơ mới 1932-1945” giáo sư Phan Cự Đệ cho rằng, nhóm thơ có cả Bích Khê và Hoàng Diệp. Ông vẫn giữ ý kiến của mình khi tái bản. Điều này, không đúng. Bác Quách Tấn khẳng định “Tứ linh chỉ có 4 người: Hàn, Yến, Quách, Chế. Mỗi người mang tên một linh vật. Theo bác, người đầu tiên dùng bút hiệu của nhóm Tứ linh trong thi đàn là Hoài Thanh.

                                                                            Lâm Bích Thủy